https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/issue/feedTạp chí Nghiên cứu Y học2025-12-31T02:18:02+00:00Open Journal Systemshttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4462Sảy, lưu thai liên tiếp: Vai trò của xét nghiệm giải trình tự đa gen trong sàng lọc và tư vấn di truyền2025-11-06T06:50:35+00:00Trần Diệu Dưdutd@afhanoi.comĐinh Hữu Việtvietdh@afhanoi.comNguyễn Văn Huynhhuynhnv@gentis.com.vnPhạm Đình Minhphamminh@gentis.com.vnNguyễn Thị Huyền Trangtrangnth.nckh@afhanoi.comBùi Thị Phương Hoahoabtp@afhanoi.com<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu khảo sát phổ biến thể di truyền phát hiện được bằng FertiScan™ ở phụ nữ có tiền sử lưu sẩy thai liên tiếp. Nghiên cứu loạt ca bệnh trên 20 bệnh nhân vô sinh có tiền sử sảy lưu thai liên tiếp (Recurrent pregnancy loss - RPL) tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội từ tháng 5 đến tháng 8/2023. Nghiên cứu sử dụng bộ kit FertiScan™ Global Female Infertility Panel (70 gen) dựa trên công nghệ giải trình tự thế hệ mới (NGS) để khảo sát đồng thời các vùng mã hóa và vị trí cắt nối của các gen nghiên cứu. Kết quả cho trong số 20 bệnh nhân, có 12 ca (60%) mang ≥ 1 biến thể liên quan sinh sản, trong đó 4 trường hợp mang biến thể gây bệnh hoặc có khả năng gây bệnh (P/LP), chủ yếu ở trạng thái dị hợp tử của các bệnh lý di truyền lặn. Tỷ lệ biến thể chưa xác định ý nghĩa lâm sàng (VUS) chiếm tỷ lệ đáng kể. Một số biến thể được ghi nhận ở các gen có vai trò sinh học rõ ràng như CEP250, TACR3, NOBOX, ZP1… Xét nghiệm đa gen như FertiScan™ giúp tăng khả năng phát hiện nguyên nhân tiềm ẩn ở nhóm RPL không rõ nguyên nhân, đặc biệt khi tích hợp vào quy trình tư vấn trước sau xét nghiệm và theo dõi dài hạn. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4158Lupus ban đỏ hệ thống ở nam giới: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại trung tâm dị ứng miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai2025-09-25T01:36:18+00:00Nguyễn Hoàng Phươngnhphuong8188@hmu.edu.vnNguyễn Ngọc Anhngocanhbg3636@gmail.comCao Thị Trinhtrinhcao0510@gmail.comTrần Thị Mùitranthimui@hmu.edu.vnNguyễn Thị Mai Hươngnguyenmaihuong@hmu.edu.vnChu Chí Hiếuchuchihieu16@gmail.comLê Đình TùngTung@hmu.edu.vnBùi Văn Dânbuivandan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là một bệnh lý tự miễn mạn tính, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, thường gặp ở nữ. Trong khi đó, SLE ở nam chưa được quan tâm đúng mức do tỷ lệ mắc bệnh ít hơn nhiều so với nữ. Tại Việt Nam, rất ít các báo cáo riêng biệt SLE ở nam giới. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Trung tâm Dị ứng Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai ở 55 nam giới được chẩn đoán SLE. Kết quả cho thấy nam có tuổi trung bình hiện mắc cao hơn so với nữ giới. Tỷ lệ viêm thanh mạc và giảm tiểu cầu cao hơn ở nam, trong khi nữ thường gặp ban da và viêm khớp. Viêm thận lupus gặp ở 50,9% và có liên quan đến người trẻ, hoạt tính bệnh cao, eGFR thấp và giảm C3. Các tự kháng thể đặc hiệu không có sự khác biệt giữa nhóm có hoặc không tổn thương thận. Dữ liệu của nghiên cứu giúp định hướng chiến lược chẩn đoán, theo dõi và điều trị phù hợp hơn đối với lupus nam giới tại Việt Nam.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4372Một số tự kháng thể ngoài tiêu chuẩn phân loại EULAR/ACR 2019 ở người bệnh lần đầu được chẩn đoán Lupus ban đỏ hệ thống2025-10-30T04:37:20+00:00Nguyễn Hoàng Phươngnhphuong8188@hmu.edu.vnNguyễn Thuý Nganganguyencp1608@gmail.comLê Văn Hiệplevanhiep@hmu.edu.vnNguyễn Ngọc Hảinguyenngochai@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thu Hàthuha_dhy@hmu.edu.vnLê Đình Tùngtung@hmu.edu.vnBùi Văn Dânbuivandan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là bệnh tự miễn mạn tính đặc trưng bởi sự sản xuất nhiều loại tự kháng thể gây tổn thương đa cơ quan. Ngoài các tự kháng thể trong tiêu chuẩn phân loại EULAR/ACR 2019, các kháng thể như SSA, SSB, C1q, cANCA và pANCA có thể giúp ích trong chẩn đoán phân biệt hoặc bệnh lý tự miễn đồng mắc và tiên lượng bệnh, song còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 58 trường hợp SLE mới chẩn đoán (8/2024 – 8/2025) cho thấy tuổi trung bình 33 ± 16, nữ giới chiếm 89,7%. Các biểu hiện lâm sàng thường gặp là tổn thương huyết học (82,8%), da–niêm mạc và thận (48,3%). Các tự kháng thể ngoài tiêu chuẩn phân loại có tỷ lệ lưu hành cao: SSA (69%), C1q (62,5%), cANCA (34%), pANCA (16,7%) và SSB (11,6%). Kháng thể SSB và C1q dương tính liên quan có ý nghĩa với tổn thương thận. ANCA dương tính cũng liên quan với sự giảm Hb và bổ thể. Các tự kháng thể ngoài tiêu chuẩn phân loại EULAR/ACR 2019 xuất hiện với tần suất đáng kể, liên quan đến một số tổn thương cơ quan đặc trưng trong SLE như thận và huyết học. Việc bổ sung các dấu ấn này có thể giúp hoàn thiện đánh giá kiểu hình và nâng cao khả năng phân tầng nguy cơ ở người bệnh SLE.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4079Khảo sát mật độ xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường típ 22025-09-18T09:55:07+00:00Cao Đình Hưnghungcd@pnt.edu.vnTrương Quốc Dũngtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Loãng xương là biến chứng thường gặp ở phụ nữ mãn kinh mắc đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2. Tuy nhiên, dữ liệu trong nước về mật độ xương (MĐX) và các yếu tố liên quan ở nhóm đối tượng này còn hạn chế. Nghiên cứu trên 111 phụ nữ mãn kinh mắc ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 01/2024 đến tháng 10/2024 cho thấy tuổi mãn kinh trung vị 50 và thời gian mãn kinh trung bình 17,6 năm. BMI trung bình 23,7 ± 3,2 kg/m², trong đó 29,7% béo phì và 64% có béo phì trung tâm. Mật độ khoáng xương trung vị tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi lần lượt là 0,814 g/cm² và 0,599 g/cm². Tỷ lệ loãng xương chiếm 39,6% tại cột sống thắt lưng, 45% tại cổ xương đùi và 61,3% ở ít nhất một vị trí. Phân tích yếu đa biến không ghi nhận tuổi có liên quan rõ rệt với giảm mật độ xương cổ đùi (p = 0,030). Kết quả này cho thấy loãng xương là biến chứng phổ biến ở phụ nữ mãn kinh mắc ĐTĐ típ 2, đặc biệt tại cổ xương đùi.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4261Các yếu tố dự đoán chưa đạt mục tiêu LDL-C ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 béo phì có nguy cơ tim mạch rất cao2025-10-17T09:03:42+00:00Cao Đình Hưnghungcd@pnt.edu.vnBùi Minh Tríbuiminhtri1995001@gmail.comTrần Phúc Lộctranphucloc171@gmail.comNguyễn Thị Thu Thảothaopnc@yahoo.com.vnMa Ryleemary831994@gmail.comNguyễn Quang MinhViktortriplet@gmail.com<p class="p1"><em>Đái tháo đường típ 2 là bệnh lý chuyển hóa làm gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch xơ vữa, đặc biệt ở bệnh nhân có béo phì. Kiểm soát nồng độ lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) là mục tiêu trọng tâm trong quản lý điều trị để giảm nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên, dữ liệu trong nước về các yếu tố ảnh hưởng việc đạt mục tiêu điều trị LDL-C ở đối tượng này còn hạn chế. Nghiên cứu cắt ngang trên 138 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có béo phì được điều trị statin tối thiểu 3 tháng tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 04/2024 đến tháng 10/2024 cho thấy có 120 trường hợp (86,9%) không đạt mục tiêu LDL-C, trong đó có 89,7% đi kèm tình trạng béo phì trung tâm. Phân tích cho thấy béo phì trung tâm là yếu tố dự đoán nguy cơ không đạt mục tiêu LDL-C (tỷ số chênh [OR] = 3,782; khoảng tin cậy [KTC] 95%: 1,123 - 12,740; trong khi tuân thủ điều trị cao theo Morisky-8 làm giảm đáng kể nguy cơ này (OR = 0,196; KTC 95%: 0,041 - 0,944). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò kiểm soát tình trạng béo phì trung tâm và xây dựng chiến lược tăng cường tuân thủ điều trị trong cải thiện quản lý LDL-C ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 béo phì.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4166Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ tại Gia Lai2025-10-06T04:19:50+00:00Dương Hải Yếnhaiyen2020@gmail.comHoàng Lan Vânhoanglvan@gmail.comLê Minh Thilmt@huph.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối (ESRD) điều trị lọc máu chu kỳ và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Gia Lai năm 2025. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được áp dụng trên 193 người bệnh ≥ 18 tuổi, có thời gian lọc máu ít nhất 3 tháng. Công cụ KDQOL-36™ được sử dụng để đo lường CLCS, số liệu được xử lý bằng SPSS 26, phân tích hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy điểm CLCS chung đạt 36,4 ± 9,5. Trong các lĩnh vực, sức khỏe thể chất (16,1 ± 13,9) và sức khỏe tinh thần (15,5 ± 8,5) có điểm thấp nhất. Ngược lại, lĩnh vực triệu chứng và các vấn đề liên quan đến bệnh thận đạt điểm cao nhất (59,3 ± 15,8). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy: tuổi cao, trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp không ổn định, thiếu BHYT và thiếu hỗ trợ từ gia đình là những yếu tố liên quan độc lập đến CLCS, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Nhìn chung, CLCS của người bệnh ESRD tại Gia Lai ở mức trung bình–thấp, thể hiện qua điểm trung bình CLCS chung 36,4 ± 9,5 (trên thang điểm 0–100, điểm càng cao thì CLCS càng tốt) cho thấy cần có các giải pháp y tế và xã hội toàn diện nhằm cải thiện chất lượng sống cho nhóm bệnh nhân này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4232Yếu tố nguy cơ đến sự hình thành khuyết sẹo mổ lấy thai: một nghiên cứu theo dõi dọc2025-10-25T08:01:51+00:00Dương Thị Trà Giangdttgnts41@gmail.comNguyễn Thị Thu Hàdr.hanguyen.nhog@gmail.comĐỗ Tuấn Đạtdr.dodat@gmail.comPhan Thị Huyền Thươngphanhuyenthuong@gmail.comTrần Anh Đứcdr.anhduc.hmu@gmail.comNguyễn Khắc Toànngkhactoan@gmail.comNguyễn Duy Ánhnguyenduyanh.nhog@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc trên 381 phụ nữ mổ lấy thai (MLT) lần đầu nhằm xác định các yếu tố nguy cơ hình thành khuyết sẹo mổ lấy thai (KSMLT) tại thời điểm 12 tháng sau sinh. Tỷ lệ KSMLT là 35% và KSMLT lớn với bề dày cơ tử cung còn lại < 3mm là 15,2%. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy cổ tử cung mở ≥ 6cm tại thời điểm MLT là yếu tố độc lập, làm tăng nguy cơ xuất hiện KSMLT 6,8 lần (95%CI: 3,91 - 11,9, p = 0,00). Kỹ thuật khâu cơ tử cung một lớp làm tăng nguy cơ KSMLT lớn với bề dày cơ tử cung còn lại < 3mm gấp 1,8 lần so với khâu hai lớp (95% CI: 1,1 - 3,3, p = 0,04). Các yếu tố nhân khẩu học và sản khoa khác không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa. Nghiên cứu khẳng định vai trò của giai đoạn chuyển dạ và kỹ thuật khâu cơ tử cung trong sự hình thành KSMLT. Việc tối ưu hóa chỉ định và phương pháp phẫu thuật nhằm hạn chế biến chứng lâu dài của mổ lấy thai là cần thiết.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4151Điều trị ngoại khoa áp xe não tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn - Hà Nội2025-09-25T01:34:06+00:00Dương Trung Kiênduongtkien@gmail.comNguyễn Mạnh Hùngmd.manhhung87@gmail.comNguyễn Việt Đứcvducpro@gmail.comVũ Ngọc Anhdrvungocanhkyd@gmail.comĐinh Trung Thànhthanhdr@gmail.com<p class="p1"><em>Điều trị ngoại khoa áp xe não giúp loại bỏ khối choán chỗ nội sọ, đồng thời cho phép định danh vi khuẩn gây bệnh. Từ tháng 1/2015 đến tháng 1/2025, chúng tôi điều trị 27 trường hợp áp xe não. Số người bệnh trên 60 tuổi chiếm 48,1%. Triệu chứng đau đầu, liệt nửa người và động kinh lần lượt là 77,7% - 51,8% và 29,6%. Vị trí ổ áp xe nằm trên lều chiếm 88,9%, đa ổ áp xe chiếm 25,9%, ổ áp xe có đường kính trên 2cm là 81,5%. 77,8% bệnh nhân được phẫu thuật bóc ổ áp xe. Vi khuẩn gây bệnh Staphylococcus aureus gặp ở 25,9% các trường hợp, 10/27 trường hợp không định danh được vi khuẩn. Có 1 trường hợp tử vong trong 27 trường hợp nghiên cứu, số người bệnh có kết quả điều trị tốt (GOS IV-V) tại thời điểm ra viện và sau 3 tháng lần lượt là 81,4% - 85,2%. Điều trị ngoại khoa cho kết quả khả quan trong điều trị áp xe não. Với những trường hợp tổn thương nằm sâu trong nhu mô, sử dụng siêu âm trong mổ là một lựa chọn khả thi. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4355Một số yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng do tắc tuần hoàn não trước được can thiệp lấy huyết khối trong 6 giờ đầu2025-11-20T07:35:08+00:00Bùi Văn Quíbuiquib@gmail.comĐào Việt Phươngdaovietphuong85@gmail.com<p class="p1"><span class="s1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhồi máu não diện rộng do tắc tuần hoàn não trước được can thiệp lấy huyết khối trong 6 giờ đầu. Nghiên cứu quan sát hồi cứu được thực hiện tại trung tâm Đột quỵ từ tháng 5/2024 đến tháng 5/2025. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh học được thu thập và phân tích. Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan tử vong. Kết quả nghiên cứu thực hiện trên 66 bệnh nhân chỉ ra tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 65; nam giới chiếm 62,1%; điểm NIHSS trung vị, tứ phân vị lúc nhập viện là 12 IQR 10 -16; Tỷ lệ can thiệp tái thông thành công và chảy máu chuyển dạng có triệu chứng lần lượt là 72,7% và 24,2%. Tỷ lệ tử vong tại ngày thứ 90 là 31,3%. Phân tích đơn biến và đa biến cho thấy tái tắc mạch sau can thiệp 24 giờ (OR = 12,273; 95% CI: 2,321 - 64,904) và cải thiện điểm NIHSS > 4 điểm (OR = 0,208; 95% CI: 0,045 - 0,960) là yếu tố liên quan đến kết cục tử vong.</em></span></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4300Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trước ghép gan của trẻ teo mật bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương2025-11-03T07:24:19+00:00Đặng Ánh Dươngdanganhduong74@gmail.comVũ Thị Thanhvuthanhnhp@gmail.com<p class="p1"><em>Teo mật bẩm sinh là bệnh lý hiếm gặp của đường mật nhưng là nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan và bệnh gan giai đoạn cuối ở trẻ em. Ghép gan là phương pháp điều trị triệt để duy nhất khi phẫu thuật Kasai thất bại hoặc bệnh tiến triển nặng. Đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng trước ghép giúp nhận diện nguy cơ, tối ưu chuẩn bị, cải thiện chăm sóc và nâng cao hiệu quả điều trị. Nghiên cứu trên 39 bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, từ 01/2019 đến 06/2024, nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước ghép, kết quả cho thấy 87,2% trẻ vàng da, 89,7% lách to, 69,2% tuần hoàn bàng hệ, 35,9% phân bạc màu và 25,6% có cổ trướng. 92,3% giảm hemoglobin; 89,7% giảm tiểu cầu; bilirubin toàn phần trung bình 334,5 µmol/L; men gan tăng cao. Hình ảnh CT cho thấy lách to, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, xơ gan mất bù. Phần lớn bệnh nhi ở giai đoạn suy gan mạn tính, cần đánh giá toàn diện trước ghép trong tối ưu hóa chuẩn bị và cải thiện tiên lượng điều trị.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4302Kết quả hồi sức sau ghép gan ở trẻ teo mật bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương2025-11-03T07:24:35+00:00Đặng Ánh Dươngdanganhduong74@gmail.comVũ Thị Thanhvuthanhnhp@gmail.com<p class="p1"><em>Ghép gan là phương pháp điều trị duy nhất giúp phục hồi chức năng gan và kéo dài sự sống cho trẻ teo mật bẩm sinh giai đoạn cuối. Giai đoạn hồi sức sau mổ có vai trò quyết định trong duy trì hoạt động mảnh ghép, kiểm soát biến chứng và ổn định toàn trạng. Nghiên cứu trên 39 bệnh nhi được ghép gan tại Bệnh viện Nhi Trung ương (01/2019 - 06/2024) nhằm mô tả kết quả điều trị giai đoạn hồi sức cho thấy thời gian thở máy trung bình 24,7 ± 17,1 giờ. Có 35,9% trẻ không gặp biến chứng ngoại khoa; 35,9% chảy máu sau mổ. Trên 50% có tràn dịch màng phổi, 117,9% nhiễm trùng ổ bụng và 12,8% dò dưỡng chấp. Men gan và bilirubin tăng trong 1 - 2 ngày đầu, sau đó giảm dần và gần trở về bình thường khi ra viện. Các chỉ số huyết học, đông máu, albumin và chức năng thận hồi phục ổn định. Cần tăng cường theo dõi biến chứng, chuẩn hóa quy trình hồi sức và phối hợp đa chuyên khoa nhằm phát hiện sớm, xử trí kịp thời, tối ưu hiệu quả và tiên lượng sau ghép gan.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4167Tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan trên người bệnh dị ứng cơ địa tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 20252025-09-22T07:28:53+00:00Mai Bảo Thoamaithoa260794@gmail.comNguyễn Văn Đĩnhdrdinh.allergist@gmail.comBùi Văn Thắngthang126@gmail.comLâm Thanh Hoàngv.hoanglt@vinmec.comĐăng Thị Loanloandt@thanglong.edu.vn<p class="p1"><em>Tuân thủ điều trị ở người bệnh dị ứng cơ địa có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát triệu chứng, biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Tại Việt Nam còn hạn chế các nghiên cứu về vấn đề tuân thủ điều trị ở nhóm người bệnh mạn tính này. Nghiên cứu nhằm mô tả mức độ tuân thủ điều trị và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở người bệnh mắc bệnh dị ứng cơ địa tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vimec Times City. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 225 người bệnh dị ứng cơ địa điều trị tại Bệnh viện từ tháng 01/2025 - 06/2025. Đánh giá tuân thủ điều trị bằng thang đo General Medication Adherence Scale (GMAS). Nghiên cứu cho thấy 92% người bệnh tuân thủ điều trị với GMAS ≥ 27 điểm. Thời gian mắc bệnh và loại bệnh dị ứng cơ địa có liên quan đến tuân thủ điều trị, với p < 0,05. Mặc dù tỷ lệ tuân thủ điều trị ở nhóm người bệnh dị ứng cơ địa trong nghiên cứu của chúng tôi là cao (92%), tuy nhiên vẫn cần có những biện pháp can thiệp phù hợp giúp duy trì và nâng cao hơn nữa sự tuân thủ điều trị của nhóm người bệnh này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4458Đặc điểm và các yếu tố liên quan đến rối loạn giấc ngủ ở trẻ mắc động kinh2025-11-10T02:52:42+00:00Phạm Hồng NhungBacsynhungxanhpon@gmail.comNguyễn Thị Phương Mainguyenthiphuongmai@hmu.edu.vnĐỗ Phương Thảodophuongthao@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Rối loạn giấc ngủ (RLGN) là một vấn đề phổ biến nhưng thường bị bỏ sót trong quá trình chẩn đoán và điều trị động kinh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 trẻ từ 4 - 12 tuổi được chẩn đoán và điều trị động kinh tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (7/2024 - 6/2025), nhằm mục tiêu khảo sát tỷ lệ RLGN, đặc điểm và xác định các yếu tố liên quan đến RLGN ở nhóm trẻ này bằng bộ câu hỏi về thói quen ngủ ở trẻ em (CSHQ). Kết quả cho thấy 60,2% trẻ động kinh có RLGN (CSHQ ≥ 41), trong đó chống đối giờ đi ngủ (56,1%) và khó vào giấc (55,1%) là phổ biến nhất. RLGN có liên quan với tuổi khởi phát động kinh ≤ 3 tuổi, chậm phát triển, rối loạn phát triển thần kinh, dùng ≥ 2 thuốc kháng động kinh, bất thường điển hình trên điện não đồ và động kinh kháng trịPhân tích hồi quy đa biến xác định bất thường trên điện não đồ và động kinh kháng trịlà hai yếu tố độc lập liên quan đến RLGN.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4470Đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và hình ảnh cộng hưởng từ sọ não ở trẻ động kinh cục bộ kháng thuốc tại Bệnh viện Nhi Trung ương2025-11-13T02:20:05+00:00Lê Thị Thuỳ Dunglethithuydung1997bn@gmail.comCao Vũ Hùnghungcv@nch.gov.vnNguyễn Thị Phương Mainguyenthiphuongmai@hmu.edu.vnĐỗ Phương Thảodophuongthao@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, điện não đồ và hình ảnh cộng hưởng từ sọ não ở 123 trẻ mắc động kinh cục bộ kháng thuốc tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ 07/2024 - 06/2025. Kết quả cho thấy phần lớn trẻ khởi phát động kinh trước 3 tuổi, có tần suất cơn ≥ 1 cơn/ngày và biểu hiện suy giảm ý thức trong cơn. Điện não đồ ghi nhận bất thường ở 90,2%, chủ yếu là sóng kịch phát vùng trán và thái dương. Tỷ lệ bất thường trên cộng hưởng từ sọ não là 77,2%, trong đó loạn sản vỏ não khu trú là nguyên nhân thường gặp nhất. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với bất thường cộng hưởng từ sọ não gồm: tuổi khởi phát động kinh ≤ 3 tuổi, không có khả năng học tập và tần suất cơn ≥ 1 cơn/ngày. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4424Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm màng não do phế cầu ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương (6/2020 - 6/2025)2025-11-11T03:33:40+00:00Phạm Văn Châuvincent.phamluungocchau@gmail.comPhạm Văn Đếmphamdemhd@gmail.comNguyễn Văn LâmNguyenvanlam73@gmail.comĐỗ Thiện Hảithienhai.nhp@gmail.com<p class="p1"><em>Nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm màng não do phế cầu chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả hồi cứu 59 bệnh nhi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ nam chiếm ưu thế (67,8%). Các triệu chứng thường gặp sốt (100%), nôn/buồn nôn (69,5%), thóp phồng (trẻ < 18 tháng) (chiếm 85,7%) và cứng gáy (76,3%). Số lượng bạch cầu trung bình là 17,52 ± 11,16 G/L. Tỷ lệ thiếu máu rõ dưới 90g/L gặp ở 18,64%. CRP tăng trên 100 mg/L chiếm tỷ lệ cao với 84,75%. Dịch não tủy đục 72,88% bệnh nhân; số lượng tế bào trên 1000 BC/mm<sup>3</sup> chiếm 61,02%; chủ yếu là protein tăng trên 1g/L; 69,5% bệnh nhân có glucose giảm dưới 2,2 mmol/L. Hình ảnh MRI sọ não ghi nhận giãn não thất và tụ dịch dưới màng cứng chiếm tỷ lệ cao lần lượt là 44,64% và 32,14%; Kết quả điều trị: Tỷ lệ khỏi hoàn toàn chiếm 57,6%; 35,6% có di chứng sau điều trị và tử vong/xin về chiếm 6,8%.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4191Lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị u Lympho tế bào B lớn lan tỏa theo nguồn gốc tế bào2025-10-03T01:16:42+00:00Hà Văn Quanghaquangss@gmail.comTrần Thu Hiềntranthuhien5590@gmail.com<p class="p1"><em>Xác định mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị theo nguồn gốc tế bào ở bệnh nhân u lympho tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL). Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 142 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị DLBCL tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn 2019 - 2024. Thể GCB chiếm 35,2%, trong khi thể non-GCB chiếm 64,8%. Tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm GCB có ECOG ≥ 2 và R-IPI ≥ 3 thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với ở nhóm non-GCB (p = 0,012; p = 0,037). Triệu chứng nhóm B gặp nhiều hơn ở nhóm non-GCB so với nhóm GCB (p = 0,002). Nhóm non-GCB có tỷ lệ tăng nồng độ LDH và β2-microglobulin trong huyết thanh cao hơn so với nhóm GCB (p = 0,028; p = 0,027). Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn ở nhóm GCB đạt 78%, cao hơn rõ rệt so với 56,5% ở nhóm non-GCB (p = 0,036). Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể về tiên lượng, đặc điểm sinh học và đáp ứng điều trị theo thể bệnh ở bệnh nhân DLBCL.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4499Điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng tiêm nội khớp Acid Hyaluronic liên kết chéo với Mannitol2025-11-21T07:07:06+00:00Hoàng Hoài Thươngthuonghoang.tump@gmail.comLưu Thị Bìnhluubinh.ytn@gmail.comBùi Thị Quỳnh Nhungbuithiquynhnhung@tump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu can thiệp có nhóm chứng 72 bệnh nhân được chẩn đoán thoái hóa khớp gối nguyên phát, điều trị tại Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, từ tháng 10/2024 đến tháng 10/2025. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm chứng điều trị nội khoa, nhóm nghiên cứu điều trị nội khoa kết hợp tiêm nội khớp acid hyaluronic dạng liên kết chéo với mannitol. Đánh giá kết quả điều trị dựa trên thay đổi điểm đau VAS, chỉ số WOMAC và hình ảnh siêu âm khớp gối sau 1 và 6 tháng. Kết quả: Sau 6 tháng, nhóm nghiên cứu giảm có ý nghĩa thống kê điểm VAS (từ 5,72 ± 0,15 xuống 1,39 ± 0,46; p < 0,05), cải thiện rõ rệt các chỉ số WOMAC đau, cứng khớp và vận động. Sau can thiệp, 91,5% bệnh nhân không tràn dịch khớp trên siêu âm, tỷ lệ viêm màng hoạt dịch giảm có ý nghĩa (p < 0,05). Kết luận: Tiêm nội khớp HA liên kết chéo kết hợp mannitol mang lại kết quả điều trị tốt trong cải thiện triệu chứng đau và chức năng khớp.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4318Khả năng thu được tinh trùng từ tinh hoàn bằng Micro-Tese tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh2025-11-05T01:55:37+00:00Nguyễn Huy Hoànghoang11093.hmu@gmail.comPhạm Thị AnhPhamanhhmu@gmail.comLê Hoànglehoang2001@yahoo.comHồ Sỹ Hùnghohungsy@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 90 bệnh nhân vô tinh thực hiện vi phẫu thuật tinh hoàn tìm tinh trùng tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản - Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh từ 01/2022 đến 12/2024 nhằm xác định tỷ lệ thu được tinh trùng và một số yếu tố liên quan khả năng thu được tinh trùng. Kết quả: Tỷ lệ thu được tinh trùng là 46% (41/90 trường hợp). Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bao gồm: Tuổi, BMI, thời gian vô sinh, nồng độ Testosterone trong máu giữa 2 nhóm không thu được tinh trùng và thu được tinh trùng khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Khả năng thu được tinh trùng ở nhóm vô sinh thứ phát (84,6%) cao hơn đáng kể so với nhóm vô sinh nguyên phát (39%) với p = 0,002. Tỷ lệ thu được tinh trùng thay đổi rõ rệt theo từng nhóm nguyên nhân: thấp nhất ở nhóm bất thường nhiễm sắc thể là 10,5% và vi mất đoạn AZF là 15,4%. Nồng độ FSH trung vị trong máu ở nhóm không thu tinh trùng là 19,7 (IQR: 15,3 - 28,6) mIU/mL, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm thu được tinh trùng 31,8 (IQR: 23,5 - 44,0) mIU/mL (p < 0,000). Tương tự, LH ở nhóm không thu tinh trùng cũng thấp hơn (12,27 ± 1,01 so với 17,62 ± 1,57 mIU/mL, p = 0,004). Kết luận Micro-TESE giúp thu tinh trùng thành công ở gần một nửa bệnh nhân vô tinh. Loại vô sinh, nguyên nhân vô tinh, FSH và LH là những yếu tố liên quan đến khả năng thu được tinh trùng từ tinh hoàn bằng Micro-TESE trên nhóm nam giới vô tinh. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4192Mối liên quan giữa một số chỉ số siêu âm tim và đặc điểm sinh trắc học ở bệnh nhân tứ chứng Fallot2025-10-12T07:44:08+00:00Hồ Xuân Tuấnhxtuan@dhktyduocdn.edu.vnNguyễn Thị Thanh Tuyềnntttuyen@dhktyduocdn.edu.vn<p class="p1"><em>Tứ chứng Fallot (Tetralogy of Fallot - TOF) là bệnh tim bẩm sinh phức tạp với nhiều tổn thương phối hợp, trong đó siêu âm tim qua thành ngực giữ vai trò quan trọng trong chẩn đoán và theo dõi bệnh. Việc phân tích mối liên quan giữa đặc điểm hình ảnh siêu âm tim và đặc điểm sinh trắc học có ý nghĩa trong đánh giá mức độ nặng và định hướng điều trị. Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 70 bệnh nhân TOF tại Bệnh viện Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2022 nhằm khảo sát mối liên quan giữa các đặc điểm hình ảnh siêu âm tim và đặc điểm sinh trắc học. Kết quả cho thấy kích thước lỗ TLT tăng theo tuổi (p < 0,001) nhưng không khác biệt theo giới (p = 0,396). Chênh áp qua động mạch phổi (ĐMP) cao hơn ở nữ và tăng theo tuổi (p < 0,05). Các kích thước ĐMP (vòng van, thân, ĐMP trái và phải) cũng tăng dần theo nhóm tuổi (p < 0,05). Tỷ lệ dày thất phải rất cao ở nhóm < 2 tuổi (97,3%) và nhóm ≥ 18 tuổi (100%), nhưng thấp hơn ở nhóm 2 - <18 tuổi (79,2%; p = 0,029). Trong khi đó, mức độ cưỡi ngựa của động mạch chủ không khác biệt theo giới tính (p = 0,654) và nhóm tuổi (p = 0,242). Kết luận: Các đặc điểm tổn thương tim trên siêu âm ở bệnh nhân TOF có liên quan đến đặc điểm nhân trắc học là tuổi và giới tính, thể hiện qua kích thước lỗ TLT, chênh áp ĐMP và tỷ lệ dày thất phải.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4310Hiệu quả của đặt nội khí quản bằng đèn soi thanh quản video ở trẻ em tại khoa cấp cứu và chống độc, Bệnh viện Nhi Trung ương2025-10-27T02:14:24+00:00Trịnh Tuấn Anhtrinhanh189@gmail.comNgô Thị Thu Hươngthuhuong@hmu.edu.vnLê Ngọc Duydrduy2411@gmail.com<p class="p1"><em>Đèn soi thanh quản video là kỹ thuật mới giúp nâng cao độ chính xác khi đặt nội khí quản ở trẻ em. Nghiên cứu được thực hiện nhằm nhận xét tỷ lệ thành công lần đầu và các biến chứng sớm của đặt nội khí quản bằng đèn soi thanh quản video tại khoa Cấp cứu và Chống độc, Bệnh viện Nhi Trung ương. Đây là nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 471 bệnh nhi được đặt nội khí quản trong thời gian 7/2024 – 6/2025. Tuổi trung vị của nhóm là 13 tháng, trẻ dưới 12 tháng chiếm 49,7%. Tỷ lệ thành công ngay lần đầu chung của nhóm đạt 80,9%. Trong đó, nhóm sử dụng đèn soi thanh quản video cao hơn so với soi trực tiếp (89,8% so với 78,6%; p = 0,013). Ở nhóm tiên lượng đường thở khó, tỷ lệ thành công lần đầu với video là 65,4%, cao hơn soi trực tiếp (52,3%) nhưng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tỷ lệ biến chứng thấp hơn ở nhóm video (32,7% so với 38,6%), trong đó các biến chứng nặng như nhịp tim chậm, đặt nhầm vào thực quản, ngừng tim, sặc chỉ gặp ở nhóm soi trực tiếp. Đèn soi thanh quản video cải thiện tỷ lệ thành công lần đầu và giảm biến chứng, đặc biệt hữu ích trong đường thở khó,nên được xem xét ứng dụng thường quy trong cấp cứu nhi khoa.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4186Nghiên cứu đặc điểm hình thái các động mạch thắt lưng trên xác người Việt Nam trưởng thành2025-10-06T08:24:53+00:00Trần Phương Namtpnam@uhsvnu.edu.vnVõ Huỳnh Trangvhtrang.ctump@gmail.comLê Quang Tuyềnlqtuyen.uhsvnu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả nguyên ủy, kích thước, hướng đi, tĩnh mạch đi kèm và sự phân nhánh của động mạch thắt lưng (ĐMTL) trên xác ngâm formol người Việt Nam trưởng thành. Thiết kế cắt ngang mô tả được thực hiện trên 45 xác (90 vùng thắt lưng), gồm 28 nam và 17 nữ, tuổi trung bình 67,8. Đường kính động mạch thắt lưng L1-L4 từ 2,01 - 2,34mm, trong khi L5 nhỏ hơn. Chiều dài trung bình động mạch thắt lưng L1-L4 khoảng 29,24 - 31,75mm tính từ nguyên ủy đến bờ trong cơ thắt lưng lớn, với sự bất đối xứng có ý nghĩa tại động mạch thắt lưng L4 (trái < phải). Hướng đi động mạch thắt lưng L1-L3 ổn định, trong khi động mạch thắt lưng L4-L5 thường song song với trục ngang mặt bên đốt sống (ĐS). Đường kính tĩnh mạch thắt lưng (TMTL) lớn hơn động mạch thắt lưng đi cùng nhưng không có tương quan tuyến tính. Số nhánh thường gặp: 3 ở động mạch thắt lưng L1-L2, 4-5 ở động mạch thắt lưng L3-L4, và rất ít hoặc không có ở động mạch thắt lưng L5. Kết quả cho thấy động mạch thắt lưng người Việt Nam ổn định ở mức trên và biến thiên nhiều ở mức thấp, có ý nghĩa ứng dụng trong phẫu thuật cột sống và can thiệp nội mạch.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4286Tính ổn định của bạch cầu ái toan máu và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính2025-11-03T04:27:15+00:00Nguyễn Kim Cươngcuongoc@hmu.edu.vnNguyễn Đoan Trangnguyendoantrangm@gmail.comĐặng Huy Hiếudanghuyhieutq2019@gmail.comVũ Nguyễn Hồng Phongphongphong240805@gmail.comNguyễn Đức Nhật Minhndnhatminh68@gmail.comHoàng Thị Việt HàHtvha97@gmail.comLê Tú Linhletulinh1810@gmail.com<p class="p1"><em>Số lượng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi là một chiến lược cốt lõi và được khẳng định mạnh mẽ trong các phiên bản gần đây của GOLD 2025 nhằm đưa ra quyết định sử dụng corticosteroid dạng hít (ICS) cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nghiên cứu thực hiện trên 213 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ổn định điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phổi Trung ương, theo dõi trong 12 tháng nhằm đánh giá tính ổn định của bạch cầu ái toan và xác định các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy bạch cầu ái toan có tương quan thuận giữa hai thời điểm (rho = 0,5755; p < 0,001) với độ ổn định trung bình (ICC = 0,52). Sau 12 tháng, 57,8% bệnh nhân giữ nguyên phân loại bạch cầu ái toan, trong khi 42,2% chuyển nhóm, đáng chú ý ở nhóm bạch cầu ái toan ≥ 300 tế bào/µL có 37,5% giảm xuống dưới ngưỡng. Dao động lớn của bạch cầu ái toan làm hạn chế giá trị của ngưỡng cắt cố định trong chỉ định ICS. Nghiên cứu khẳng định bạch cầu ái toan là chỉ số tiềm năng trong cá thể hóa điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhưng cần đo lặp lại và kết hợp với yếu tố lâm sàng khác để tối ưu hóa chiến lược sử dụng ICS.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4468Phân tích tính đa hình của một số STR ứng dụng trong xét nghiệm di truyền trước làm tổ bệnh α-thalassemia2025-11-16T08:07:15+00:00Vũ Thị Tú Anhvuthituanh89@gmail.comTrần Vân Khánhtranvankhanh@hmu.edu.vnVương Vũ Việt Hàhapro2609@gmail.comLê Mạnh Đứcducmat78@gmail.comPhạm Lê Anh Tuấnphamleanhtuan@hmu.edu.vnTrần Thị Quỳnh Trangtranthiquynhtrang@hmu.edu.vnNguyễn Văn Chỉnhchinhhmu@gmail.comNguyễn Ngọc Hà Tranghatrang181003@gmail.comLê Thị Phươngphuongle@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Alpha thalassemia là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường do giảm hoặc mất khả năng sản xuất chuỗi α-globin trong phân tử Hemoglobin. Biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào kiểu gen, từ trạng thái người lành mang gen không triệu chứng đến hội chứng phù thai Hb Bart’s. Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) kết hợp xét nghiệm di truyền trước làm tổ các rối loạn đơn gen (PGT-M) là phương pháp dự phòng hiệu quả, tránh việc đình chỉ thai kỳ. Để giảm hiện tượng ngoại nhiễm và mất alen (ADO), Hiệp hội Sinh Sản Châu Âu (ESHRE) khuyến cáo xét nghiệm gián tiếp bằng phân tích các đơn vị lặp ngắn (STR) sử dụng từ 2 STR trong phạm vi 1 - 2Mb quanh cụm gen. Nghiên cứu khảo sát tính đa hình của 5 STR được thực hiện trên 316 người mang đột biến gen α-thalassemia không có quan hệ huyết thống cho kết quả 5 STR có 8 - 17 alen; 4/5 STR có tính đa hình cao (0,731 ≤ PIC ≤ 0,786; 0,750 ≤ Ho ≤ 0,968), khả năng phân biệt cá thể tốt (0,884 ≤ PD ≤ 0,916). Tất cả các trường hợp nghiên cứu có kiểu gen dị hợp tử ở ít nhất hai STR cho thấy bộ 5 marker STR phù hợp và hiệu quả cho xét nghiệm PGT-M α-thalassemia.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4482Hiệu quả của phương pháp tiêm huyết tương giàu tiểu cầu vào khoang ngoài màng cứng qua lỗ cùng trong điều trị giảm đau bệnh lý hẹp ống sống thắt lưng2025-11-20T07:06:12+00:00Lê Viết Thắngthang.lv@umc.edu.vnBùi Hoàng Tuấn Dũngdung.bht@umc.edu.vn<p class="p1"><em>Tiêm giảm đau ngoài màng cứng qua lỗ cùng là một phương pháp can thiệp phổ biến điều trị triệu chứng đau thần kinh tọa ở bệnh nhân hẹp ống sống thắt lưng. Trong nghiên cứu báo cáo hàng loạt ca, chúng tôi đã đánh giá tính hiệu quả giảm đau của huyết tương giàu tiểu cầu ở bệnh nhân hẹp ống sống thắt lưng một tầng. Nghiên cứu bao gồm 57 bệnh nhân hẹp ống sống thắt lưng một tầng và được thực hiện tại Đơn nguyên Điều trị Đau, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1/2025 đến tháng 6/2025. Kết quả cho thấy sự cải thiện đáng kể về thang điểm đau NRS (Numeric Rating Scale) và thang điểm ODI (Oswestry Disability Index) sau 1 tháng và 3 tháng so với ban đầu (p < 0,001). Tiêm ngoài màng cứng qua lỗ cùng là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị hẹp ống sống thắt lưng với kết quả ngắn hạn tốt. Tiêm huyết tương giàu tiểu cầu dưới hướng dẫn siêu âm cho thấy hiệu quả về giảm đau và cải thiện chức năng.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4493Đánh giá sự phù hợp của bốn thang đo cường độ đau ở người bệnh đau cơ xương khớp mạn tính2025-11-19T08:31:47+00:00Lê Viết Thắngthang.lv@umc.edu.vnVũ Đình Thanhvudinhthanhbv199@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu so sánh sự phù hợp của bốn thang đo cường độ đau: Thang điểm nhìn liên tục (VAS), Thang đánh giá bằng số (NRS-11), Thang đánh giá bằng lời nói sáu điểm (VRS-6) và Thang điểm khuôn mặt được sửa đổi (FPS-R) ở người bệnh đau cơ xương khớp mạn tính. Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên người bệnh đau cơ xương khớp tại ba bệnh viện: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, An Bình và 199, từ tháng 12/2024 đến tháng 6/2025. Bệnh nhân tự đánh giá cường độ đau bằng bốn thang đo (VAS, NRS-11, VRS-6, FPS-R) theo thứ tự ngẫu nhiên. Cường độ đau trung bình theo thang đo VAS, NRS-11, FPS-R lần lượt là 5,8 ± 2,1; 5,9 ± 1,9; 5,1 ± 2,04, thang VRS-6 ghi nhận tỷ lệ đau vừa chiếm đa số (50,7%). Các thang đo có mối tương quan thuận mạnh (r = 0,77 - 0,92; p < 0,001). VRS-6 được người bệnh ưa thích sử dụng nhất (58,3%), tiếp đến là NRS-11 (28,0%), FPS-R (10,7%) và VAS (3,0%). Việc lựa chọn thang đo đánh giá cường độ đau cho người bệnh cần cá nhân hóa dựa trên: Độ tuổi, trình độ học vấn, khả năng nhận thức, loại đau và kinh nghiệm sử dụng thang đo của người bệnh.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4407Kết quả lâm sàng phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng progestin so với phác đồ Antagonist trên bệnh nhân chuyển đơn phôi đông lạnh ngày 52025-11-03T04:33:37+00:00Lê Vũ Hải Duylevuhaiduy@gmail.comNguyễn Thị Thu Thuỷthuyntt@phuongdonghospital.vnHà Thị Hoài Linhivflab@phuongdonghospital.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 305 bệnh nhân điều trị thụ tinh trong ống nghiệm được chia thành hai nhóm: 157 bệnh nhân sử dụng phác đồ kích thích buồng trứng PPOS và 148 bệnh nhân dùng phác đồ antagonist được chuyển đơn phôi đông lạnh ngày 5. Hai nhóm có đặc điểm lâm sàng tương đồng về tuổi, thời gian vô sinh, BMI, dự trữ buồng trứng (AMH, AFC) và chỉ số nội tiết nền (FSH, LH). Kết quả cho thấy tổng liều FSH và số ngày kích trứng không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p > 0,05). Nồng độ Estradiol và LH tại thời điểm trigger cao hơn ở nhóm PPOS (p < 0,05) nhưng không ghi nhận trường hợp rụng trứng sớm. Chất lượng phôi ngày 5 trước chuyển tương đương ở cả hai nhóm. Các chỉ số kết quả lâm sàng như tỷ lệ β-hCG dương tính (61,78% với 62,16%, p > 0,05), thai lâm sàng (52,87% với 52,70%, p > 0,05), thai diễn tiến (51,59% với 50,68%, p > 0,05) và tỷ lệ thai sinh sống (49,04% với 48,65%, p > 0,05) đều không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm PPOS và antagonist. Kết quả nghiên cứu nhận thấy, PPOS mang lại hiệu quả lâm sàng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với phác đồ antagonist và là lựa chọn thay thế khả thi trong các chu kỳ IVF với chiến lược đông lạnh phôi toàn bộ.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4165Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị ung thư thực quản di căn bằng phác đồ mDCF tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2025-09-29T03:43:16+00:00Nguyễn Văn Hùngdr.hungnguyen.hmu@gmail.comTrần Lý Linhtranlylinh.md@gmail.comLê Hồng Tháilehongthaihmu@gmail.comPhan Khánh Toànkhanhtoanphan97@gmail.comPhạm Duy Mạnhphamduymanh.hmu@gmail.comTrần Trung Báchtrantrungbach@hmu.edu.vnMai Thị Kim Ngânmaithikimngan91@gmail.comTrần Đình Anhtrandinhanh93@gmail.comTrần Thị Kim Anhkimanh.ntut45@gmail.comTrịnh Lê Huytrinhlehuy@hmu.edu.vnNgô Minh Tríngominhtri.md@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện nhằm đánh giá một số yếu tố liên quan đến kết qủa điều trị ung thư thực quản di căn điều trị bằng phác đồ hóa chất mDCF tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Bốn mươi bệnh nhân ung thư thực quản giai đoạn di căn được điều trị với ít nhất 4 chu kỳ mDCF được đưa vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy trung vị thời gian sống không tiến triển (PFS) và sống toàn bộ (OS) lần lượt là 6,4 tháng và 12,1 tháng. Phân tích hồi quy đa biến xác định số chu kỳ hóa chất và mức độ đáp ứng là các yếu tố tiên lượng sống còn có ý nghĩa thống kê. Các đặc điểm khác như tuổi, vị trí khối u, giai đoạn T, số vị trí di căn và liều hóa chất không ảnh hưởng đáng kể đến tiên lượng. Phác đồ mDCF cho thấy hiệu quả điều trị tốt ở những bệnh nhân ung thư thực quản di căn.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4439Thời gian, đặc điểm và trải nghiệm người bệnh nhập viện thông qua “kênh tiếp nhận nhanh” tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học từ tháng 12/2024 đến tháng 06/20252025-11-06T06:26:43+00:00Nguyễn Quốc Vụ Khanhbs.quocvukhanh@gmail.comTrần Thị Thiên KimKimTTT@bth.org.vnNguyễn Ngọc Sangdr.nguyenngocsang@gmail.comPhan Vũ AnhAnhPV@bth.org.vnNgô Thị Thuỳ Dungdungngo.yhcd@gmail.com<p class="p1"><em>Người bệnh huyết học thường phải nhập viện nhiều lần để điều trị, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định thời gian chờ và các yếu tố liên quan của “Kênh tiếp nhận nhanh” tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang (12/2024 - 06/2025) trên 169 người bệnh, sử dụng dữ liệu trích xuất từ hồ sơ bệnh án điện tử và bảng câu hỏi khảo sát trải nghiệm. Kết quả: Tỷ lệ tiếp nhận thành công là 86,4%, trong đó người bệnh tại TP.HCM có tỉ lệ thành công cao hơn người bệnh tỉnh thành khác (p < 0,05). Tổng thời gian chờ trung bình là 82,8 ± 18,3 phút, khâu chờ xét nghiệm chiếm thời gian lâu nhất (41,0 ± 11,7 phút). Tổng thời gian chờ không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) theo các đặc tính nhân khẩu-xã hội. “Kênh tiếp nhận nhanh” đã rút ngắn thời gian chờ, thời gian chờ nhập viện bị kéo dài có ý nghĩa thống kê thuận với trải nghiệm trì hoãn tại khâu tiếp nhận và chờ đợi tại khâu lấy mẫu xét nghiệm. Để nâng cao chất lượng của “Kênh tiếp nhận nhanh”, Cần rà soát cải tiến ở khâu xét nghiệm, rút ngắn thời gian trả kết quả xét nghiệm và chuẩn hoá quy trình điều trị.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4421Nhận xét kết quả sớm phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tiên phát tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2025-11-06T02:54:35+00:00Nguyễn Duy Giaduygia.nguyen@gmail.comVũ Ngọc Túvungoctu@hmu.edu.vnNguyễn Duy Thắngduythang@hmu.edu.vn<p>MỤC TIÊU: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị tràn khí màng phổi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024 và so sánh hiệu quả giữa các phương pháp phẫu thuật khác nhau. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 30 bệnh nhân được phẫu thuật từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2024. KẾT QUẢ: Có 30 bệnh nhân, 7 nữ, tuổi trung bình 33,9 ± 5,4 (16–65). Tổn thương phát hiện kén khí trên phim cắt lớp vi tính là 23/30 (76,7%). Kỹ thuật: cắt kén đơn thuần 14 (46,7%), cắt kén + Betadine 14 (46,7%), cắt kén + talc: 2 (6,6%). Thời gian mổ trung bình 47 phút; thời gian dẫn lưu trung bình 5,44 ngày (2–11). Giải phẫu bệnh: 100% có kén khí hoặc kén vỡ. Theo dõi >6 tháng: tái phát cùng bên 2 (6,6%), tái phát đối bên 1, đau thần kinh liên sườn 6, không có khó thở/tức ngực.</p> <p>KẾT LUẬN: Phẫu thuật nội soi lồng ngực toàn bộ là phương pháp an toàn, hiệu quả để điều trị tràn khí màng phổi.</p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4234Đánh giá kết quả điều trị một số bệnh lý cơ xương khớp bằng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân2025-10-14T02:17:16+00:00Bùi Thị Lan AnhAnhanh.764119@gmail.comNguyễn Thị Ngọc Lanngoclannguyen@hmu.edu.vnĐỗ Thị Huyền Tranghuyentranghmu1016@gmail.comNguyễn Đức Tuấnductuannguyen@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá kết quả điều trị các bệnh lý cơ xương khớp bằng liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (PRP) tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, được tiến hành trên 187 bệnh nhân trong khoảng thời gian từ tháng 1/2024 – 9/2025, tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả cho thấy PRP cho thấy hiệu quả giảm đau rõ rệt sau 3 tháng điều trị, với điểm đau VAS trung bình giảm từ 7,01 trước điều trị xuống còn 3,65, trong đó nhóm điều trị bệnh lý thoái hóa khớp và chấn thương cho thấy hiệu quả rõ rệt hơn so với nhóm điều trị tổn thương viêm. Phần lớn bệnh nhân không gặp tác dụng không mong muốn sau điều trị và hài lòng hoặc rất hài lòng với kết quả điều trị bằng PRP (chiếm 82,7%).</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4445Đánh giá hiệu quả tạo phôi của noãn non trưởng thành bằng Rescue IVM2025-11-18T02:10:11+00:00Đoàn Phương Thảodoanthaompk42@gmail.comNguyễn Văn MạnhNguyenvanmanh111299@gmail.comNguyễn Ngọc Kim Thoangockimthoaa@gmail.comĐoàn Thành ĐạtDoanthanhdat15@gmail.comNguyễn Hữu ThànhNht473@gmail.comNguyễn Khang Sơnkhangson@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Đánh giá hiệu quả tạo phôi của noãn non trưởng thành trong ống nghiệm cứu hộ (rescue IVM). Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên đối tượng 207 phụ nữ làm thụ tinh trong ống nghiệm với 2231 noãn (1514 noãn trưởng thành và 717 noãn non) tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản và Y học Giới tính, Bệnh viện Đa khoa Hà Nội từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2024. Tỷ lệ noãn trưởng thành in vivo là 67,13%, tỷ lệ noãn non là 32,87% (MI là 27,46% và GV là 5,41%), tỷ lệ trưởng thành khi nuôi noãn non (MI, GV) qua đêm là 87,22%. Khi tạo phôi bằng noãn MII sau tách và noãn MII rescue IVM nhận thấy tỷ lệ thụ tinh không có sự khác biệt giữa 2 nhóm (89,01% và 86,12%) nhưng tỷ lệ tạo phôi nang của nhóm MII rescue IVM thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với tỷ lệ tạo phôi nang của noãn MII đã trưởng thành sau tách trứng (11,59% và 62,79%). Không nhận thấy mối liên quan giữa tuổi và tổng liều FSH với tỷ lệ noãn đã trưởng thành và tỷ lệ noãn trưởng thành muộn sau khi nuôi cấy qua đêm (p > 0,05). Tỷ lệ thụ tinh của noãn MII rescue IVM cao, không khác biệt so với bình thường nhưng tỷ lệ tạo phôi thấp. Việc chỉ định nuôi cấy noãn non qua đêm để rescue IVM nên được cá thể hoá trong từng trường hợp.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4396Ghép gan cho bệnh nhân có hội chứng gan phổi: Kết quả và kinh nghiệm của Bệnh viện Nhi Trung ương2025-10-22T04:33:03+00:00Phạm Thị Hải YếnPhamhaiyen1209@gmail.comPhạm Duy Hiềnduyhien1972@yahoo.comĐặng Ánh Dươngdanganhduong74@gmail.comVũ Mạnh Hoàndr.hoan682@gmail.comDương Khánh Toàntoanhsn@gmail.comHoàng Văn Támdrtam.nhp@gmail.comPhan Hồng Longhonglong.phan14091993@gmail.comTrần Đức Tâmtrantam86@gmail.comNguyễn Đức Thườngtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnVũ Quang Trungtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnVũ Đức Khangkhanghmu@gmail.comNguyễn Phạm Anh Hoadranhhoa@gmail.com<p class="p1"><em>Hội chứng gan phổi là một biến chứng gặp ở bệnh nhân có bệnh gan mạn tính hoặc tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Bệnh nhân hội chứng gan phổi có diễn biến tự nhiên rất xấu với 41% tử vong trong 2,5 năm và nếu không ghép gan thì tỉ lệ sống 5 năm chỉ dưới 23%. Ghép gan là phương pháp điều trị duy nhất có khả năng đảo ngược hoàn toàn hội chứng gan phổi và cải thiện tỷ lệ sống lâu dài. Nghiên cứu này tổng kết các kết quả và biến chứng sau ghép gan ở 9 ca hội chứng gan phổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 09/2022 - 09/2025, đánh giá sự cải thiện oxy sau ghép và tìm hiểu các yếu tố liên quan. Sau ghép gan, cả 9 bệnh nhân đều sống với chức năng hô hấp cải thiện rõ rệt, 88,9% hồi phục oxy hóa hoàn toàn, 11,1% hồi phục một phần. Sự hồi phục theo nhiều giai đoạn: SpO<sub>2</sub> đạt ngưỡng bình thường ở đa số trẻ sau 1 tháng, PaO<sub>2</sub> và AaDO<sub>2</sub> hồi phục chậm hơn trong vòng 3 - 6 tháng. Biến chứng sau ghép bao gồm thải ghép 33,3%, tràn dịch màng phổi 22,2%, hẹp mạch máu 22,2%, thở máy kéo dài 22,2%, thiếu oxy hóa kéo dài 11,1%, tăng áp phổi sau ghép 11,1%, AaDO<sub>2</sub>, MAA và hemoglobin trước ghép là các yếu tố có thể liên quan đến kết quả sau ghép. Kết quả nghiên cứu cho thấy ghép gan là phương pháp điều trị dứt điểm, đảo ngược hội chứng gan phổi và cải thiện tỷ lệ sống ở trẻ em. Cần có thêm những nghiên cứu đa trung tâm và theo dõi dài hạn hơn về hội chứng gan phổi ở trẻ em.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4338Viêm tụy cấp do tăng Triglyceride máu ba tháng cuối thai kỳ: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố dự báo tiên lượng nặng2025-11-11T02:14:26+00:00Nguyễn Tăng Diệu TúDr.nguyentangdieutu@gmail.comNguyễn Thị Thu Phươngphuongbau711@gmail.comPhạm Bá Nhabnpham2018@gmail.com<p class="p1"><em>Mô tả cắt ngang hồi cứu trên 41 thai phụ được chẩn đoán viêm tụy cấp do tăng triglyceride trong ba tháng cuối thai kỳ, điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ 09/2018 đến 10/2024. Phân loại mức độ theo tiêu chuẩn Atlanta sửa đổi 2012; phân tích ROC để nhận định các yếu tố dự báo viêm tụy cấp nặng. Kết quả: tuổi trung bình 29,8 ± 5,4 năm, tuổi thai trung bình 33,5 ± 3,3 tuần. Tỷ lệ tiền sử rối loạn lipid máu 26,8%, đái tháo đường thai kỳ 7,3%. Nhóm nặng có tăng nồng độ triglyceride (85,2 ± 41,6 mmol/L) và lipase (2310 ± 1942,8 U/L) cao nhất, đồng thời pH máu giảm (7,2 ± 0,2) và PaO<sub>2</sub>/FiO<sub>2</sub> giảm (252,5 ± 111mmHg), tỷ lệ trẻ nhập NICU 57,1%, suy hô hấp sơ sinh 28,6%. Phân tích ROC cho thấy pH ≤ 7,31 (AUC = 0,929) và PaO<sub>2</sub>/FiO<sub>2</sub> ≤ 258mmHg (AUC = 0,910) là hai dấu ấn tiên lượng mạnh nhất, độ nhạy và đặc hiệu đều trên 85%.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4437Kết quả thu hoạch khối tế bào gốc tạo máu ngoại vi ở bệnh nhi u nguyên bào thần kinh2025-10-31T07:31:01+00:00Nguyễn Thị Thanh LamLamchi9806@gmail.comBùi Ngọc Lanngoclankhoi@gmail.comĐặng Thị Hàdangha1980@gmail.comNguyễn Hoài Anhhoaianh.md@gmail.comĐặng Ánh Dươngdanganhduong74@gmail.comNguyễn Bảo Ngọcnbngoc86@gmail.comHà Thị Phươnghaphuong102@gmail.comLê Đức MinhLeducminh20081994@gmail.comTạ Thị Thoathoatt1007@gmail.comTrần Thị Thúy Hạnhhanh24h.95@gmail.comNguyễn Cơ Thạchtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNguyễn Thanh Bìnhnguyenthanhbinh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>U nguyên bào thần kinh là khối u đặc ngoài sọ phổ biến nhất ở trẻ em. Nhóm nguy cơ cao của bệnh là một trong những thể bệnh khó điều trị nhất, có tiên lượng kém. Trong phác đồ điều trị, ghép tế bào gốc tạo máu tự thân sau hóa chất liều cao giúp tái tạo hệ thống sinh máu và phục hồi chức năng tủy xương ở nhóm bệnh nhân này. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả kết quả quá trình thu hoạch khối tế bào gốc tạo máu ngoại vi hỗ trợ điều trị bệnh u nguyên bào thần kinh ở trẻ em. Phương pháp mô tả cắt ngang trên 57 bệnh nhân chẩn đoán u nguyên bào thần kinh nguy cơ cao được thu hoạch tế bào gốc tạo máu ngoại vi tự thân tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả cho thấy, trước thời điểm gạn tách máu ngoại vi của bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung vị là 20,04×10<sup>9</sup>/L (IQR 13,33 – 26,87), mật độ tế bào gốc CD34+ trung vị là 32 tế bào/µL (IQR 18,72 – 48,53) và có tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với số lượng bạch cầu mono. Khối tế bào gốc tạo máu ngoại vi có số lượng tổng tế bào có nhân, tế bào gốc tạo máu CD34+ với trung vị lần lượt là 29,35 × 10<sup>9 </sup>tế bào (IQR 19,39 – 38,41 và 84,25 × 10<sup>6 </sup>tế bào (IQR 54,54 – 136,99). Liều tế bào gốc tạo máu CD34+ là 6,29×10<sup>6 </sup>tế bào/kg (IQR 4,43 – 9,04). Các khối tế bào gốc máu ngoại vi tự thân đảm bảo vô khuẩn và đạt yêu cầu về số lượng, mật độ và liều tế bào gốc tạo máu CD34+ mục tiêu sử dụng trong liệu pháp hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân u nguyên bào thần kinh nguy cơ cao.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4094Hiệu quả hỗ trợ điều trị loét da nhiễm trùng bằng laser HÉ-NÉ chiếu ngoài2025-09-22T01:15:50+00:00Hoàng Đức Tàiductaidr@gmail.comĐoàn Quốc Tuấnqnnguyenthile@gmail.comTừ Tuyết Tâmqnnguyenthile@gmail.comHuỳnh Nhưhuynhnhu15011999@gmail.comNguyễn Thị Lệ Quyênqnnguyenthile@gmail.com<p class="p1"><em>Loét da là tình trạng mất toàn bộ thượng bì và ít nhất đến lớp trung bì, gây thương tổn lõm dưới bề mặt da. Nhiễm trùng là nguyên nhân gây loét da thường gặp nhất. Laser Hé-Né được sử dụng rộng rãi trong điều trị hỗ trợ thương tổn khó lành, đặc biệt là loét da nhiễm trùng. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá hiệu quả hỗ trợ điều trị loét da nhiễm trùng bằng laser Hé-Né chiếu ngoài, thực hiện trên 81 bệnh nhân loét da nhiễm trùng. Đánh giá hiệu quả điều trị bằng thang điểm DESIGN. Kết quả cho thấy, nhóm tuổi > 60 tuổi chiếm ưu thế (61,7%), nữ chiếm 60,5%. Ở ngày thứ 14, tỉ lệ đạt hiệu quả rất tốt là 10,0%, hiệu quả tốt 65,4%, hiệu quả kém 1,2%. Không có trường hợp nào không đáp ứng trong quá trình điều trị. Có 7,4% bệnh nhân có tác dụng không mong muốn của laser Hé-Né (đỏ da tại chỗ chiếu). Laser Hé-Né có hiệu quả hỗ trợ điều trị rõ rệt và an toàn qua 14 ngày điều trị.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4081Thất bại điều trị thống kinh bằng thuốc giảm đau không steroid: Đoàn hệ tiến cứu tại Bệnh viện Hùng Vương2025-09-17T01:40:54+00:00Huỳnh Thuỵ Thảo Quyêndrthaoquyen83@gmail.comVương Thị Ngọc Landrlan@yahoo.com.vnPhan Thị Hằngbshangphan@gmail.comNguyễn Thị Ngọc TrinhTrinhntn@pnt.edu.vn<p class="p1"><em>Mục tiêu nghiên cứu xác định tỷ lệ thất bại điều trị thống kinh cơ năng bằng thuốc giảm đau không steroid (Ibuprofen 400mg), và các yếu tố liên quan đến thất bại điều trị. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện trên 206 phụ nữ có thống kinh cơ năng tại Bệnh viện Hùng Vương từ 12/2024 đến 4/2025. Bệnh nhân uống NSAIDs theo phác đồ và đánh giá mức độ đau bằng thang VAS (Visual Analogue Scale) trước điều trị, sau 3 ngày và 3 tháng. Tỷ lệ thất bại sau 3 ngày và 3 tháng điều trị là 16,02%, và 2,98%. Các yếu tố liên quan đến thất bại điều trị sau 3 ngày bao gồm: BMI bình thường nguy cơ thất bại điều trị thấp hơn nhóm thiếu cân (RR = 0,48; p = 0,014). Lượng máu kinh càng nhiều nguy cơ thất bại điều trị cao (RR = 1,11; p < 0,001). Tuân thủ điều trị giảm nguy cơ thất bại điều trị (RR = 0,41; p < 0,001). Kết luận NSAIDs vẫn là lựa chọn điều trị đầu tay khả thi và hiệu quả trong điều trị thống kinh cơ năng. Một số yếu tố liên quan đến thất bại cần được sàng lọc để cá thể hóa điều trị, giảm thiểu triệu chứng và nâng cao chất lượng sống.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4163Mức độ biểu hiện của sinh ngà bất toàn trên bệnh nhân tạo xương bất toàn2025-09-22T03:06:45+00:00Nguyễn Thị Thu Hươngthuhuongnguyen@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả các mức độ biểu hiện của sinh ngà bất toàn (DI) ở bệnh nhân tạo xương bất toàn (OI) tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 98 bệnh nhân OI từ 2 - 19 tuổi trong giai đoạn 2018 - 2023. Chẩn đoán DI dựa trên dấu hiệu lâm sàng và hình ảnh X-quang. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc sinh ngà bất toàn chiếm 45,9%. Các mức độ biểu hiện của DI gồm mức nhẹ: vừa: nặng lần lượt là 34,8%: 34,8%: 30,4%. Các mức độ biểu hiện của DI là ngang nhau và không có sự khác biệt trên các bệnh nhân OI týp III, OI týp IV.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4136Thiếu vitamin D và các yếu tố liên quan ở trẻ em mắc Lupus ban đỏ hệ thống tại Bệnh viện Nhi Trung ương2025-09-08T06:23:08+00:00Cao Hương Nhungcaonhung.hmu89@gmail.comNguyễn Thu Hươngnguyenthuhuong@nch.gov.vnNguyễn Thị Thúy Hồngbshong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) là một bệnh lý mạn tính ảnh hưởng đến nhiều cơ quan thường khởi phát ở lứa tuổi trẻ em. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 123 trẻ từ 1 - 18 tuổi mắc LBĐHT, tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 10/2024 đến tháng 7/2025 nhằm mô tả tình trạng thiếu vitamin D của trẻ mắc LBĐHT và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tỉ lệ thiếu 25-hydroxyvitamin D (25(OH)D) là 54,5%, không đầy đủ là 38,2%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng thiếu vitamin D với tình trạng hạ albumin máu (p = 0,001) và tình trạng hạ calci máu (p < 0,001). Với tỉ lệ hạ calci máu cao hơn ở nhóm thiếu vitamin D (50,7%) so với nhóm không đủ vitamin D (17%) và nhóm đủ vitamin D (11,1%); đồng thời có mối liên quan giữa tình trạng thiếu vitamin D với liều prednisolon đang điều trị của bệnh nhân (p = 0,046). Tình trạng thiếu vitamin D thường gặp ở trẻ mắc LBĐHT. Cần theo dõi, đánh giá nồng độ vitamin D và can thiệp dinh dưỡng, bổ sung vitamin D đầy đủ cho nhóm trẻ này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4143Nồng độ kẽm huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở trẻ mắc hội chứng thận hư tại Bệnh viện Nhi Trung ương 2025-09-10T01:54:05+00:00Phạm Thị HuệDr.phamhue@gmail.comNguyễn Thu Hươngnguyenthuhuong@nch.gov.vnCao Việt Tùngtungcv@nch.gov.vnTrần Tiến Đạttrantiendat@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thuý Hồngbshong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện trên 113 trẻ từ 5 - 17 tuổi mắc hội chứng thận hư tại Bệnh viện Nhi Trung ương nhằm đánh giá nồng độ kẽm huyết thanh và các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy đa số bệnh nhi là nam giới (76,1%), sống tại nông thôn (74,3%) và 30,1% có tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi. Trong số 89 trẻ được xét nghiệm, 68,5% thiếu kẽm, trong đó thiếu nhẹ chiếm 43,8%, thiếu vừa 21,3% và thiếu nặng 3,4%. Tỷ lệ thiếu kẽm cao nhất ở nhóm tuổi 5 - 10 (89,1%) và thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, đặc biệt 100% trẻ thấp còi nặng đều thiếu kẽm. Phân tích thống kê cho thấy tình trạng thiếu kẽm có liên quan chặt chẽ đến giai đoạn bệnh và tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số chiều cao theo tuổi, nhưng không phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh. Kết quả nghiên cứu gợi ý thiếu kẽm huyết thanh là vấn đề phổ biến ở trẻ hội chứng thận hư, và cần có chiến lược sàng lọc, bổ sung kẽm và can thiệp dinh dưỡng kịp thời nhằm cải thiện tiên lượng và tối ưu hóa hiệu quả điều trị cho nhóm bệnh nhi này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4409Đặc điểm độ phân bố kích thước hồng cầu ở người bệnh suy tim điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên2025-11-07T02:26:09+00:00Nguyễn Trọng Hiếunguyentronghieu@tump.edu.vnTrần Tuấn Tútrantuantu@tump.edu.vnHoàng Thị Hải Yếnhoanghaiyen24111999@gmail.com<p class="p1"><em>Suy tim là một hội chứng lâm sàng phức tạp với tỷ lệ mắc ngày càng tăng ở người cao tuổi. Chỉ số độ phân bố kích thước hồng cầu (RDW) được xem là một yếu tố tiên lượng tiềm năng trên người bệnh suy tim. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 người bệnh suy tim điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên nhằm phân tích đặc điểm RDW ở nhóm bệnh này. Kết quả cho thấy RDW trung vị là 14,3 (IQR: 13,6 - 15,5) với 57,1% người bệnh có RDW > 14%. RDW có xu hướng tăng theo phân độ NYHA, cao hơn rõ rệt ở nhóm III–IV so với nhóm I–II (p < 0,05) và có tương quan thuận với nồng độ BNP (r = 0,404; p < 0,05). RDW > 14% liên quan chặt chẽ đến suy tim nặng (p < 0,05; OR = 4,8) và BNP > 100 ng/mL (p < 0,05; OR = 4). Mặc dù chưa ghi nhận mối liên quan rõ ràng với EF, kết quả cho thấy RDW là chỉ số huyết học đơn giản, hỗ trợ phân tầng mức độ nặng của suy tim.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4171Đặc điểm tổn thương võng mạc trên người bệnh tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện E năm 20252025-09-29T02:14:58+00:00Phạm Diệu Linhdieulinhpham.hmu@gmail.comNguyễn Thị Lan Anhdrlananhnguyen.hp@gmail.comNguyễn Quỳnh Hoadrhoa2211@gmail.comDương Thị Huếduonghue.ord@gmail.com<p class="p1"><em>Bệnh võng mạc tăng huyết áp là một trong những biến chứng hay gặp của bệnh tăng huyết áp tại mắt, phản ánh mức độ nghiêm trọng của tổn thương toàn thân như đột quỵ, bệnh tim mạch. Mục tiêu nghiên cứu nhằm mô tả các tổn thương võng mạc do bệnh tăng huyết áp và đánh giá mối liên quan giữa bệnh võng mạc tăng huyết áp và một số yếu tố nguy cơ. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 306 mắt của 154 người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện E từ tháng 5/2025 đến tháng 9/2025. Kết quả nghiên cứu trên 306 mắt, tỷ lệ bệnh VMTHA là 61,1%, giai đoạn nhẹ là chủ yếu chiếm 46,7%, tổn thương co nhỏ động mạch tỏa lan gặp sớm nhất. Các yếu tố nguy cơ có mối liên quan với bệnh VMTHA là thời gian phát hiện THA trên 10 năm (OR = 3,615, 95% CI: 1,733 - 7,542, p < 0,0001), không ổn định điều trị huyết áp (OR = 5,238, 95% CI: 2,447 - 11,406, p < 0,0001). Bệnh VMTHA giai đoạn trung bình làm tăng nguy cơ đột quỵ lên 20 lần so với giai đoạn nhẹ (95% CI: 2,283 - 176,944, p = 0,002).</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4243Nhẹ cân sơ sinh ở thai phụ tiền sản giật và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An2025-11-24T02:03:04+00:00Phạm Hoàng Khuêkhuehoangpham@gmail.comNguyễn Thị Hà Phươngdrhaphuong@gmail.comNguyễn Gia Khiêmnguyengiakhiem2k2@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thiết kế hồi cứu, mô tả cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ nhẹ cân sơ sinh và nhận xét một số yếu tố liên quan đến nhẹ cân sơ sinh ở thai phụ tiền sản giật. Nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An từ tháng 01 đến tháng 12/2024. Đối tượng nghiên cứu gồm 87 thai phụ tiền sản giật và trẻ sơ sinh là con của các thai phụ này. Kết quả cho thấy, nhẹ cân sơ sinh chiếm tỷ lệ 66,7% với cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh là 2139,08 ± 833,647g. Một số yếu tố liên quan trực tiếp đến nhẹ cân sơ sinh ở thai phụ tiền sản giật bao gồm: chấm dứt thai kỳ trước 37 tuần, mức độ tiền sản giật nặng, tăng huyết áp độ 2 - 3 và bằng chứng thai chậm phát triển trên siêu âm (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sát tuổi thai, đánh giá mức độ nặng của tiền sản giật, kiểm soát huyết áp và tầm soát thai chậm phát triển để giảm nguy nhẹ cân sơ sinh ở thai phụ tiền sản giật.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4149Thay van động mạch chủ không khâu ở bệnh nhân van động mạch chủ hai lá van hẹp khít tại Bệnh viện Bạch Mai2025-09-19T04:22:33+00:00Phạm Quốc Đạtdr.phamquocdat@gmail.comMa Nguyễn Thái Hoàngthaihoang.hmu.k112@gmail.comNgô Phi Longlongngo.cvs.vnhi.bmh@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm báo cáo kinh nghiệm bước đầu triển khai kỹ thuật thay van động mạch chủ (ĐMC) không khâu trên van ĐMC loại hai lá van. Cỡ mẫu gồm 3 bệnh nhân (BN) bệnh van ĐMC hai lá van được phẫu thuật thay van bằng van ĐMC không khâu Perceval Plus tại Bệnh viện Bạch Mai. Chỉ định phẫu thuật trên nhóm van ĐMC hai lá van type 1 (phân loại theo Sievers). Tất cả các trường hợp đều tiếp cận qua đường mở xương ức, cắt bỏ van bệnh lý, lấy vôi vòng van, đo kích thước và thay van theo quy trình chuẩn. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT) và cặp ĐMC trung bình lần lượt là 88,7 ± 18,1 và 64,0 ± 21,9 phút. Hậu phẫu thuận lợi. Thời điểm ra viện, siêu âm tim cho thấy diện tích lỗ van hiệu quả cải thiện rõ, chênh áp qua van thấp. Thay van ĐMC không khâu trên van ĐMC hai lá van là một lựa chọn khả thi, giúp rút ngắn thời gian phẫu thuật, đảm bảo hiệu quả huyết động và an toàn cho bệnh nhân.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4202Dấu hiệu động mạch cực trên cắt lớp vi tính trong định vị u tuyến cận giáp2025-10-12T07:53:27+00:00Phạm Thị Phượnglighthouse9398@gmail.comNguyễn Quang Anhquanganh_rad@hmu.edu.vnLại Thu Hươnglaithuhuong@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) động học ba pha của u tuyến tuyến cận giáp cũng như nhận xét sự tương quan giữa dấu hiệu động mạch cực và đặc điểm của khối u trên hình ảnh thông qua mô tả hồi cứu. Phân tích 40 khối u tuyến cận giáp (TCG) được xác nhận sau mổ, CLVT phát hiện được 39 khối u trước phẫu thuật và 01 khối u chỉ được phát hiện khi tiến hành đọc phim hồi cứu sau mổ. Vị trí hay gặp nhất là cực dưới tuyến giáp (70%), trong đó có 10% lạc chỗ. Kích thước trung bình 20,28 ± 10,4mm. Tất cả u giảm tỷ trọng trước tiêm; sau tiêm, 67,5% ngấm thuốc loại B, 17.5% loại A và 12.5% loại C. Trong nghiên cứu quan sát thấy 62,5% các u có dấu hiệu động mạch cực. Các u có dấu hiệu động mạch cực có mức độ ngấm thuốc và tỷ trọng thì động mạch lớn hơn so với nhóm các u không quan sát thấy dấu hiệu này. Một khối u bị bỏ sót trước phẫu thuật do chẩn đoán nhầm là tổn thương dạng nang, không ngấm thuốc, và một trường hợp chẩn đoán nhầm, giải phẫu bệnh sau mổ là hạch viêm mạn tính. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4213Kết quả ghép tế bào gốc tạo máu tự thân ở bệnh nhân u Lympho tại Bệnh viện Vinmec Times City2025-10-25T08:02:35+00:00Phạm Thị Việt Hươngphamthiviethuongbvk@gmail.comTống Văn Giápv.giaptv1@vinmec.comNguyễn Thị Thuỳ Dươngv.duongntt36@vinmec.comNguyễn Đình Duyv.duynd5@vinmec.comHoàng Hương Huyềntapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Ghép tế bào gốc tạo máu áp dụng trong nhiều thể u lympho tái phát/kháng trị. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, kết quả điều trị của 18 bệnh nhân u lympho ghép tế bào gốc tạo máu tự thân từ 1/1/2022 đến 31/7/2025 tại bệnh viện Vinmec Times City. 18 bệnh nhân u lympho được ghép tế bào gốc tạo máu. Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh. Qua nghiên cứu thấy giai đoạn chủ yếu là III 55,56%, 50,00% có IPI 3 điểm, hầu hết trải qua ≥ 2 bước điều trị trước ghép. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trước ghép 83,33%. Thời gian mọc ghép bạch cầu 9,38 ± 0,91 ngày, tiểu cầu 9,83 ± 1,69. Không ghi nhận tử vong tại 1, 2 và 3 năm. Thời gian DFS trung bình 18,82 ± 13,21 tháng. Có 4 bệnh nhân tái phát sau ghép 3 tháng, 4 tháng, 13 tháng và 25 tháng. Tỷ lệ DFS 1 năm 88,89%, 2 năm 83,34%, 3 năm 77,78%. OS 3 năm 100%. Dữ liệu về độc tính và tỷ lệ sống không tái phát ủng hộ ghép tế bào gốc tự thân thực hiện tại các trung tâm, trong bối cảnh hiện nay vẫn là lựa chọn hàng đầu cho u lympho tái phát/kháng trị.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4429Đặc điểm sử dụng kháng sinh theo phân loại aware ở bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp cấp nặng tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2023-20242025-11-21T01:28:59+00:00Phạm Thu Anphamthuan161004@gmail.comVũ Quốc Đạtdatvq@hmu.edu.vnVũ Ngọc Hiếuvungochieu@hmu.edu.vnTrần Thị Oanhoanhcon@gmail.comTrần Thị Hoàitranhoai1980@gmail.comNgô Thị Hiếu Minhminhdg1@gmail.comNguyễn Văn Thườngthuongnhixanhpon@gmail.comNguyễn Thế Hưnghungid91.hmu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá việc sử dụng kháng sinh kinh nghiệm theo phân loại AWaRe trên 225 bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp cấp nặng tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang từ tháng 1/2023 tới tháng 8/2024. Tuổi trung bình bệnh nhân là 65 ± 16 tuổi; bệnh đồng mắc phổ biến gồm tim mạch (34,2%), hô hấp mạn tính (30,7%) và đái tháo đường (21,8%). Tỷ lệ dùng kháng sinh đơn trị liệu là 53,3%, trong đó 91,6% thuộc nhóm Watch, chủ yếu là cephalosporin thế hệ 3. Tỷ lệ dùng kháng sinh phối hợp là 46,7% trong đó kháng sinh chính vẫn thuộc nhóm Watch (90,5%); kháng sinh phối hợp thường dùng là levofloxacin (48,1%) và amikacin (21,2%). Chỉ có 16,7% bệnh nhân được sử dụng kháng sinh phù hợp theo hướng dẫn AWaRe. Không có sự khác biệt về kết cục lâm sàng ở nhóm điều trị kháng sinh phù hợp hướng dẫn AWaRe với nhóm điều trị theo kinh nghiệm.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4064Kết quả phẫu thuật tán sỏi qua da đường hầm tiêu chuẩn dưới hướng dẫn siêu âm điều trị sỏi san hô thận tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An2025-09-30T01:55:38+00:00Phạm Văn QuânVanquanydhue@gmail.comNguyễn Huy Hoànghoangnt35@gmail.comĐỗ Ngọc SơnDongocson1976@gmail.com<p class="p1"><em>Sỏi san hô là sỏi có phân nhánh chiếm phần lớn không gian trong hệ thống đài bể thận, chúng lấp đầy bể thận và phân nhánh vào một vài hoặc tất cả các đài thận. Điều trị ưu tiên hiện nay là tán sỏi qua da (TSQD). Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân được tán sỏi san hô qua đường hầm tiêu chuẩn dưới hướng dẫn siêu âm và khảo sát tỷ lệ sạch sỏi sau 1 tháng, 3 tháng của các bệnh nhân trên. Nghiên cứu 62 bệnh nhân sỏi san hô được phẫu thuật TSQD đường hầm tiêu chuẩn, thời gian từ tháng 1/2023 đến tháng 12/2024. Kết quả: 58 BN (93,5%) sử dụng 1 đường hầm và 4 BN (6,5%) cần đến đường hầm thứ 2. Tỷ lệ sạch sỏi sớm sau mổ là 77,4%, sau 1 tháng là 88,5%. Tai biến, biến chứng nhẹ có 9,67% và 4,84% gặp biến chứng nặng. Nghiên cứu cho thấy TSQD đường hầm tiêu chuẩn dưới hướng dẫn siêu âm điều trị sỏi san hô cho kết quả an toàn và hiệu quả, có tỷ lệ tai biến, biến chứng thấp.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4400Gây mê hồi sức cho phẫu thuật hút mỡ: Nhận diện nguy cơ và tối ưu hóa an toàn2025-10-27T01:19:08+00:00Phan Thuỳ Chithuychiphan@gmail.comQuách Minh Chínhv.chinhqm@vinmec.comVũ Tuấn Việtv.vietvt@vinmec.comNguyễn Thị Dungdunggmhsthainguyen@gmail.comKhương Hải Yếnv.yenkh@vinmec.comNguyễn Thu Tràv.trant1@vinmec.comHoàng Thị Ánhv.anhht16@vinmec.comĐoàn Quốc Hưnghung.doanquoc@gmail.comTrần Đức Hưngbstranduchung108@gmail.com<p class="p1"><em>Hút mỡ là thủ thuật thẩm mỹ phổ biến nhất hiện nay, nhưng các nguy cơ chưa được chú ý đầy đủ. Bài tổng quan phân tích các rủi ro mà bác sĩ gây mê cần chú ý ở người bệnh hút mỡ, đặc biệt ở các ca hút mỡ khối lượng lớn hoặc kết hợp thủ thuật khác. Quá trình tìm kiếm tài liệu, chúng tôi sử dụng các từ khóa: “liposuction”, “body contouring surgery”, “tumescent anesthesia”, “liposuction complications”, “anesthesia risk” từ cơ sở dữ liệu y học uy tín như PubMed, ScienceDirect, Cochrane Library, và Google Scholar, và hướng dẫn chuyên môn từ các hội nghề nghiệp. Chúng tôi nhận thấy, phẫu thuật hút mỡ là phẫu thuật nguy cơ cao, với các đặc điểm kỹ thuật đặc thù như sử dụng liều cao lidocaine và adrenaline trong dung dịch phân tách mỡ, biến đổi thể tích dịch nội - ngoại mạch, cũng như nguy cơ thuyên tắc mỡ và huyết khối tĩnh mạch sâu khởi phát muộn. Để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân cần có hiểu biết sâu sắc về quá trình can thiệp, các nguy cơ, cũng như cần có sự phối hợp chặt chẽ đa chuyên khoa.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4214Thiết kế và tối ưu hóa phản ứng PCR khuếch đại toàn bộ gen CPT1A phục vụ chẩn đoán thiếu hụt Carnitine Palmitoyltransferase 1A tại Việt Nam2025-10-09T01:58:34+00:00Tạ Văn Thạotavanthao@hmu.edu.vnTrần Thị Chi Maitranchimai@hmu.edu.vnĐặng Thị Thanh Maithanhmaibvcc@gmail.comNguyễn Diệu Thuỳdieuthuy241103@gmail.comNguyễn Thị Phương Thuýphuongthuy@hmu.edu.vnTrịnh Thị Phương Dungtrinhphuongdung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Thiếu hụt Carnitine palmitoyltransferase 1A (CPT1A deficiency) là rối loạn chuyển hóa bẩm sinh hiếm gặp, gây suy giảm năng lượng do khiếm khuyết vận chuyển acid béo chuỗi dài vào ty thể. Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu về đặc điểm gen CPT1A. Nghiên cứu này thiết kế 19 cặp mồi đặc hiệu khuếch đại toàn bộ exon gen CPT1A và tối ưu hóa phản ứng PCR (nồng độ mồi 0,5µM, nhiệt độ gắn mồi 55°C) bằng giải trình tự Sanger. Kết quả cho thấy tất cả 19 exon được khuếch đại thành công, kết quả điện di sản phẩm PCR cho kết quả sắc nét, đúng kích thước (228 - 458bp). Kết quả giải trình tự thế hệ mới (NGS) của một mẫu bệnh phẩm cho thấy trình tự gen thu được trùng khớp hoàn toàn với gen CPT1A (NC_000011.9). Nghiên cứu đặt nền tảng cho chẩn đoán di truyền CPT1A deficiency tại Việt Nam, hỗ trợ sàng lọc sớm và tư vấn di truyền, mở đường cho ứng dụng lâm sàng và tích hợp kỹ thuật NGS.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4336Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhiễm nấm xâm lấn ở trẻ em tại khoa điều trị tích cực Bệnh viện Nhi Trung ương2025-10-27T02:14:30+00:00Đậu Việt Hùngbsdauhung@yahoo.comTrương Văn Quýtruongquy@hmu.edu.vnTrần Thị Phươngtranphuong07121994@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ chẩn đoán nhiễm nấm xâm lấn. Nghiên cứu hồi cứu trên 39 trẻ nhiễm nấm xâm lấn tại khoa Điều trị tích cực Nội khoa - Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/01/2022 đến 31/12/2023. Điều trị tại khoa PICU > 7 ngày (87,18%), sử dụng kháng sinh phổ rộng (94,87%), đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (97,43%), sử dụng Corticoid (12,82%). Lâm sàng sốt (28,2%), sốc (82,06%), điểm PRISM III trung vị là 19 (IQR: 11 - 30). Thời gian trung vị chẩn đoán là 6 ngày (IQR: 1 - 18 ngày). Mức độ chắc chắn được chẩn đoán muộn hơn mức độ có thể (Median tương ứng là 12 ngày và 5 ngày). Không có sự khác biệt về các yếu tố nguy cơ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng giữa hai mức độ chẩn đoán (p > 0,05). Sốc, điểm PRISM III trung vị, CRP trung vị ở nhóm tử vong cao hơn so với nhóm sống (p < 0,05). C. albicans trong máu chiếm tỷ lệ cao nhất (52,94%). Kháng nấm đồ Caspofungin, Micafungin và Flucytosine cho thấy tỷ lệ nhạy cao nhất (100%). Voriconazole tỷ lệ nhạy 100%, Fluconazole nhạy 88,89% và kháng 11,11%. Amphotericin B có tỷ lệ nhạy 89,76%, trường hợp kháng 5,12% và trung gian 5,12%.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4156Thay đổi BMI ở trẻ gái dậy thì sớm trung ương sau điều trị thuốc đồng vận giải phóng Gonadotropin2025-10-03T06:12:29+00:00Cao Thị Hườngcaohuong231@gmail.comNguyễn Ngọc Khánhkhanhnn@nhp.org.vnĐỗ Cẩm Thanhdocamthanh@hmu.edu.vnNguyễn Thị HằngHangnt.hmu@gmail.comVũ Chí Dũngdungvu@nch.gov.vn<p class="p1"><em>Dậy thì sớm trung ương (DTSTƯ) là rối loạn thường gặp ở trẻ gái, khi điều trị GnRH agonist có thể ảnh hưởng đến chỉ số cơ thể (BMI). Nghiên cứu hồi cứu 205 trẻ gái DTSTƯ điều trị Triptorelin tại Bệnh viện Nhi Trung ương (6/2021 - 6/2024) nhằm đánh giá sự thay đổi BMI và BMIZ trong năm đầu. Tuổi chẩn đoán trung bình 7,3 ± 0,9 năm, nhóm 6 - 8 tuổi chiếm 91,7%; tại thời điểm ban đầu 50,7% trẻ đã thừa cân/béo phì. BMI trung bình tăng từ 17,75 lên 18,45 và BMIZ trung vị từ 1,09 lên 1,34 sau 12 tháng (BMI: p < 0,001; BMIZ: p = 0,002). Ở nhóm BMI bình thường (n = 91), BMIZ tăng tuyến tính từ tháng 3 - 12 (F = 24,319; p < 0,001), với 25% chuyển sang thừa cân/béo phì. Nhóm thừa cân (n = 70) ổn định 3 tháng đầu, sau đó tăng rõ rệt từ tháng 6 (F = 16,048; p < 0,001). Nhóm béo phì/béo phì nặng (n = 34) giảm nhẹ ban đầu, sau đó ổn định ít thay đổi (F = 2,715; p = 0,034). Điều trị GnRH làm tăng BMI, đặc biệt ở trẻ bình thường, do đó cần theo dõi và quản lý dinh dưỡng trong suốt quá trình điều trị.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4319Khảo sát biến chứng của tiếp cận động mạch quay xa trong chụp và can thiệp động mạch vành qua da2025-11-07T03:14:41+00:00Vũ Hoàng Vũvuhoangvu@gmail.comTrần Đức Trungtrung.td@umc.edu.vnVõ Thành Nhândrnhanvo@gmail.comTrương Quang Bìnhbinh.tq@umc.edu.vn<p class="p1"><em>Bệnh mạch vành là gánh nặng sức khỏe lớn trên toàn cầu. Tiếp cận động mạch quay xa trong can thiệp mạch vành được xem là một cải tiến với khả năng giảm nguy cơ biến chứng. Dù đã có dữ liệu tích cực từ nhiều quốc gia, tại Việt Nam hiện còn thiếu bằng chứng về tính an toàn của cách tiếp cận này. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả, thu nhận tất cả những bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu tại khoa Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Đại học Y Dược TP. HCM, từ tháng 11/2023 đến tháng 06/2024. Trong 158 bệnh nhân, tỉ lệ các biến chứng của tiếp cận động mạch quay xa là: đau theo thang điểm VAS: VAS 1 điểm chiếm 25%; VAS 2 điểm chiếm 11%; VAS 4 điểm chiếm 0,6%. Không có trường hợp điểm VAS > 4 điểm. Chảy máu theo phân độ EASY: Độ 1 chiếm 1,3%; độ 2 chiếm 1,9%; độ 3 chiếm 0,6%. Tắc động mạch quay 4,4% (7/158). Như vậy, tiếp cận động mạch quay xa là lựa chọn an toàn trong chụp, can thiệp mạch vành qua da.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4474Kết quả chẩn đoán trước sinh các trường hợp tăng khoảng sáng sau gáy tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội2025-11-10T02:58:15+00:00Mai Trọng Hưngbacsymaitronghung@gmail.comĐinh Thúy LinhDrdinhlinhobgyn@gmail.comLương Hoàng Thànhhoangthanh9794@gmail.comVương Hùngvuonghung280198@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu nhằm mô tả kết quả chẩn đoán trước sinh ở các trường hợp thai có tăng khoảng sáng sau gáy (KSSG) được thực hiện trên hồ sơ thai phụ siêu âm từ 11 đến 13 tuần 6 ngày (chiều dài đầu mông 45 - 84mm) có KSSG ≥ 3mm tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 1/2023 đến tháng 12/2024. Tuổi thai phụ trung bình là 29,57 ± 4,89 tuổi, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi mẹ và độ dày KSSG. Trong số các trường hợp được khảo sát, 41% có KSSG từ 3,5 - 4,4mm và 3,5% có KSSG ≥ 6,5mm. Thời điểm chọc ối chủ yếu ở tuổi thai 16 - 20 tuần. Tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể tăng dần theo độ dày KSSG, cao nhất ở nhóm ≥ 6,5mm. Nhóm thai có KSSG ≥ 4,0mm có tỷ lệ bất thường hình thái trên siêu âm cao hơn rõ rệt so với nhóm < 4,0mm (p = 0,003). KSSG tăng là dấu hiệu cảnh báo sớm cần được theo dõi hình thái chi tiết và chẩn đoán di truyền kịp thời.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4417Nghiên cứu tác dụng bảo vệ gan và chống oxy hóa của Saphia Alkali K90 trên thực nghiệm2025-10-23T04:46:29+00:00Phạm Thị Vân Anhphamvananh@hmu.edu.vnNguyễn Thị Chungphuongdunghn@gmail.comTrần Thị Minh Tâmtranthiminhtam12@gmail.comĐinh Thị Hồng Minhqlkhhocvien@gmail.comNguyễn Thị Thuýthuynguyenthi@hmu.edu.vnĐinh Thị Thu Hằngdinhthuhang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Saphia Alkali K90 là một chế phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên với các thành phần như Xạ đen, Hoàn ngọc, Bạch hoa xà thiệt thảo…; nhằm hướng tới hỗ trợ điều trị các bệnh lý về gan như viêm gan và xơ gan. Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ gan và chống oxy hóa của Saphia Alkali K90 trên thực nghiệm. Chuột nhắt được chia ngẫu nhiên vào 5 lô, mỗi lô 10 con: lô chứng sinh học, lô mô hình, lô chứng dương (silymarin) và Saphia Alkali K90 liều 18 mL/kg/ngày và 36 mL/kg/ngày. Chuột được cho uống thuốc thử hoặc nước cất liên tục trong 8 ngày. Đến ngày thứ 8, sau khi uống thuốc thử 2h, tiến hành gây tổn thương tế bào gan bằng cách cho chuột từ lô 2 đến lô 5 uống paracetamol liều 400 mg/kg. Sau 48h gây độc bằng paracetamol, tiến hành định lượng hoạt độ enzym AST, ALT, GGT, nồng độ albumin, bilirubin toàn phần, chỉ số MDA gan chuột, trọng lượng gan và hình thái đại thể, vi thể gan chuột. Kết quả nghiên cứu cho thấy Saphia Alkali K90 cả 2 liều đều có tác dụng bảo vệ gan và chống oxy hóa trên mô hình gây độc gan bằng paracetamol thông qua làm giảm hoạt độ AST, ALT, GGT, làm tăng nồng độ albumin, giảm trọng lượng gan, xu hướng có tác dụng cải thiện tổn thương trên hình ảnh đại thể, vi thể gan chuột và làm giảm hàm lượng MDA trong dịch đồng thể gan so với lô mô hình. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4357Nghiên cứu tác dụng tiêu Fibrin của Trí Bảo Hoàn trên thực nghiệm2025-11-10T02:05:33+00:00Phạm Thị Vân Anhphamvananh@hmu.edu.vnVũ Thị Lantapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNguyễn Chí Dưỡngchiduongnpc@gmail.comNguyễn Triệu Vânbsnguyentrieuvan61@gmail.comVũ Quang Huyevething18@gmail.comNguyễn Thị Thanh Loannguyenthanhloan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng tiêu fibrin của chế phẩm Trí Bảo Hoàn trên mô hình gây đông máu bằng thrombin ở thỏ. Thỏ được gây đông máu bằng cách tiêm tĩnh mạch chậm qua rìa tai dung dịch thrombin liều 15 UI/thỏ. Các chỉ số được xác định bao gồm thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) và nồng độ D-dimer để đánh giá tác dụng của Trí Bảo Hoàn lên quá trình tiêu fibrin. Bên cạnh đó, hoạt độ AST, ALT cùng nồng độ creatinin và ure trong máu được xác định nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của chế phẩm đến tổn thương tế bào gan và chức năng thận. Kết quả nghiên cứu cho thấy Trí Bảo Hoàn không ảnh hưởng đến quá trình đông máu trên thỏ bình thường. Trên mô hình thỏ gây đông máu bằng thrombin, Trí Bảo Hoàn liều 0,06 viên/kg/ngày không thể hiện tác dụng tiêu fibrin, trong khi liều 0,18 viên/kg/ngày làm tăng nồng độ D-dimer và kéo dài aPTT có ý nghĩa thống kê so với lô mô hình. Cả hai mức liều của Trí Bảo Hoàn không làm thay đổi đáng kể về cân nặng cũng như các chỉ số AST, ALT, ure và creatinin trong máu. Như vậy, Trí Bảo Hoàn liều 0,18 viên/kg/ngày thể hiện tác dụng tiêu fibrin trên mô hình gây đông máu bằng thrombin ở thỏ. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4140Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của cao lá bơ trên thực nghiệm2025-10-09T02:21:11+00:00Bùi Thu Uyêndautay154@gmail.comNguyễn Xuân Cườngfirefox5770@gmail.comLê Minh Hàhalm2vn@gmail.comPhạm Thị Vân Anhphamvananh@hmu.edu.vnĐinh Thi Thu Hằngdinhthuhang@hmu.edu.vnNguyễn Thị Châu Loanchauloanytb@gmail.comĐinh Thị Tuyết Lantuyetlan.ytb@gmail.comNguyễn Phạm Ngọc Maimaingocnguyen2809@gmail.comPhạm Thủy Phươngthuyphuongydhctvn@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá độc tính bán trường diễn của Cao lá bơ theo đường uống trên động vật thực nghiệm. Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chuột cống trắng chủng Wistar được uống Cao lá bơ với mức liều 0,24 g/kg/ngày và 0,72 g/kg/ngày trong 30 ngày liên tục. Kết quả nghiên cứu cho thấy Cao lá bơ ở cả 2 mức liều 0,24 g/kg/ngày và 0,72 g/kg/ngày không làm ảnh hưởng đến tình trạng chung, thể trọng, các chỉ số huyết học và chức năng gan, thận ở các thời điểm đánh giá. Tuy nhiên, sau 30 ngày uống, Cao lá bơ làm thay đổi mô bệnh học gan, thận của chuột cống trắng so với lô chứng sinh học. Trên hình ảnh giải phẫu bệnh vi thể, tế bào gan thoái hóa hạt mức độ nhẹ đến vừa ở cả 2 mức liều nghiên cứu của Cao lá bơ, trong khi đó, tế bào ống thận thoái hóa mức độ nhẹ ở lô liều cao. Do vậy, cần đánh giá và theo dõi chức năng gan, thận khi sử dụng sản phẩm ở các nghiên cứu tiếp theo.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4385Đánh giá tác dụng bảo vệ của “chế phẩm lá bơ” trên mô hình loét dạ dày - tá tràng bằng Cysteamin ở động vật thực nghiệm2025-10-22T04:38:29+00:00Nguyễn Xuân Cườngfirefox5770@gmail.comMai Nguyễn Thi Thimainguyenthithi@gmail.comBùi Thu Uyêndautay154@gmail.comNguyễn Xuân Hùnghung.hccpc.24424@gmail.comLê Huyền Tranghuyentrangle238@gmail.comLê Minh HàHalm2vn@gmail.comPhạm Thị Vân Anhphamthivananh.hmu@gmail.comĐậu Thùy Dươngdauthuyduong@hmu.edu.vnĐặng Thị Thu Hiênthuhien@hmu.edu.vnNguyễn Trọng Thôngntthong@daihochoabinh.edu.vnPhạm Thủy Phươngthuyphuongydhctvn@gmail.com<p class="p1"><em>Lá của cây bơ (Persea americana) đã được sử dụng trong y học dân gian ở nhiều quốc gia trên thế giới nhờ vào các đặc tính dược lý tiềm năng. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ dạ dày - tá tràng của “Chế phẩm Lá bơ” (CPLB) trên mô hình gây loét bằng cysteamin ở chuột cống trắng. Chuột được chia thành 5 lô: lô chứng sinh học, lô mô hình, lô chứng dương (famotidin 50 mg/kg/ngày), CPLB ở 2 mức liều (0,24 g/kg/ngày và 0,72 g/kg/ngày). Các lô được uống dung môi hoặc thuốc liên tục trong 7 ngày, sau đó gây loét bằng cysteamin 400 mg/kg uống hai lần, cách nhau 4 giờ. Sau 24 giờ, chuột được mổ để quan sát đại thể, đánh giá tổn thương vi thể và định lượng các chỉ số sinh hóa (AST, ALT, ure, creatinin). Kết quả nghiên cứu cho thấy cysteamin gây tổn thương loét rõ rệt ở dạ dày và tá tràng với tỷ lệ chuột bị loét lần lượt là 90% và 100%. Chế phẩm Lá bơ cho thấy tác dụng bảo vệ rõ rệt trên mô hình viêm loét dạ dày - tá tràng do cysteamin. Trên dạ dày, CPLB liều 0,24 g/kg/ngày làm giảm mức độ và số lượng ổ loét, cải thiện tổn thương vi thể. Hiệu quả này tăng lên rõ rệt ở liều 0,72 g/kg/ngày. Trên tá tràng, liều 0,72 g/kg/ngày làm giảm tỷ lệ và độ sâu ổ loét có ý nghĩa thống kê, trong khi liều thấp chỉ thể hiện xu hướng cải thiện. Như vậy, “Chế phẩm Lá bơ” có tác dụng bảo vệ dạ dày tá tràng do cysteamin gây ra trên thực nghiệm.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4174Tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống của người cao tuổi mắc đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương2025-10-02T03:33:30+00:00Bùi Thị Cẩm Tràbuithicamtrahmu118@gmail.comNguyễn Hải Dươngduong17022003@gmail.comPhạm Thị Ngọc Trâm ptram2760@gmail.comĐoàn Khánh Duykhahduy433.work@gmail.comNguyễn Hồng Đăngnguyenhdang19@gmail.comPhùng Văn Tháiphungvanthai2003@gmail.comNguyễn Trọng Hưngnguyentronghung9602@yahoo.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 209 người bệnh đái tháo đường type 2 từ 60 tuổi trở lên điều trị nội trú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương với mục tiêu mô tả tình trạng dinh dưỡng và thói quen ăn uống. Kết quả cho thấy chiều cao và cân nặng trung bình của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) lần lượt là 158,1 ± 9,86cm và 57,93 ± 9,73kg, BMI trung bình là 23,53 ± 8,55 kg/m<sup>2</sup>. Phân loại BMI theo IDI & WPRO: tỷ lệ thừa cân béo phì (TCBP) chiếm 47,37%; thiếu năng lượng trường diễn (TNLTD) chiếm 4,78%. Tỷ lệ nữ có chu vi vòng eo cao chiếm (92,0%) cao hơn nam (46,9%), (p < 0,05). Tỷ lệ VE/VM cao chiếm 85,17%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo chu vi vòng cánh tay ở nữ (30,1%) cao hơn nam (19,8%). Tỷ lệ ăn 3 bữa/ngày là 32,54%, 4 bữa/ngày là 40,67%; tỷ lệ ăn sáng hằng ngày là 95,22%; tỷ lệ ăn đêm hàng ngày ở nam (12,5%) cao gấp đôi nữ (5,3%). Đa số ĐTNC duy trì giờ ăn cố định (85,2%) và mức độ ăn vừa đủ (78,5%), hơn một nửa có thời gian ăn chậm > 30 phút (55,5%). </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4478Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Ngoại khoa 115 Nghệ An2025-11-13T04:24:21+00:00Bùi Thị Cẩm Tràbuithicamtrahmu118@gmail.comTrần Hương Lamtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnMai Thị Kim Anhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnBùi Hồng Quangtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Ngoại khoa 115 Nghệ An từ 02/2025 đến tháng 10/2025. 306 đối tượng nghiên cứu được cân đo nhân trắc và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng chỉ số khối cơ thể (BMI) và đánh giá tổng thể chủ quan (SGA). Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo phân loại BMI của WHO là 11,44%, thừa cân và béo phì lần lượt chiếm 10,78% và 1,31%. Theo SGA, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) mức độ nhẹ & vừa chiếm 54,9%, 10,78% SDD mức độ nặng. Tỷ lệ nữ giới suy dinh dưỡng chiếm 75,55% cao hơn so với nam giới (59,9%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR = 2,06; 95%CI: 1,22 - 3,46; p < 0,05). Người bệnh không thiếu máu có nguy cơ SDD theo SGA thấp hơn so với người có thiếu máu, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (OR = 0,31; 95%CI: 0,1 - 0,92; p < 0,05). Tỷ lệ SDD ở nội trú tương đối cao theo SGA, cần tăng cường sàng lọc và đánh giá dinh dưỡng ngay từ khi nhập viện, đồng thời xây dựng chương trình can thiệp dinh dưỡng sớm và cá thể hóa nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và rút ngắn thời gian điều trị cho người bệnh.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4438Đánh giá thuật toán trí tuệ nhân tạo DRAID™ endo trong phát hiện tổn thương ung thư dạ dày trên hình ảnh nội soi2025-11-11T06:24:36+00:00Đào Việt Hằngdaoviethang@hmu.edu.vnNguyễn Thanh Tùngnguyentunguh@gmail.comLâm Ngọc Hoangochoaigh@gmail.comNguyễn Thị Huyền Trangnthtrang0701@gmail.comNguyễn Phúc Bìnhbinhnguyen.fsh@gmail.comNguyễn Ngọc Hoằnghoannguyen@nvidia.comSteven Trương Quốc Hùngsqtruong@nvidia.comĐào Văn Longbsdaovanlong@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá độ chính xác trong khả năng phát hiện và khoanh vùng tổn thương ung thư dạ dày (UTDD) trên hình ảnh nội soi của thuật toán AI (hệ thống DrAid™ Endo) hỗ trợ phát hiện tổn thương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa Gan mật (IGH) từ 04/2024 đến 12/2024. Thuật toán được kiểm chứng trên tập ảnh tĩnh bao gồm 934 ảnh nội soi dạ dày không có tổn thương và 122 ảnh nội soi UTDD ở 4 chế độ ánh sáng (WLI, BLI, LCI, FICE) với chuẩn vàng là gán nhãn của chuyên gia. Độ chính xác được đánh giá bằng các chỉ số gồm: độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp) và độ chính xác (Acc). Tỷ lệ nhận đúng tổn thương của AI là 89,5% trên tổng số tổn thương. Các chỉ số Se, Sp và Acc lần lượt là 90,2%, 100% và 98,7%. 22/122 ảnh (18,3%) có tổn thương được AI khoanh vùng rộng/hẹp hơn so với khoanh vùng gốc của chuyên gia. Thuật toán phát hiện tổn thương UTDD của DrAidEndo có độ chính xác cao, cần mở rộng nghiên cứu trên nội soi thời gian thực và tăng cường dữ liệu tổn thương tiền ung thư để đánh giá toàn diện hơn hệ thống này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4375Mất ngủ và một số yếu tố liên quan ở người bệnh sau phẫu thuật hàm mặt tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 20242025-11-09T23:01:54+00:00Đăng Thị Loanloandt@thanglong.edu.vnPhan Thị Thuýthuygmhs1986@gmail.comHoàng Phương Anhhoangphuonganh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng mất ngủ và một số yếu tố liên quan ở người bệnh sau phẫu thuật hàm mặt. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 140 người bệnh sau phẫu thuật hàm mặt tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội; sử dụng thang đo Insomnia Severity Index (ISI) để xác định mức độ mất ngủ. Kết quả chỉ ra có 48,6% người bệnh mất ngủ nhẹ và 9,3% mất ngủ trung bình. Khi đánh giá mức độ vừa và trầm trọng của các biểu hiện mất ngủ trên đối tượng nghiên cứu, một số biểu hiện có tỷ lệ cao như 46,4% cho rằng khó đi vào giấc ngủ, 45% khó duy trì giấc ngủ, 38,6% tỉnh dậy quá sớm; 42,1% người tham gia đánh giá mất ngủ ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống mức độ vừa và nhiều. Người bệnh có tiền sử phẫu thuật trước đó, có mất ngủ trước phẫu thuật, và gặp khó khăn khi ăn uống sau phẫu thuật có nguy cơ mất ngủ cao hơn (p < 0,05). Tóm lại, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật và tăng khả năng hồi phục, cần quan tâm đến tiền sử phẫu thuật, chất lượng giấc ngủ trước phẫu thuật, và khả năng ăn uống của người bệnh sau phẫu thuật. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4457Tình trạng sức khỏe răng miệng và chất lượng cuộc sống của trẻ khe hở môi vòm miệng từ 6 - 12 tuổi2025-11-20T01:34:06+00:00Đinh Thị Như Thảothaodinhthinhu85@gmail.comLê Trung Chánhlechanh312@yahoo.comNguyễn Ngọc Vân Phươngnnvanphuong@pnt.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 140 trẻ khe hở môi - vòm miệng từ 6 đến 12 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 nhằm mô tả tình trạng sức khỏe răng miệng và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe răng miệng, sử dụng khám lâm sàng (chỉ số SMT/smt, OHI-S, IOTN) và bộ công cụ Child-OIDP. Kết quả cho thấy tình trạng sức khỏe răng miệng của nhóm trẻ này rất kém, với tỷ lệ sâu răng chung lên đến 86,43% (smt-r trung bình 3,72; SMT-R trung bình 2,01), chỉ số vệ sinh răng miệng (OHI-S) ở mức trung bình (2,08 ± 0,15), và gần như toàn bộ trẻ (99,3%) có sai khớp cắn nặng cần điều trị (IOTN-DHC). Tình trạng này kéo theo những ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến chất lượng cuộc sống, với 66,58% trẻ bị ảnh hưởng lên ít nhất một hoạt động sống hàng ngày. Các hoạt động bị tác động nhiều nhất là phát âm (74,29%), cười (72,1%) và ăn nhai (69,3%). Tóm lại, trẻ khe hở môi - vòm miệng 6 - 12 tuổi đối mặt với gánh nặng lớn về sâu răng và viêm nướu gây suy giảm rõ rệt chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu kết luận rằng cần có các chương trình can thiệp toàn diện, chuyên biệt nhằm cải thiện SKRM để nâng cao chất lượng sống cho nhóm trẻ dị tật này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4187Sự hài lòng của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 20242025-10-03T02:14:06+00:00Đỗ Thu Hàdothuha94@gmail.comLê Thị Thanh Xuânlethithanhxuan@hmu.edu.vnBùi Thị Hải Yếnhaiyenbvpy@gmail.comĐỗ Văn Thiêndrthienpy@gmail.comTrần Thảo Lytranthaoly205@gmail.comLê Thu TrangLetrang.ydhn@gmail.com<p class="p1"><em>Tiêu chí hài lòng của người bệnh là thước đo đánh giá chất lượng dịch vụ bệnh viện, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Nghiên cứu nhằm mô tả kết quả khảo sát 185 người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên từ tháng 9/2024 đến hết tháng 12/2024, sử dụng bộ câu hỏi tự điền theo Quyết định 56/2024/TT-BYT của Bộ Y tế. Kết quả cho thấy tỉ lệ hài lòng chung của người bệnh nội trú đạt 90,8%, điểm trung bình 4,28 ± 0,28. Trong đó, khía cạnh về “Thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y tế” có tỉ lệ hài lòng cao nhất (95,7%, điểm trung bình 4,36/5). Khía cạnh “Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh” có tỉ lệ hài lòng thấp nhất (89,8%, điểm trung bình 4,2/5). Một số hạn chế cần khắc phục là tình trạng nhà vệ sinh, nhà tắm chưa đảm bảo (89,2%), dịch vụ internet chưa ổn định (91,4%) và sự hài lòng về căng-tin còn chưa cao (77,8%). Kết quả nghiên cứu gợi ý một số khuyến nghị cụ thể cải thiện một số khắc phục tại bệnh viện nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Y tế.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4444Thực trạng sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp ở một số cơ sở y tế tại Việt Nam năm 20252025-11-24T03:03:01+00:00Hồ Thị Kim Thanhhokimthanh@hmu.edu.vnVũ Việt Hằngvuviethang@hmu.edu.vnVõ Hồng Sởdrvohongso@gmail.comThiều Đình HưngHungbsbv71@gmail.comTrần Thị Hương Lýhuonglynb299@gmail.comLê Thị Thu Hươnglethuhuongbvdkvt@gmail.comDương Thị Ngọc Tâmtuyentamyt@gmail.comNguyễn Thị ThanhThanhgaco99x@gmail.comLê Thị Thu Hiềnthuhien.med@gmail.comĐỗ Nguyên Vũdonguyenvuhmu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp và đạt huyết áp mục tiêu tại Việt Nam năm 2025, các phác đồ điều trị đang được áp dụng và xu hướng sử dụng viên phối hợp liều cố định (SPC). Nghiên cứu mô tả cắt ngang đa trung tâm được tiến hành trên 3.197 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại 7 cơ sở y tế (3 vùng Nam, Trung, Bắc). Kết quả cho thấy 54,5% bệnh nhân được điều trị đơn trị liệu, trong khi 45,5% sử dụng phối hợp từ hai thuốc trở lên, trong đó 17,9% dùng SPC và 15,9% phối hợp rời. Phối hợp ba thuốc chiếm 9,8% và ≥ 4 thuốc chiếm 1,7%. Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu < 140/90mmHg là 73,6%, và < 130/80mmHg là 26,5%. Tỷ lệ sử dụng SPC cao hơn rõ tại các cơ sở tuyến tỉnh và trung ương so với tuyến cơ sở. Kết quả cho thấy xu hướng gia tăng sử dụng phác đồ phối hợp, đặc biệt SPC, phù hợp với khuyến cáo quốc tế (ISH 2020, ESH 2023, WHO 2025), song mức độ triển khai chưa đồng đều, cần tăng cường hướng dẫn và chuẩn hóa điều trị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát huyết áp trên toàn quốc.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4469Stress và các yếu tố liên quan ở học viên chuyên khoa cấp II tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch2025-11-09T23:08:36+00:00Huỳnh Yến Nhưyennhu1706@gmail.comTrần Tiến Tàitrantientai@pnt.edu.vnNgô Thị Thùy Dungdungngo.yhcd@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm mô tả tình trạng stress và các yếu tố liên quan của học viên Chuyên khoa cấp II tại trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch trong năm 2025. Nội dung nghiên cứu bao gồm các đặc điểm nhân khẩu, thông tin học tập với tình trạng Stress của học viên thông qua thang đo GHQ-12. Kết quả cho thấy tỉ lệ học viên stress khá cao chiếm 53,2%. Các yếu tố như kinh tế; học phí; nhóm tuổi và tình trạng việc làm có liên quan đến tình trạng Stress của học viên. Một số giải pháp đề xuất bao gồm giảm học phí cho học viên có khó khăn về tài chính, chia nhỏ học phí thanh toán theo đợt giảm bớt áp lực học tập cho học viên.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4181Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành phòng sốt xuất huyết của khách hàng người lớn đến phòng tiêm chủng Trường Đại học Y Hà Nội năm 20242025-09-24T01:16:47+00:00Lê Thu Trangletrang.ydhn@gmail.comNguyễn Hữu Đức Anhnhducanh.hmu@gmail.comBùi Huyền Trangbuihuyentrang291@gmail.comNguyễn Bạch Ngọcnguyenbachngoc20032001@gmail.comNguyễn Văn Thànhthanhnv@hmu.edu.vnLê Thị Thanh Xuânlethithanhxuan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Sốt xuất huyết Dengue là bệnh lưu hành tại Việt Nam với khoảng 100.000 ca mỗi năm. Nghiên cứu cắt ngang trên 500 khách hàng tại phòng tiêm chủng Trường Đại học Y Hà Nội năm 2024 nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) phòng bệnh sốt xuất huyết. Tuổi trung bình của đối tượng là 31,1 ± 9,4; nữ chiếm 70,4% và đa số sống tại nội thành (91,8%). Chỉ 16,6% có kiến thức đạt, 24,2% biết đã có vắc xin, trong khi 64,8% được đánh giá có thái độ tích cực. Về thực hành, khoảng 75% thường xuyên vệ sinh, đậy nắp dụng cụ chứa nước, 64,2% phun thuốc muỗi, 67% ngủ màn và 91,4% sẵn sàng đi khám khi có triệu chứng. Tuy nhiên, chỉ 63,8% có thực hành đạt yêu cầu. Nghiên cứu chỉ ra khoảng cách rõ rệt giữa kiến thức, thái độ và hành vi phòng bệnh, nhấn mạnh sự cần thiết của truyền thông - giáo dục sức khỏe, củng cố niềm tin vào vắc xin và khuyến khích duy trì hành vi phòng bệnh chủ động, đặc biệt tại nhóm dân cư ít tiếp cận thông tin.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4500Tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin cúm ở người cao tuổi mắc bệnh động mạch vành và/hoặc suy tim tại Bệnh viện Thống Nhất2025-11-24T01:40:23+00:00Nguyễn Văn Tânnguyenvtan10@gmail.comNguyễn Quang Huyquanghuyyds@gmail.comLương Đức Khảiluongduckhai1998@gmail.com<p class="p1"><em>Tiêm vắc xin cúm giúp giảm biến chứng và tử vong ở người cao tuổi mắc bệnh tim mạch, song tỉ lệ tiêm ngừa tại Việt Nam còn thấp. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu trên 606 bệnh nhân ≥ 60 tuổi mắc bệnh động mạch vành và/hoặc suy tim điều trị tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 8/2024 đến tháng 2/2025, với mục tiêu xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến việc tiêm ngừa cúm. Tỉ lệ bệnh nhân được tiêm ngừa đạt 48,2%. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy mắc hội chứng vành cấp tại thời điểm nhập viện, trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, tự kiếm tiền, hút thuốc lá, tiền căn nhồi máu cơ tim, tiền căn bệnh động mạch ngoại biên, tình trạng suy yếu (CFS ≥ 5) là các yếu tố độc lập liên quan đến việc tiêm ngừa với p < 0,05. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4442Hỗ trợ xã hội và các yếu tố liên quan ở người nhiễm HIV/AIDS tại Thành phố Hồ Chí Minh2025-11-18T01:36:07+00:00Nguyễn Mạnh Cườngcuongnm@pnt.edu.vnCao Nguyễn Hoài Thươngcaonguyenhoaithuong@pnt.edu.vnTrần Minh Tháithaitm@pnt.edu.vn<p class="p1"><em>Người nhiễm HIV/AIDS, ngoài các vấn đề về bệnh và điều trị, cũng thường phải đối mặt với các vấn đề xã hội. Nghiên cứu này nhằm xác định điểm trung bình hỗ trợ xã hội cảm nhận được ở người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm Y tế Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan. Hỗ trợ xã hội được đánh giá bằng thang đo MSPSS. Điểm trung bình hỗ trợ xã hội là 5,14 ± 1,36. Kết quả cho thấy người có học vấn từ trung học phổ thông trở lên, đã kết hôn, thu nhập cao, đã tiết lộ tình trạng nhiễm có điểm trung bình hỗ trợ xã hội cao hơn người chưa hoàn tất trung học phổ thông, ly thân/ly dị/góa, thu nhập thấp và chưa tiết lộ tình trạng nhiễm. Do đó, các chương trình quản lý điều trị người nhiễm HIV/AIDS cần chú ý hơn đến các khía cạnh kinh tế - xã hội để nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng sống của người tham gia.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4306Tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân suy tim mạn: Độ phù hợp của thang điểm SGA so với BMI và Albumin huyết thanh2025-11-11T02:46:05+00:00Nguyễn Bá Mạnh Vinhmanhvinh0208@gmail.comPhan Thanh Vũphanthanhvu7668@gmail.comVõ Thị Thanh ThùyVothithanhthuy21296@gmail.comNguyễn Thị Anh Đàoanhdao2506.tm2@gmail.comĐặng Hoàng Khánh Duydhkduy1996@gmail.comNguyễn Nhat Annhatanstudy@gmail.com<p class="p1"><em>Suy dinh dưỡng là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân suy tim mạn, nhưng tỷ lệ khác nhau tùy theo công cụ đánh giá. Nghiên cứu trên 125 bệnh nhân nội trú tại Khoa Tim mạch II, Bệnh viện Nguyễn Trãi (12/2024 - 05/2025) sử dụng thang điểm Subjective Global Assessment (SGA), chỉ số BMI và albumin huyết thanh để đánh giá dinh dưỡng. Kết quả cho thấy 57,6% bệnh nhân suy dinh dưỡng theo SGA, cao hơn nhiều so với BMI (11,2%) và albumin (44,8%). SGA phát hiện nhiều trường hợp suy dinh dưỡng hơn, kể cả ở bệnh nhân có BMI hoặc albumin bình thường, cho thấy công cụ này nhạy hơn và nên được áp dụng trong thăm khám định kỳ nhằm phát hiện sớm và can thiệp dinh dưỡng kịp thời.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4168Chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan ở người bệnh viêm gan B điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 20252025-10-08T06:35:25+00:00Nguyễn Thành Longthanhlongnguyenhmu253@gmail.comVũ Quang Đạovuquangdao1993@gmail.comPhạm Thị Nguyệt Ngaphamthinguyetnga@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu khảo sát chất lượng giấc ngủ bằng thang PSQI và một số yếu tố liên quan ở người bệnh viêm gan B điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 125 người bệnh đang điều trị nội trú và ngoại trú tại Tại khoa Khám Bệnh và khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ đến tháng 07/2025 đến tháng 09/2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 56% người bệnh có chất lượng giấc ngủ kém. Tỷ lệ này cao hơn ở nhóm trên 40 tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Người bệnh điều trị nội trú có tỷ lệ rối loạn giấc ngủ cao hơn so với ngoại trú ở phân tích đơn biến, tuy nhiên mối liên quan này không còn ý nghĩa ở phân tích đa biến. Các yếu tố khác như giới tính, nghề nghiệp, nơi sống, thời gian mắc bệnh, số đợt cấp và sử dụng bảo hiểm y tế không có mối liên quan với chất lượng giấc ngủ. Kết quả này cho thấy cần tăng cường sàng lọc rối loạn giấc ngủ ở người bệnh viêm gan B, đặc biệt ở nhóm lớn tuổi và điều trị nội trú; đồng thời nên kết hợp các biện pháp hỗ trợ tâm lý, quản lý stress và lo âu nhằm cải thiện chất lượng giấc ngủ và chất lượng sống cho người bệnh.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4484Đặc điểm lâm sàng hành vi tự gây thương tích không tự sát ở người bệnh vị thành niên (10 - 19 tuổi) điều trị nội trú tại viện sức khoẻ tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai2025-11-18T02:07:15+00:00Nguyễn Thị Hoahoanguyen@hmu.edu.vnNgô Văn Tuấtngovantuat66@gmail.comVương Đình ThủyBsdinhthuy1991@gmail.comNguyễn Hồng HảiNguyenhai154996@gmail.comPhạm Thị Kim Chipkchivsktt@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng hành vi tự gây thương tích không tự sát trên đối tượng trẻ vị thành niên. Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Sức khoẻ Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ 02/2025 đến 07/2025 theo phương pháp cắt ngang trên những người bệnh điều trị nội trú trong độ tuổi từ 10 - 19 tuổi. Trong 157 người được nghiên cứu, 70 người bệnh (44,6%) có hành vi tự gây thương tích không tự sát. Hành vi được sử dụng nhiều nhất là cắt và đập hoặc đánh vào cơ thể mình (cùng là 62,9%). Đốt là hành vi ít được sử dụng nhất (2,9%). Hành vi xuất hiện sớm nhất khi trẻ 5 tuổi, thường được thực hiện khi ở một mình (72,9%). Thời gian từ khi có ý định đến khi thực hiện hành vi chủ yếu là dưới 1 giờ (71,4%). Kết quả cung cấp thông tin về biểu hiện lâm sàng giúp cho người bệnh và gia đình phát hiện sớm dấu hiệu của hành vi và tìm đến sự trợ giúp của chuyên gia càng sớm càng tốt. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4212Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 20252025-10-10T01:26:30+00:00Trần Thị Thúy HườngThuyhuongtran889@gmail.comTrần Thị Phương Thảotpthao1975@gmail.comNguyễn Hải PhươngHphuong51975@gmail.comNguyễn Lan Hươnghuongnguyenlan070990@gmail.comKhúc Thị Hồng Anhkhuchonganhyhn74@gmail.comLê Thị HằngHangccbm@gmail.comNguyễn Thị Sơnntson@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 340 người bệnh tăng huyết áp trong thời gian từ tháng 03/2025 đến tháng 06/2025. Mục tiêu nghiên cứu là mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ sử dụng thuốc là 67,1%, trong đó có 27,7% tuân thủ tốt và 39,4% tuân thủ trung bình. Tỷ lệ không tuân thủ/tuân thủ kém là 32,9%. Xác định mối liên quan ghi nhận người bệnh có độ tuổi từ 60 đến dưới 80, có trình độ học vấn từ THPT trở lên và có thu nhập từ 5 triệu đến dưới 10 triệu có tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc cao hơn so với người dưới 60 tuổi, người có trình độ dưới THPT và người có thu nhập dưới 5 triệu là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Người bệnh có huyết áp đạt mục tiêu có số chênh tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc cao gấp 3,3 lần so với người không đạt huyết áp mục tiêu (95%CI: 2-5,5). Cần tăng cường can thiệp nâng cao tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc nhằm đạt mục tiêu kiểm soát huyết áp.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4252Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đại trực tràng đang điều trị hoá chất tại Bệnh viện E2025-10-21T02:26:37+00:00Nguyễn Bích Linhnguyenbichlinh1998@gmail.comNguyễn Thị Sơnntson@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư đại trực tràng và nhận xét một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư đại trực tràng đang điều trị hóa chất tại Bệnh viện E. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tháng 9/2024 đến tháng 9/2025, chọn mẫu thuận tiện 102 người bệnh ung thư đại trực tràng tham gia nghiên cứu. Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư đại trực tràng ở mức trung bình là 56,87 ± 15,04 điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của chất lượng cuộc sống theo thang điểm QLQ-C30. Trong đó, điểm chức năng (Funcional scales) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với trình độ học vấn, điểm chức năng tăng dần theo trình độ học vấn ảnh hưởng tích cực đến CLCS; Điểm triệu chứng (Symptom scales) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm tuổi, nhóm người trên 65 tuổi điểm triệu chứng cao hơn gây ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS; Điểm trung bình (Global health status) chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm tuổi, giới, chỉ số BMI, nghề nghiệp, trình độ học vấn, giai đoạn bệnh và số chu kỳ điều trị hóa chất. Cần tăng cường can thiệp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư đại trực tràng đang điều trị hóa chất.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4317Tình trạng mọc răng, thiếu răng, răng mọc kẹt trên bệnh nhân tạo xương bất toàn2025-11-10T01:29:30+00:00Nguyễn Thị Thu Hươngthuhuongnguyen@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm mô tả tình trạng mọc răng, thiếu răng và răng mọc kẹt ở bệnh nhân tạo xương bất toàn (OI). Thông tin thu thập trên 98 bệnh nhân OI từ 2 - 19 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2018 - 2023. Đặc điểm mọc răng, thiếu răng và răng mọc kẹt được ghi nhận qua thăm khám lâm sàng và X-quang toàn cảnh. Kết quả cho thấy phần lớn bệnh nhân OI có mọc răng trong giới hạn bình thường (80%). Răng hàm lớn thứ hai hàm trên mọc kẹt gặp ở 30,8% bệnh nhân trên 14 tuổi, cao hơn so với dân số chung. Thiếu răng vĩnh viễn được ghi nhận ở 5,9% bệnh nhân trên phim toàn cảnh. Như vậy, đa số bệnh nhân OI trong nghiên cứu có mọc răng trong giới hạn bình thường, tuy nhiên vẫn ghi nhận một tỷ lệ không nhỏ răng hàm lớn thứ hai hàm trên mọc kẹt và thiếu răng. Việc theo dõi sát sự phát triển răng miệng ở nhóm bệnh nhân này là cần thiết để phát hiện và can thiệp kịp thời.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4092Thực trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương2025-09-02T22:29:07+00:00Mai Hải Yếnmaihaiyencc96@gmail.comNguyễn Thị Thúy Hồngbshong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì phản ánh gánh nặng kép dinh dưỡng và nguy cơ gia tăng rối loạn chuyển hóa. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 trẻ, mô tả thực trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng ở trẻ thừa cân, béo phì đơn thuần tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả cho thấy: nhóm ≥ 5 tuổi chiếm 77,5%, nam nhiều hơn nữ (59% so với 41%), tỷ lệ trẻ ở nông thôn cao hơn thành thị (59,5% so với 40,5%). Béo phì chiếm ưu thế (77,5%), thừa cân 22,5%. Các biểu hiện lâm sàng và biến chứng chuyển hóa xuất hiện nhiều hơn ở nhóm béo phì, gồm dấu hiệu: gai đen (51,0% so với 37,8%), gan nhiễm mỡ và rối loạn glucose máu lúc đói hoặc HbA1c ≥ 6,5%. Về vi chất, thiếu vitamin D phổ biến nhất (52,0%), tiếp đến là thiếu sắt (32,0%), kẽm (18,5%), canxi ion hóa (14,0%), canxi toàn phần (13,0%), phospho (13,5%) và magie (8,0%). Trẻ béo phì có nồng độ 25(OH)D trung bình thấp hơn nhóm thừa cân (52,22 ± 19,86 so với 57,75 ± 23,97 nmol/L), với nguy cơ thiếu vitamin D cao gấp hơn 4 lần (OR = 4,279; p = 0,001).</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4249Bạo lực tâm lý trên không gian mạng của sinh viên khoa y tế công cộng Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch2025-10-23T08:06:29+00:00Nguyễn Trà Mymymy291103@gmail.comLê Thị Dunglethidung@pnt.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả thực trạng và xác định tỷ lệ bạo lực tâm lý trên không gian mạng của sinh viên khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm học 2024 - 2025. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ tháng 3/2025 đến tháng 5/2025 với 263 sinh viên tham gia. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự điền, đánh giá bằng thang đo Thang đo Nạn nhân bị bắt nạt trực tuyến (Cyberbulling Victimization Scale - CVS). Kết quả cho thấy thời gian sử dụng Internet phần lớn là trên 5 giờ/ngày. Tỷ lệ sinh viên bị bạo lực tâm lý trên không gian mạng khá cao, chiếm 60,5% sinh viên đã từng trải qua ít nhất một hình thức bạo lực tâm lý trên không gian mạng trong 3 tháng gần nhất. Nghiên cứu khuyến nghị cần có các chương trình giáo dục và hỗ trợ tâm lý phù hợp để nâng cao kỹ năng ứng phó cho sinh viên. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4201Tỷ lệ mắc tiền tăng huyết áp ở sinh viên ngành y khoa Trường Đại học Y dược Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan2025-10-08T02:55:51+00:00Nguyễn Xuân Linhnguyenxuanlinh213@gmail.comTrần Thị Hồng Vânhyppocrateyk88@gmail.comQuàng Minh Hiếuquangminhhieu2000@gmail.comNguyễn Thị Thanh Huyềnnguyenthithanhhuyen2004@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 428 sinh viên Y khoa chính quy tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025 với mục tiêu xác định tỷ lệ Tiền tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở sinh viên ngành y khoa Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên năm 2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiền tăng huyết áp chung là 33,2%; trong nhóm sinh viên nam, tỷ lệ Tiền tăng huyết áp là 36,4% cao hơn so với tỷ lệ trên của nhóm sinh viên nữ (30,2%). Tỷ lệ này tăng dần trong từng nhóm năm học và cao nhất ở nhóm sinh viên năm thứ 5 với 47,6%. Các yếu tố liên quan đến tiền tăng huyết áp gồm: tiền sử gia đình, sử dụng đồ ăn nhiều muối, đồ ăn nhanh, đồ chiên rán thường xuyên, tập thể dục không thường xuyên, thời gian học > 3 năm và kết quả học tập ≤ 3,2. Tỷ lệ tiền tăng huyết áp ở sinh viên ngành Y khoa trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên ở mức tương đối cao và một số yếu tố về tiền sử gia đình, lối sống, tình trạng học tập có liên quan đến tỷ lệ trên. </em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/418278. Thành phần cơ thể và hoạt động thể lực của sinh viên bác sĩ đa khoa năm 3 và 4 tại Trường Đại học Y dược Hải Phòng năm 20242025-10-03T07:24:49+00:00Nguyễn Xuân Tràxuantra113113@gmail.comNghiêm Nguyệt Thunghiemnguyetthu@dinhduong.org.vnNguyễn Quang Dũngnguyenquangdung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu này nhằm phân tích thành phần cơ thể và hoạt động thể lực của sinh viên y đa khoa. Thiết kế mô tả cắt ngang được thực hiện trên 110 sinh viên năm thứ ba và năm thứ tư tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng. Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp đo nhân trắc học và phân tích thành phần cơ thể trở kháng điện sinh học (BIA) InBody 270. Bảng câu hỏi quốc tế về hoạt động thể chất (IPAQ) được sử dụng để khảo sát. Kết quả cho thấy có 16,4% sinh viên có chỉ số khối cơ thể (BMI) thừa cân, 9,1% thiếu cân. Nữ có tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể (PBF) trung bình cao hơn nam (28,1% so với 20,3%; p < 0,001), với 55,7% vượt ngưỡng. Có 2,7% tổng số sinh viên có chỉ số mỡ nội tạng (VFL) vượt ngưỡng trong khi chỉ số BMI nằm trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ hoạt động thể lực cao (đạt giá trị đơn vị chuyển hóa hơn 3000 MET.phút/tuần) của nam cao hơn nữ (16,3% so với 1,6%). Nhiều sinh viên có PBF và VFL ở mức cao dù BMI bình thường. Bên cạnh đó, mức hoạt động thể lực giữa nam và nữ vẫn còn hạn chế, cần can thiệp giáo dục dinh dưỡng và vận động trong nhóm sinh viên.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4425Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ít xâm lấn cố định cột sống vùng thắt lưng cùng tại một số bệnh viện ở Hà Nội2025-11-11T02:39:10+00:00Phạm Văn Hiệptranghiep92@gmail.comNguyễn Trường Namnam.nguyentruong@phenikaa-uni.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang (sử dụng bộ câu hỏi SF-36 và chỉ số mức độ suy giảm chức năng cột sống - ODI) được thực hiện trên 115 người bệnh sau phẫu thuật ít xâm lấn cố định cột sống thắt lưng cùng tại một số bệnh viện ở Hà Nội năm 2025. Sau ít nhất 6 tháng, 84,3% người bệnh đạt chất lượng cuộc sống “Tốt”, điểm ODI trung bình là 23,2 ± 20,1, với 68,7% ở mức “Mất chức năng ít”. Phân tích đơn biến xác định bốn yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: ODI, tập phục hồi sau ra viện, thời gian bệnh trước mổ và hoàn cảnh sống. Tuy nhiên, phân tích hồi quy đa biến chỉ ra ODI là yếu tố tiên lượng độc lập duy nhất đối với chất lượng cuộc sống (OR hiệu chỉnh = 0,108, p < 0,05). Phẫu thuật ít xâm lấn cố định cột sống vùng thắt lưng cùng mang lại tỷ lệ chất lượng cuộc sống “Tốt” cao. Mức độ suy giảm chức năng cột sống là yếu tố dự báo độc lập và mạnh mẽ nhất đối với kết quả chất lượng cuộc sống sau mổ.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4217Mối liên quan của thời gian sử dụng tai nghe và ngưỡng nghe của sinh viên y khoa Trường Đại học Y Hà Nội2025-11-03T07:14:52+00:00Trần Hữu Trungtranhuutrung1915@gmail.comPhạm Phú Quangquangpham2602@gmail.comHà Minh Đứcducnthd@gmail.comĐỗ Thanh Tuấndothanhtuan@hmu.edu.vnLê Đình Tùngtung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, các bệnh lý suy giảm thính lực ngày càng phổ biến ở người trẻ, đặc biệt trong bối cảnh thiết bị nghe cá nhân trở nên thiết yếu và dễ tiếp cận. Nghiên cứu cắt ngang này được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 10/2023 nhằm đánh giá mối liên quan của thời gian sử dụng tai nghe và ngưỡng nghe trên 69 sinh viên y khoa Trường Đại học Y Hà Nội bằng đo thính lực đơn âm đường khí. Kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ngưỡng nghe giữa hai tai với tai phải có ngưỡng nghe trung bình thấp hơn tai trái ở hầu hết các tần số từ 125 Hz đến 4000 Hz (p < 0,01). Tuy nhiên, kết quả không cho thấy bằng chứng rõ ràng về ảnh hưởng của thời gian sử dụng tai nghe đối với ngưỡng nghe của hai tai tại các tầnsố đã khảo sát. Mặc dù vậy, không thể loại trừ tác động dài hạn lên thính lực theo thời gian.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4227Hội chứng chuyển hóa và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tỉnh Quảng Bình cũ năm 20222025-10-09T06:29:55+00:00Nguyễn Thị Sáunguyenthisau130898@gmail.comĐỗ Thanh Bìnhbsbinhdothanh@gmail.comTrần Khánh Toàntrankhanhtoan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc hội chứng chuyển hoá (HCCH) và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại cộng đồng. Tổng cộng 640 người cao tuổi tại bốn xã/phường của tỉnh Quảng Bình cũ năm 2022 được phỏng vấn, thăm khám, xét nghiệm và chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn NCEP ATP- III điều chỉnh. Tỷ lệ hiện mắc HCCH là 48,5%, cao hơn ở nữ (58,9%) so với nam (33,1%). Thành phần có tỷ lệ mắc cao nhất là huyết áp tăng (68,6%) và thấp nhất là béo bụng (36,4%). Các yếu tố liên quan độc lập với khả năng mắc HCCH gồm BMI cao, tỷ lệ mỡ cơ thể cao, có bệnh mạn tính đi kèm, và điều kiện kinh tế tốt hơn. HCCH phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt trong nhóm có huyết áp cao, thừa cân/ béo phì và có bệnh đồng mắc. Cần ưu tiên dự phòng, sàng lọc và quản lý tại tuyến chăm sóc ban đầu, tập trung vào kiểm soát cân nặng và mỡ cơ thể nhằm giảm gánh nặng bệnh tật ở nhóm dân số này.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4087Tình trạng kiệt sức và yếu tố liên quan của bác sĩ nội trú Đại học Y dược Thái Nguyên2025-09-09T01:50:02+00:00 Trần Tuấn Tútrantuantu@tump.edu.vnHoàng Hoài ThươngThuonghoang.tump@gmail.comBùi Mỹ AnhBuianh250997@gmail.comNgô Đình Hoàngohoa152831@gmail.comPhạm Duy Phanduyphan270902@gmail.comĐăng Thị Loanloandt@thanglong.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng kiệt sức và phân tích các yếu tố liên quan ở bác sĩ nội trú Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 89 bác sĩ nội trú từ tháng 01 đến tháng 06/2025. Tình trạng kiệt sức được đánh giá bằng bộ công cụ Maslach Burnout Inventory – Student Survey. Trong đó sử dụng hồi quy logistic đơn biến và đa biến để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với tình trạng kiệt sức. Tỷ lệ kiệt sức của các bác sĩ nội trú trong nghiên cứu là 21,3%. Trong đó, khi phân tích đơn biến, thời gian ngủ dưới 6 giờ mỗi ngày làm tăng nguy cơ kiệt sức (OR = 3,600; 95% CI: 1,230 - 10,540; p = 0,016). Đáng chú ý, việc tập thể dục với cường độ trung bình là yếu tố bảo vệ độc lập có ý nghĩa thống kê giúp giảm nguy cơ kiệt sức (OR = 0,109; 95% CI: 0,012 - 0,967; p = 0,047) trong cả phân tích đơn biến và đa biến.Tập thể dục đều đặn và ngủ đủ giấc có vai trò quan trọng trong phòng ngừa kiệt sức ở bác sĩ nội trú, cần được lồng ghép vào các chương trình hỗ trợ sức khỏe thể chất và tinh thần.</em></p> <p>Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 89 bác sĩ nội trú từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2025. Tình trạng kiệt sức được đánh giá bằng bộ công cụ Maslach Burnout Inventory – Student Survey. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 25.0, sử dụng hồi quy logistic đơn biến để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và tình trạng kiệt sức. Tỷ lệ kiệt sức là 21,3%. Tập thể dục với cường độ trung bình có liên quan đến giảm nguy cơ kiệt sức (OR = 0,130; p = 0,027), trong khi ngủ dưới 6 giờ mỗi ngày làm tăng nguy cơ kiệt sức (OR = 3,600; p = 0,016). Tập thể dục đều đặn và ngủ đủ giấc có vai trò quan trọng trong phòng ngừa kiệt sức ở bác sĩ nội trú, cần được lồng ghép vào các chương trình hỗ trợ sức khỏe thể chất và tinh thần.</p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4185Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hànhvề tiêm vắc xin phòng HPV của sinh viên nữ Trường Cao đẳng Yên Bái năm 20242025-10-01T07:02:01+00:00Trần Thảo Lytranthaoly205@gmail.comBùi Quang ĐạtBuiquangdat1993@gmail.comLê Thị Thanh Xuânlethithanhxuan@hmu.edu.vnĐỗ Thu Hàdothuha94@gmail.com<p class="p1"><em>Ung thư cổ tử cung là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ, trong đó tiêm vắc xin phòng HPV là biện pháp dự phòng an toàn và hiệu quả. Với mục tiêu đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về tiêm vắc xin phòng HPV của sinh viên nữ Trường Cao đẳng Yên Bái năm 2024. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 376 sinh viên bằng bộ câu hỏi cấu trúc. Số liệu được phân tích bằng SPSS 20.0, sử dụng thống kê mô tả và hồi quy logistic. Kết quả cho thấy chỉ 34,3% sinh viên có kiến thức đạt, 89,6% có thái độ tích cực nhưng chỉ 7,2% đã tiêm đủ 3 mũi vắc xin phòng HPV. Rào cản chính tiêm vắc xin phòng HPV là chi phí cao (59,4%), lo ngại tác dụng phụ (31,3%) và thiếu thông tin (15,2%). Sinh viên nữ có thái độ tích cực cao nhưng kiến thức còn hạn chế và thực hành thấp, phản ánh khoảng cách KAP rõ rệt. Cần tăng cường truyền thông và hỗ trợ tài chính để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng HPV.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4146Mối liên quan giữa Human Papillomavirus với biểu hiện P16, P53, PRB ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gai vùng khẩu hầu2025-10-06T08:32:13+00:00Trần Thị Hương Lybshuongly@gmail.comTrần Ngọc Dungtranngocdung@ctump.edu.vnVõ Văn Khavovankha1975@gmail.com<p class="p1"><span class="s1"><em>Virus gây u nhú ở người type nguy cơ cao (High-risk human papillomavirus (HR-HPV)) là một trong các nguyên nhân gây ung thư khẩu hầu được ghi nhận gia tăng ở nhiều quần thể. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ nhiễm HR-HPV, sự biểu hiện các protein p16, p53, pRb và mối liên quan giữa HR-HPV với p16, p53, pRb trên bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gai khẩu hầu. Mô tả cắt ngang 146 bệnh nhân, dùng real-time PCR để xác định các type HR-HPV và nhuộm hóa mô miễn dịch để khảo sát biểu hiện p16, p53, pRb trên mô FFPE. Tuổi trung bình: 58,3. Nam giới chiếm 89%. U thường gặp nhất ở amiđan (48,6%). Giai đoạn IV chiếm 80,8%. HR-HPV(+) là 63,7%, trong đó HPV16 là 77,4%. Tỷ lệ p16(+) là 43,2%, p53(-) là 74,7%, pRb(-) là 61,0%. Có mối liên quan giữa HR-HPV với p16 và p53 (p = 0,04 và p = 0,009). </em></span></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4449Thực trạng thiếu năng lượng trường diễn và một số yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội2025-11-21T01:28:27+00:00Trương Thị Thùy Dươngtruongthithuyduong@tnmc.edu.vnQuản Thị Ngátngatskv@gmail.comPhạm Văn Tânphamvantan@yhn.edu.vnLê Thị Thanh Hoalinhtrang249@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 2710 sinh viên điều dưỡng của trường Cao đẳng Y tế Hà Nội với mục tiêu đánh giá thực trạng thiếu năng lượng trường diễn và phân tích một số yếu tố liên quan đến thiếu năng lượng trường diễn ở sinh viên điều dưỡng tại địa điểm nghiên cứu. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn chung ở sinh viên tương đối cao 21,8% (nữ giới là 22,0% cao hơn nam giới (20,5%, tuy nhiên p > 0,05), trong đó thiếu năng lượng trường diễn độ I là 15,1% (14,9% nam; 15,2% nữ), độ II là 5,2% (5,1% nam; 5,3% nữ) và độ III là 1,5% (0,5% nam; 1,5% nữ). Các yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực trạng thiếu năng lượng trường diễn ở sinh viên bao gồm: Dân tộc khác (OR = 1,39; 95%CI: 1,00 - 1,93; p = 0,048), kiến thức và thực hành về dinh dưỡng hợp lý không tốt (OR = 1,21; 95%CI: 1,01 - 1,45; p = 0,043 và OR = 1,28; 95%CI: 1,06 - 1,56; p = 0,010). Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội nên tăng cường công tác khám sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng và có thể tổ chức các buổi truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho sinh viên nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen ăn uống góp phần giảm tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của sinh viên.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4210Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch trong năm đầu đời của trẻ em tại một số xã của tỉnh Lào Cai năm 20242025-10-13T07:40:46+00:00Vũ Huy Hoàngdrhoangttytvy@gmail.comLê Thị Thanh Xuânlethithanhxuan@hmu.edu.vnPhạm Tố Uyênuyen.yah@gmail.comVũ Thị Ngọc Lanngoclanbvkvtp@gmail.comTrần Thảo Lytranthaoly205@gmail.comNguyễn Thị LiênBsliennth@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu năm 2024 thực hiện trên 400 trẻ 12 - 24 tháng và bà mẹ/người chăm sóc tại một số xã của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai) nhằm mô tả thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch trong năm đầu đời. Số liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp kết hợp kiểm tra sổ tiêm chủng. Kết quả cho thấy tất cả trẻ được tiêm đủ 8 loại vắc xin theo Chương trình Tiêm chủng mở rộng, nhưng chỉ 73,7% tiêm đúng lịch; 26,3% tiêm muộn ít nhất một mũi. Tỷ lệ tiêm đúng lịch cao nhất ở vắc xin sởi (96,2%) và thấp nhất ở mũi 3 DPT-VGB-Hib (75,5%). Các yếu tố liên quan đến tiêm đúng lịch gồm dân tộc, trình độ học vấn và kiến thức về tiêm chủng của mẹ, số con trong gia đình, điều kiện kinh tế, khoảng cách đến điểm tiêm và thông tin phản ứng sau tiêm. Nguyên nhân chính tiêm muộn là hết vắc xin, lo ngại tai biến và trẻ ốm tạm thời. Nghiên cứu nhấn mạnh cần tăng cường truyền thông, giáo dục sức khỏe và đảm bảo cung ứng vắc xin đầy đủ.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4322Hội chứng Down: Báo cáo ca bệnh mang bất thường di truyền hiếm gặp2025-10-27T10:00:51+00:00An Thuỳ Lananthuylan@gmail.comNguyễn Thị Huệhuent96@nch.gov.vnNguyễn Xuân Huyxuanhuy@nch.gov.vnLê Thị Liễulethilieu@nch.gov.vnHoàng Tiến ChungChunght@nch.gov.vnNguyễn Ngọc Traingoctrai92@gmail.comNgô Diễm Ngọcngodiemngoc@nch.gov.vn<p class="p1"><em>Hội chứng Down là một bất thường di truyền thường gặp nhất. Biểu hiện triệu chứng trên nhiều cơ quan gây chậm phát triển trí tuệ, đa dị tật trong đó thường gặp dị tật tim bẩm sinh, bệnh Hirschprung, tắc hoặc hẹp tá tràng, tăng nguy cơ bệnh bạch cầu cấp, bệnh Alzheimer. Mục tiêu phân tích các biểu hiện kiểu hình và bất thường di truyền của các ca bệnh hiếm nghiên cứu này báo cáo một trường hợp người bệnh mắc hội chứng Down có bất thường di truyền chưa được báo cáo trên y văn. Nghiên cứu cũng cập nhật những hiểu biết về hội chứng Down, kỹ thuật xét nghiệm di truyền dùng trong chẩn đoán, sử dụng danh pháp quốc tế về tế bào học để mô tả bất thường di truyền. Kết luận: Sử dụng các xét nghiệm phân tích nhiễm sắc thể và lai huỳnh quang tại chỗ FISH xác định người bệnh mắc hội chứng Down chuyển đoạn kèm theo một chuyển đoạn nhiễm sắc thể khác có nguồn gốc từ mẹ: 46,XY,der(7)t(7;14)(p13;q24)dmat,der(14;21)(q10;q10)dn t(7;14)dmat,+21.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4464Ung thư biểu mô vảy biểu hiện dưới dạng u dưới niêm của thực quản: Báo cáo ca lâm sàng và hồi cứu y văn2025-11-24T02:14:14+00:00Đoàn Trọng Tútrongtubvk2@gmail.comNguyễn Văn Cươnghanacuong@gmail.comĐặng Xuân Dũngdangxuandung.hmu@gmail.com<p class="p1"><em>U dưới niêm thực quản là các u có nguồn gốc từ trung mô và thường lành tính. Những khối u này bao gồm: u cơ trơn, u mô đệm, u xơ, u mỡ được bao phủ bởi niêm mạc bình thường và thường được phát hiện trong quá trình nội soi thực quản dạ dày. Ung thư biểu mô thực quản biểu hiện dưới dạng u dưới niêm mạc rất hiếm. Chúng tôi báo cáo một trường hợp ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản biểu hiện trên lâm sàng và cận lâm sàng dưới dạng u dưới niêm mạc. Qua ca lâm sàng này, chúng tôi hồi cứu lại lâm sàng, cận lâm sàng và các báo cáo y văn trên thế giới.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4086Biến chứng trong ca lọc máu ở người bệnh chạy thận nhân tạo tại khoa nội thận - tiết niệu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2025-09-15T01:45:58+00:00Bùi Thị Khánh Lylybui200319@gmail.comTrần Xuân Ngọcngocxuanphong@hmu.edu.vnNguyễn Thị Sơnntson@hmu.edu.vn<p>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 172 ca lọc máu, tương ứng 55 người bệnh đang điều trị nội trú tại Khoa Nội Thận – Tiết niệu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm mô tả tỷ lệ biến chứng trong các ca chạy thận nhân tạo. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp người bệnh, người chăm sóc và khai thác hồ sơ bệnh án điện tử. Kết quả với tỷ lệ ca lọc gặp biến chứng là 45,3%. Lần lọc đầu tiên có tỷ lệ xảy ra biến chứng cao nhất, chiếm 32,1% tổng số ca có biến chứng. Biến chứng trên người bệnh chiếm tỷ lệ cao hơn (39,0%) so với biến chứng kỹ thuật (11,0%). Tăng huyết áp là biến chứng phổ biến nhất trong các ca lọc máu (30,2% số ca), xảy ra phần lớn trong giờ đầu tiên (10,5%). Tỷ lệ xảy ra biến chứng còn cao, đặc biệt là các biến chứng trên người bệnh và lần lọc máu đầu tiên.</p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4126Lupus ban đỏ hệ thống biểu hiện bằng mất Protein qua ruột: Báo cáo ca bệnh hiếm và thách thức trong chẩn đoán2025-09-29T02:34:54+00:00Vũ Hải Yếnyen.vhy12@gmail.comCao Việt Tùngvtcardio@gmail.comĐặng Thúy Hàdr.dangthuyha@gmail.comĐỗ Thị Minh Phươngdominhphuong@hmu.edu.vnNguyễn Thị Vân Anhvananhnch@gmail.comNguyễn Thị Ngọc Hồngnguyenthingochong94@gmail.comNguyễn Lợinguyenloins@gmail.comLê Đình CôngCongnhp@gmail.comHoàng Ngọc Thạchbsthachgpb1@gmail.comNguyễn Thị Việt Hàvietha@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Hội chứng mất protein qua ruột (PLE) là biểu hiện tiêu hoá hiếm gặp của bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE). Chúng tôi trình bày trường hợp bệnh nhân nữ 12 tuổi vào viện vì phù toàn thân, tràn dịch màng phổi và cổ chướng do giảm albumin máu nặng dai dẳng. Nồng độ alpha 1 antitrypsin phân tăng cao (> 236,25 mg/dL, bình thường < 26,8 mg/dL) thể hiện tình trạng mất protein qua ruột. Bệnh nhân có rụng tóc, tăng tốc độ máu lắng (> 96 mm/giờ), tăng hoạt hoá các chất đông máu, và tăng lipid máu không đáp ứng với thuốc Rosuvastatin. Xét nghiệm cho thấy C3, C4 giảm, ANA miễn dịch huỳnh quang dương tính (1/100, Speckled 2+); anti-dsDNA bằng phương pháp ELISA dương tính (28,2 U/ml, bình thường < 25 U/ml), kháng thể kháng Sm, SS-A, SS-B, beta2-Glycoprotein, cardiolipin và kháng đông lupus âm tính. Hình ảnh nhuộm hoá mô miễn dịch mảnh sinh thiết ruột non và đại trực tràng có lắng đọng mức độ nhẹ với các IgM, IgG, C3c, C1q tại nội mô mao mạch và mạch máu nhỏ trong mô đệm. Bệnh nhân được điều trị bằng IVIg liều 1g/kg/ngày và Methylprednisolone 30 mg/kg/ngày trong 3 ngày kết hợp với thuốc Mycophenolate mofetil. Sau điều trị, bệnh nhân hết phù, albumin máu dần phục hồi và tình trạng tăng đông cải thiện. Trường hợp này cho thấy PLE có thể là biểu hiện khởi phát của SLE ở trẻ em và đáp ứng thuận lợi với điều trị ức chế miễn dịch kịp thời.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4446Biến chứng hoại tử da thành bụng sau phẫu thuật hút mỡ tạo hình thành bụng: Hai trường hợp và tổng quan y văn2025-11-06T06:39:34+00:00Hoàng Tuấn AnhTuananhcmfs@gmail.comVũ Thị DungVuthidung.ptth@gmail.comNguyễn Hợp Nhânnhan.ptth@gmail.comTrần Thị Diệu LinhDr.trandieulinh@gmail.comNguyễn Ngọc Dươngngocduong218@gmail.com<p class="p1"><em>Hoại tử da thành bụng là một biến chứng nghiêm trọng sau phẫu thuật hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm hút mỡ quá mức vùng trung tâm thành bụng, thao tác kỹ thuật không phù hợp và đóng vạt da với độ căng quá lớn. Điều trị biến chứng này đòi hỏi thời gian chăm sóc kéo dài và can thiệp phẫu thuật nhiều lần. Trong bài báo này, chúng tôi báo cáo hai trường hợp hoại tử da thành bụng sau phẫu thuật hút mỡ tạo hình được thực hiện tại cơ sở tư nhân khác. Cả hai bệnh nhân đều được điều trị trong khoảng hai tháng và trải qua hai lần phẫu thuật. Phẫu thuật lần đầu bao gồm cắt lọc tổ chức hoại tử và đặt hệ thống hút áp lực âm tại vị trí khuyết tổ chức. Phẫu thuật lần hai nhằm che phủ khuyết hổng bằng phương pháp ghép da dày toàn bộ hoặc sử dụng vạt xoay tại chỗ từ hai bên thành bụng. Biến chứng này ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý bệnh nhân, kết quả thẩm mỹ và làm tăng chi phí điều trị. Bài báo với mục tiêu đưa ra các nguyên nhân và phương phổ biến điều trị biến chứng hoại tử da thành bụng sau phẫu thuật hút mỡ kết hợp tạo hình thành bụng.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4303Vai trò của đột biến RYR2 trong phân biệt hội chứng QT dài và nhịp nhanh thất đa hình phụ thuộc Catecholamine: Báo cáo ca bệnh2025-11-04T04:22:47+00:00Quách Tiến Bảngbangnhp@gmail.comNguyễn Thanh Hảitapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnLương Minh Cảnhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnPhạm Văn Xướngtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnTrần Quốc Hoàntapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnĐoàn Thị Linhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nhịp nhanh thất đa hình phụ thuộc catecholamin (Catecholaminergic polymorphic ventricular tachycardia - CPVT) và hội chứng QT dài (long QT syndrome - LQTS) là hai bệnh lý rối loạn di truyền bẩm sinh, đặc trưng là kéo dài thời gian khử cực và tái cực tâm thất. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày hai ca bệnh là anh em song sinh trong đó 1 bệnh nhi bị ngừng tim ngoại viện nguyên nhân do CPVT. Phân tích gen phát hiện đột biến RYR2 (ryanodine receptor type 2) ở cả hai anh em. CPVT có thể nhận biết nhầm ở những bệnh nhân ngất hoặc ngừng tim và chẩn đoán LQTS không điển hình nhưng diễn biến lâm sàng nặng nề và tỷ lệ tử vong cao hơn LQTS.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4460Báo cáo ca bệnh: Điều trị teo ruột type 4 với 5 miệng nối2025-11-19T03:38:14+00:00Trần Anh Quỳnhtranquynh.nhp@gmail.comHoàng Hữu Kiêndr.hoangkien@gmail.comChu Thị Hoahoachu2481@gmail.comNguyễn Thị Ngọc Trândr.ngoctran259@yahoo.com.vn<p class="p1"><em>Teo ruột là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp ở trẻ sơ sinh. Trong đó, teo ruột type IV (teo gián đoạn nhiều đoạn ruột) là thể bệnh hiếm gặp và là thách thức lớn đối với phẫu thuật viên, do việc cắt bỏ quá nhiều đoạn ruột sẽ dẫn đến hội chứng ruột ngắn. Thông thường, phẫu thuật viên có xu hướng cắt bỏ các đoạn ruột teo và tái lập lưu thông tiêu hóa bằng một miệng nối duy nhất. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ sơ sinh 2 ngày tuổi nôn dịch xanh, chướng bụng thượng vị, không đi ngoài phân su, chụp X-quang bụng và chụp đại tràng có thuốc cản quang được chẩn đoán teo ruột. Tổn thương trong phẫu thuật là teo ruột tuýp 4 với 6 đoạn ruột teo và được phẫu thuật cắt nối ruột với 5 miệng nối ruột–ruột, bảo tồn được chiều dài ruột non còn lại khoảng 80cm. Như vậy, phẫu thuật bảo tồn các đoạn ruột teo với nhiều miệng nối trong điều trị teo ruột tuýp 4 có tính khả thi, an toàn và đảm bảo đủ chiều dài của ruột.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4114Hiệu quả của các liệu pháp phục hồi chức năng sàn chậu lên hội chứng cắt bỏ trước thấp (LARS): Tổng quan hệ thống và phân tích gộp2025-09-19T01:48:48+00:00Lê Thị Hồng Phúcbslephucungbuou@gmail.comBùi Thị Hoài Thumi.hoaithu@gmail.com<p class="p1"><em>Hội chứng cắt bỏ trước thấp (LARS) là biến chứng thường gặp sau phẫu thuật ung thư trực tràng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của người bệnh. Bài tổng quan hệ thống và phân tích gộp này nhằm đánh giá hiệu quả của các liệu pháp phục hồi chức năng sàn chậu trong cải thiện triệu chứng LARS. Nghiên cứu được tiến hành theo hướng dẫn PRISMA, tìm kiếm dữ liệu trên PubMed và Cochrane Library (01/2020 – 08/2025), đánh giá nguy cơ sai lệch bằng RoB 2.0 và mức độ tin cậy của bằng chứng theo GRADE. Tổng cộng 454 bệnh nhân từ 8 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng được đưa vào phân tích. Kết quả cho thấy phục hồi chức năng sàn chậu giúp giảm đáng kể điểm LARS so với nhóm chứng (MD = -4,56; 95%CI: -7,19 đến -1,92; p = 0,0007) và cải thiện có ý nghĩa điểm đại tiện không tự chủ (FI) (MD = -0,19; 95%CI: -0,39 đến 0; p = 0,05). Mức độ bằng chứng được đánh giá từ trung bình đến cao. Ngoài ra, can thiệp này còn góp phần nâng cao chất lượng sống. Phục hồi chức năng sàn chậu là lựa chọn can thiệp hiệu quả và nên được đưa vào thực hành lâm sàng cho bệnh nhân sau phẫu thuật cắt bỏ trước thấp.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4395Tổng quan về HIF - PHI trong điều trị thiếu máu ở người bệnh thận mạn tính2025-11-03T07:37:37+00:00Trần Tuấn Tútrantuantu@tump.edu.vnNguyễn Quang Hảohaonguyenquang123@gmail.comHoàng Thị Hải YếnHoanghaiyen24111999@gmail.com<p class="p1"><em>Những năm gần đây, các chất ức chế enzym hydroxyl hóa yếu tố cảm ứng thiếu oxy (HIF-PHI) đã thu hút nhiều quan tâm trong điều trị thiếu máu do bệnh thận mạn (CKD). Các thuốc này hoạt động bằng cách ổn định yếu tố cảm ứng thiếu oxy (HIF), từ đó kích thích sản xuất erythropoietin nội sinh và điều hòa chuyển hóa sắt theo cơ chế sinh lý tự nhiên hơn so với erythropoietin tái tổ hợp. Nhờ được sử dụng qua đường uống, thuốc mang lại sự thuận tiện cho người bệnh và góp phần tối ưu hóa quá trình tạo máu. Nhiều thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn đã ghi nhận hiệu quả của HIF-PHI trong việc nâng cao nồng độ hemoglobin, giảm nhu cầu sử dụng sắt tĩnh mạch và hạn chế truyền máu. Một số thuốc thuộc nhóm này đã được cấp phép sử dụng tại Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia châu Âu. Bài tổng quan này nhằm cung cấp thông tin cập nhật về cơ chế tác dụng, hiệu quả lâm sàng và tiềm năng ứng dụng của HIF-PHI trong điều trị thiếu máu ở người bệnh CKD, qua đó mở rộng lựa chọn điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.</em></p>2025-12-30T00:00:00+00:00Copyright (c) 2025 Tạp chí Nghiên cứu Y học