https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/issue/feedTạp chí Nghiên cứu Y học2026-08-04T03:11:03+00:00Open Journal Systemshttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5113Đa hình rs1333049 gen ANRIL và một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân nghi ngờ bệnh động mạch vành: Nghiên cứu thăm dò2026-04-16T07:42:15+00:00Nguyễn Ngọc Vy Yếnvyyen1207@gmail.comPhạm Thị Ngọc Ngaptnnga@ctump.edu.vnTrần Viết Antvan@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Đa hình rs1333049 gen ANRIL đã được ghi nhận có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 44 bệnh nhân nghi ngờ bệnh động mạch vành có chụp mạch nhằm khảo sát đặc điểm đa hình rs1333049 gen ANRIL và một số yếu tố nguy cơ tim mạch. Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 68,84 ± 7,76, giới tính nữ chiếm 56,8%. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất (97,7%). Tỉ lệ đa hình rs1333049 gen ANRIL CC/CG/GG lần lượt là 40,9%/47,7%/11,4%. Tỉ lệ alen C/G lần lượt là: 64,8 %/35,2%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ mắc đái tháo đường típ 2 giữa các kiểu gen rs1333049 (p = 0,038). Không ghi nhận mối liên quan giữa đa hình gen và hẹp động mạch vành có ý nghĩa (p > 0,05). Kết luận: Nghiên cứu bước đầu có thể gợi ý một xu hướng liên quan giữa đa hình rs1333049 gen ANRIL với đái tháo đường típ 2 tuy nhiên chưa đủ bằng chứng để khẳng định. Đồng thời không phát hiện được mối liên quan giữa đa hình rs1333049 gen ANRIL và hẹp động mạch vành có ý nghĩa trong mẫu nghiên cứu này. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5238Đa hình rs4747096 gen ADAMTS-14 và mối liên quan với mức độ tổn thương qua chụp cộng hưởng từ ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối2026-05-10T07:11:45+00:00Cao Trần Phương Quyênphuongquyencaotran1993@gmail.comPhạm Thị Ngọc Ngaptnnga@ctump.edu.vnNguyễn Trung Kiênntkien@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 bệnh nhân thoái hóa khớp gối ở Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang trong khoảng thời gian tháng 06/2025 đến tháng 01/2026 nhằm mô tả đặc điểm đa hình rs4747096 gen ADAMTS-14 và khảo sát mối liên quan giữa đa hình này với tổn thương trên cộng hưởng từ. Kết quả ghi nhận tuổi là 51,99 ± 10,25. Kiểu gen GG có tỷ lệ thoái hóa nặng là 66,7% cao hơn so với AA (35,4%) và AG (40,0%). Trong phân tích đa biến, sau khi hiệu chỉnh với các yếu tố nguy cơ, phát hiện đái tháo đường và kiểu gen GG của ADAMTS-14 là yếu tố liên quan đến thoái hóa khớp gối mức độ nặng, với giá trị OR lần lượt là 2,40 (KTC 95%: 1,12 - 6,21) và 1,92 (KTC 95%: 1,08 - 5,32). Tổng hợp dữ liệu trên cho thấy yếu tố chuyển hóa và đa hình gen, cụ thể là đái tháo đường và kiểu gen GG của ADAMTS-14 có liên quan với thoái hóa khớp gối mức độ nặng trên chụp cộng hưởng từ.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5288Đa hình gen MMP2, nồng độ huyết thanh của matrix metalloproteinase-2 và mối liên quan với tổn thương cơ quan đích ở bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị2026-05-07T14:06:30+00:00Huỳnh Tuấn Anhtan@ctump.edu.vnNguyễn Thị Thảo Linhnttlinh@ctump.edu.vnHoàng Anh Vũhoanganhvu@ump.edu.vnHồ Quốc Chươngquocchuong0712@ump.edu.vnHoàng Anh Tiếnhatien@hueuni.edu.vnTrần Viết Antvan@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Tăng huyết áp kháng trị là thể lâm sàng nặng với nguy cơ cao tổn thương cơ quan đích (HMOD). Nghiên cứu cắt ngang trên 413 bệnh nhân tăng huyết áp (213 tăng huyết áp kháng trị, 200 không kháng trị) định lượng MMP-2 huyết thanh bằng ELISA và xác định kiểu gen ba đa hình vùng promoter gen MMP2 (rs243866, rs243865, rs2285053) bằng Sanger/ASO-PCR. Nhóm tăng huyết áp kháng trị có gánh nặng HMOD cao hơn rõ rệt. MMP-2 không khác biệt giữa hai nhóm (p = 0,684), nhưng trong nhóm tăng huyết áp kháng trị liên quan độc lập với suy giảm eGFR (β = −0,298, p = 0,010), tăng albumin niệu (β = +7,534, p = 0,009) và tăng LAi (β = +0,046, p = 0,007). Theo mô hình cộng gộp, alen A của SNP1 (rs243866) liên quan với EF < 50% (OR = 3,578, p = 0,006) và albumin niệu (OR = 2,432, p = 0,013); alen T của SNP3 (rs2285053) liên quan với phì đại thất trái (OR = 1,621, p = 0,027). MMP-2 và đa hình gen MMP2 phản ánh các lớp sinh học bổ sung, gợi ý tích hợp hai chỉ dấu có thể cải thiện phân tầng nguy cơ trong tăng huyết áp kháng trị.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5414Xây dựng bộ RNA dài không mã hóa chẩn đoán ung thư vú từ dữ liệu giải trình tự2026-05-28T09:45:48+00:00Trần Thanh Bìnhthanhbinh7713@gmail.comNguyễn Thị Việt Hà viethahb@gmail.comTrần Thị Thu Huyềntranthithuhuyen.hvqy@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xây dựng bộ chẩn đoán lncRNA có độ chính xác cao để chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến vú dựa trên dữ liệu giải trình tự thế hệ mới (RNA-seq) được khai thác từ cơ sở dữ liệu TCGA. Các lncRNA biểu hiện khác biệt được sàng lọc bằng thuật toán DESeq2, sau đó lựa chọn đặc trưng bằng hồi quy Logistic LASSO với kiểm định chéo 5 lần (chọn ngưỡng λ<sub>1se</sub>). Độ ổn định của mô hình được kiểm chứng thông qua phương pháp lấy mẫu lại phân tầng lặp lại 50 lần. Từ 3.293 DE-lncRNAs ban đầu, nghiên cứu đã thiết lập được bộ chẩn đoán gồm 06 lncRNA (LINC01614, LINC02202, LINC01537, AC134312.5, LINC02185 và AC106897.1). Mô hình đạt AUC = 0,9997 (KTC 95%: 0,9987 - 1,0000); độ nhạy 100% (KTC 95%: 98,02 - 100,0%) và độ đặc hiệu 93,75% (KTC 95%: 69,77 - 99,84%) tại điểm cắt tối ưu. Kết quả thẩm định cho thấy tính ổn định cao (AUC trung bình 0,9976). Bộ chẩn đoán gồm 06 lncRNA cho thấy khả năng phân biệt mô ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập và mô vú bình thường với hiệu năng cao trên tập dữ liệu TCGA-BRCA. Kết quả nghiên cứu gợi ý vai trò tiềm năng của lncRNA trong hỗ trợ chẩn đoán ung thư vú. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu xác thực trên các quần thể lâm sàng độc lập.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5419Bước đầu khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs3752462 gen MYH9 và nguy cơ bệnh thận mạn ở bệnh nhân tăng huyết áp2026-06-25T07:12:10+00:00Trần Lâm Nguyệt Thanhtranlamnguyetthanh1990@gmail.comVõ Thanh Hùngbsthanhhungct@gmail.comNguyễn Như Nghĩannnghia@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện trên 120 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 6/2025 đến tháng 3/2026 nhằm bước đầu khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs3752462 của gen MYH9 và nguy cơ bệnh thận mạn ở bệnh nhân tăng huyết áp. Sau hiệu chỉnh thời gian phát hiện bệnh, kiểu gen dị hợp tử CT có liên quan với nguy cơ bệnh thận mạn cao hơn so với kiểu gen TT (OR = 6,82; KTC 95%: 1,48 – 31,28; p = 0,014). Nhóm CT ghi nhận thời gian phát hiện tăng huyết áp ngắn hơn nhóm TT, với trung vị lần lượt là 6 năm và 12 năm, trong khi tỷ lệ suy thận không khác biệt rõ rệt. Ngoài ra, nhóm mang kiểu gen CT có xu hướng liên quan với tình trạng giảm độ lọc cầu thận ước tính tại thời điểm khảo sát (OR = 4,19; p = 0,048) nhưng chưa ghi nhận sự gia tăng tương ứng về đạm niệu. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng bước đầu về mối liên quan giữa rs3752462 và bệnh thận mạn ở bệnh nhân tăng huyết áp, tuy nhiên cần được diễn giải thận trọng do cỡ mẫu còn hạn chế và khoảng tin cậy của các mô hình hiệu chỉnh còn rộng.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5446Vai trò mặt phẳng cân nông trong kỹ thuật bóc vạt SCIP mỏng: Nghiên cứu giải phẫu hình ảnh cắt lớp và lâm sàng2026-06-25T07:11:37+00:00Tô Tuấn Linhtuanlinhto@gmail.comHoàng Tuấn AnhTuananhcmfs@gmail.com<p class="p1"><em>Vạt mạch xuyên động mạch mũ chậu nông (SCIP) là vạt mỏng phù hợp trong tạo hình bàn tay. Cân nông là mặt phẳng thuận lợi để bóc vạt mỏng. Tuy nhiên, liệu chiều dày lớp mỡ nông trên CTA có phản ánh được độ dày thực tế của vạt SCIP sau khi phẫu tích trên cân nông hay không vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) hỗ trợ đánh giá chiều dày lớp mỡ nông trước mổ. Nghiên cứu tiến cứu trên 63 bệnh nhân với 64 vạt SCIP tự do, nhằm đánh giá mối liên quan giữa chiều dày lớp mỡ nông trên CTA và độ dày vạt sau bóc trên cân nông. Chiều dày lớp mỡ nông tại mạch xuyên nhánh nông và sâu lần lượt là 3,5 ± 1,7 mm và 2,8 ± 1,0 mm, tương quan thuận với chiều dày vạt tương ứng r = 0,58 và r = 0,64 (Pearson). Có 11 vạt cần làm mỏng vi phẫu tích, liên quan BMI cao (p = 0,02). Tỉ lệ vạt sống hoàn toàn 96,9%. Kết quả cho thấy chiều dày lớp mỡ nông trên CTA tương quan với độ dày thực tế của vạt sau nâng trên cân nông, giúp hỗ trợ tiên lượng độ dày vạt, lập kế hoạch làm mỏng bổ sung.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5491Giá trị dự đoán sớm nhiễm khuẩn huyết của các dấu ấn hoạt hóa nội mô ở trẻ nhỏ nghi ngờ nhiễm trùng2026-06-03T06:20:51+00:00Bùi Thanh Liêmliem.bui@ump.edu.vnChu Văn Thiệnbscvthien@gmail.comNguyễn Trọng Nghĩatr.nghia72@gmail.comLê Anh Phongleanhphong@yahoo.comNgô Như Địnhngonhudinh@gmail.comNguyễn Huy Luânnguyenhuyluan@ump.edu.vnPhùng Nguyễn Thế Nguyênnguyenphung@ump.edu.vn<p class="p1"><em>Nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em khó nhận diện sớm do biểu hiện ban đầu không đặc hiệu, trong khi hoạt hóa nội mô liên quan đến rối loạn vi tuần hoàn và suy cơ quan. Nghiên cứu quan sát tiến cứu này đánh giá giá trị dự đoán sớm nhiễm khuẩn huyết của VCAM-1, ICAM-1, E-selectin và P-selectin đo tại thời điểm tuyển bệnh ở 144 trẻ 1 – 60 tháng nghi ngờ nhiễm trùng tại Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai từ 5/2021 đến 10/2022. Nhiễm khuẩn huyết được xác định theo tiêu chuẩn đồng thuận quốc tế năm 2005 trong vòng 48 giờ sau nhập viện. Nồng độ các dấu ấn được định lượng trong huyết tương tại thời điểm nhập viện và báo cáo bằng ng/mL. Có 32 trẻ nhiễm khuẩn huyết và 112 trẻ không nhiễm khuẩn huyết. Cả bốn dấu ấn đều cao hơn có ý nghĩa ở nhóm nhiễm khuẩn huyết. VCAM-1 có giá trị phân biệt tốt nhất với AUC 0,855, tiếp theo là E-selectin 0,819, ICAM-1 0,773 và P-selectin 0,689. Điểm cắt VCAM-1 1254,9 ng/mL có độ nhạy 81,3% và độ đặc hiệu 93,8%. VCAM-1 là dấu ấn tiềm năng hỗ trợ dự đoán sớm nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em nghi ngờ nhiễm trùng.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5527Kết quả cấy ghép implant nhóm răng sau hàm trên bằng búa từ và khoan xương thông thường: Nghiên cứu can thiệp không ngẫu nhiên có nhóm chứng 2026-06-10T02:41:02+00:00Nguyễn Đình Luậtnguyendinhluat1910@gmail.comNguyễn Thị Thảo Vânntthaovan@gmail.comNguyễn Thị Khánh Hàdrnguyenthikhanhha@gmail.comLý Gia HuyLygiahuyks@gmail.comTrương Nhựt Khuêtnkhue@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá và so sánh kết quả ngắn hạn giữa hệ thống búa từ và khoan xương thông thường trong cấy implant răng sau hàm trên. Thiết kế can thiệp không ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 38 bệnh nhân với 46 implant tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 7/2025 đến 4/2026. Kết quả cho thấy nhóm búa từ có tỷ lệ đạt lực đặt ≥ 35 Ncm cao hơn (91,3% so với 60,9%, p = 0,016), mức độ đau sau phẫu thuật thấp hơn (p = 0,001 và p = 0,005), trong khi thời gian chuẩn bị tương đương nhau (6,2 ± 1,1 so với 6,0 ± 1,2 phút, p = 0,542) so với nhóm khoan thường. Độ ổn định implant cao hơn ngay sau cấy và sau 3 tháng (p ≤ 0,001), nhưng không còn khác biệt sau 6 tháng (p = 0,215). Các chỉ số về mức tiêu xương, tình trạng nướu quanh implant, tỷ lệ tồn tại implant (100% so với 95,7%) và tỷ lệ kết quả chung đạt loại tốt (87,0% so với 73,9%) cho thấy kết quả lâm sàng khả quan và tương đồng giữa hai phương pháp (p > 0,05). Nhìn chung, trong phạm vi theo dõi ngắn hạn, hệ thống búa từ cho thấy tiềm năng hỗ trợ tốt trong cấy ghép implant răng sau hàm trên nhờ ưu điểm tăng độ ổn định sơ khởi và giảm đau sau phẫu thuật, đồng thời duy trì kết quả lành thương ổn định.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5575So sánh hiệu quả ngắn hạn giữa hai phương pháp dạy học giải phẫu tại trường Đại học Y dược Thái Bình năm học 2025 - 20262026-06-04T08:20:28+00:00Nguyễn Huy Tuyếnhuytuyen246@gmail.comLê Cẩm Đườngcamduongle1905@gmail.comĐoàn Duy Liêndoanduylien@gmail.comTrần Diệp Linhdieplinh0914@gmail.comNguyễn Trọng Đứcnguyenduc6757@gmail.comCù Minh Sơnminhson071103@gmail.comVũ Duy Tùngtunganatomy@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang có phân tích so sánh được thực hiện trên 472 sinh viên y khoa năm thứ nhất tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình năm học 2025 - 2026 nhằm đánh giá khả năng ghi nhớ và vận dụng kiến thức giải phẫu sinh viên khi học bằng phương pháp thuyết trình có hình ảnh minh hoạ (PowerPoint) và Team-Based Learning (TBL). Kết quả cho thấy phương pháp PowerPoint giúp sinh viên đạt điểm kiểm tra ngay sau học cao hơn TBL (8,36 ± 1,85 so với 7,29 ± 2,44; p < 0,001). Tuy nhiên, sau 2 tuần, nhóm TBL đạt điểm trung bình cao hơn nhóm PowerPoint (8,95 ± 1,67 so với 8,15 ± 2,03; p < 0,001), đồng thời điểm số của nhóm TBL tăng có ý nghĩa thống kê theo thời gian. Tỷ lệ sinh viên đạt điểm A sau 2 tuần ở nhóm TBL cao hơn rõ rệt. Kết quả cho thấy PowerPoint phù hợp với ghi nhớ ngắn hạn, trong khi TBL hiệu quả hơn trong duy trì trí nhớ dài hạn và vận dụng kiến thức giải phẫu.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5601Kiểm soát áp lực tĩnh mạch trung tâm thấp nhằm giảm mất máu trong cắt gan: Tổng quan mô tả2026-06-06T08:15:45+00:00Phan Thuỳ Chithuychiphan@gmail.comĐào Đức Dũngv.dungdd@vinmec.comLê Văn Bìnhv.binhlv4@vinmec.comVũ Thành Lâmv.lamvt5@vinmec.comDương Thị Hoanv.hoandt7@vinmec.comLê Anh Tuấnv.tuanla26@vinmec.comĐặng Vũ Anhv.anhdv22@vinmec.comNgô Lương Nghĩav.nghianl@vinmec.comQuách Minh Chínhv.chinhqm@vinmec.comHoàng Thị Ánhv.anhht16@vinmec.comNguyễn Thuỳ Dươngtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNguyễn Trọng Sỹv.synt1@vinmec.comVũ Tuấn Việtv.vietvt@vinmec.com<p class="p1"><em>Kiểm soát mất máu trong phẫu thuật cắt gan có ảnh hưởng đến kết cục lâm sàng. Chiến lược duy trì áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) thấp được áp dụng nhằm giảm chảy máu qua giảm áp lực thủy tĩnh tại xoang gan. Bài tổng quan hệ thống hóa các phương pháp hạ CVP để kiểm soát mất máu trong phẫu thuật cắt gan. Tổng quan mô tả qua tra cứu PubMed/MEDLINE đến tháng 2/2026. Từ khóa: CVP thấp, cắt gan, mất máu. Các biện pháp hạ CVP chia thành hai nhóm. Nhóm thiếu dịch tuyệt đối (hạn chế dịch, lợi niệu, trích máu giảm thể tích) đạt CVP đích nhanh, giảm mất máu hiệu quả nhưng có thể kéo dài thời gian nằm viện. Nhóm tái phân bố dịch bằng thuốc giãn mạch đạt tỷ lệ thành công 85 - 92%; Milrinone có vẻ ưu thế hơn Nitroglycerin nhờ tác dụng kép giãn mạch- trợ tim. Điều chỉnh thông khí giảm CVP tốt nhưng cần tránh gây ưu thán làm giãn mạch gan.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5636Đặc điểm đau thần kinh theo thang điểm DN4 ở bệnh nhân loãng xương nguyên phát2026-06-19T08:42:48+00:00Nguyễn Vĩnh Ngọcvinhngoc@hmu.edu.vnTrần Thị Huyềntranthihuyen149@gmail.comTrần Thị Tô ChâuTranchaucxk@gmail.comLê Thị Liễulieubm@gmail.com Phùng Đức Tâmphungductam@hmu.edu.vnNgô Thị Thục Nhàndr.thucnhan@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 86 bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương nguyên phát có đau cột sống với VAS ≥ 3 điểm, khám tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/2025 đến tháng 4/2026 nhằm mô tả tình trạng đau thần kinh bằng thang điểm DN4 ở người bệnh loãng xương nguyên phát. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 70,4 ± 10 tuổi, giới tính nữ chiếm 87,2%. Tỷ lệ đau thần kinh theo DN4 là 36,0%. Trong phân tích đa biến, tiền sử gãy xương (AOR = 11,83; KTC 95%: 2,91 - 48,07; p < 0,001) và xẹp đốt sống trên x quang (AOR = 55,88; KTC 95%: 2,45 - 86,06; p = 0,012) là hai yếu tố liên quan độc lập với đau thần kinh. Nghiên cứu kết luận đau thần kinh chiếm tỷ lệ đáng kể ở bệnh nhân loãng xương nguyên phát có đau cột sống mức độ trung bình trở lên. Tiền sử gãy xương và xẹp đốt sống trên x quang là những yếu tố liên quan độc lập với đau thần kinh theo thang điểm DN4.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5020Kết quả bước đầu hóa trị tân bổ trợ ung thư vú giai đoạn II-III HER2 dương tính với phác đồ tch tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 1082026-03-27T04:25:22+00:00Nguyễn Thanh Ngọcngocnguyen151086@gmail.comNguyễn Việt Longdrlong108@gmail.comNguyễn Thị Phương Thảonguyenthiphuongthao2802@gmail.comTrương Thị Thảo Hiềntr.thaohien@gmail.comLê Ngọc Hàlengocha108@yahoo.comLê Văn Quảnglequang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả nhằm đánh giá kết quả bước đầu trên 35 bệnh nhân ung vú giai đoạn II - III HER2 dương tính được hóa trị tân bổ trợ với phác đồ TCH tại Bệnh viện TƯQĐ 108 từ tháng 12/2024 đến tháng 12/2025. Kết quả cho thấy: trong 35 bệnh nhân được ghi nhận vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 51,7 (32 - 74 tuổi), 60% giai đoạn II, 40% giai đoạn III, tỷ lệ thụ thể nội tiết dương tính là 51,4%. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ trên lâm sàng đạt 97,2%. Đáp ứng hoàn toàn mô bệnh học (tpCR) là 45,7%; chưa ghi nhận mối liên quan giữa tpCR và một số yếu tố dự đoán. Tác dụng không mong muốn độ 3-4 thường gặp nhất là giảm bạch cầu trung tính và không có trường hợp nào tử vong hoặc ngừng điều trị. Kết quả bước đầu cho thấy hóa trị tân bổ trợ với phác đồ TCH trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II – III HER2 dương tính cho tỷ lệ đáp ứng cao, và độc tính có thể chấp nhận được.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5075Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến thiếu cơ ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại bệnh viện phục hồi chức năng - điều trị bệnh nghề nghiệp2026-06-07T08:26:16+00:00Nguyễn Lê Thuậnthuanbspnt@gmail.comLê Ngọc Trândr.lengoctran@gmail.comNguyễn Minh Hoànghoangnguyencv@gmail.comTrần Văn Tiếnvantien1307@yahoo.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 127 người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Phục hồi chức năng - Điều trị bệnh nghề nghiệp từ tháng 10/2024 đến 06/2025 nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ thiếu cơ (Sarcopenia) theo tiêu chuẩn AWGS 2019 (Asian Working Group for Sarcopenia) bao gồm giảm tỷ số khối cơ xương kèm giảm sức mạnh cơ hoặc giảm hiệu suất vận động. Kết quả cho thấy tuổi trung bình 55,71 ± 15,02; nam chiếm 52,8%, thiếu cơ chiếm 41,7% trong đó 90,6% thiếu cơ nặng. Các yếu tố liên quan bao gồm tuổi, chu vi bắp chân nhỏ, điểm MNA và Kt/V. Khi phân tích hồi qui đa biến logistic, mô hình hồi quy xác định 3 yếu tố liên quan đến thiếu cơ là tuổi (OR = 1,04), Kt/V (OR = 5,66) và điểm MNA (OR = 0,69), diện tích dưới đường cong ROC 0,81. Thiếu cơ chiếm tỉ lệ cao 41,7% trong người bệnh lọc máu chu kỳ với các yếu tố liên quan là tuổi, Kt/V và MNA.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5117Đánh giá chức năng thất trái bằng siêu âm tim 3D và siêu âm tim đánh dấu mô ở người bệnh ung thư vú sau điều trị với anthracycline và trastuzumab2026-05-16T09:09:10+00:00Nguyễn Thị Minh Lýminhly.ng@gmail.comNguyễn Lân Hiếunguyenlanhieu.muh@gmail.comSalita Chandavongsalitachandavong@gmail.com<p class="p1"><em>Liệu pháp điều trị bổ trợ bằng anthracycline và trastuzumab ở bệnh nhân ung thư vú có thể gây độc cơ tim, dẫn tới tăng tỷ lệ tử vong. Nghiên cứu nhằm đánh giá chức năng thất trái trên siêu âm tim 3D, siêu âm đánh dấu mô ở người bệnh ung thư vú sau điều trị với anthracycline và trastuzumab. Nghiên cứu gồm 20 người bệnh nữ ung thư vú. Phân suất tống máu thất trái trung bình trên siêu âm tim 3D là 60,75 ± 7,61%. Phân suất tống máu thất trái giảm < 50% trên siêu âm tim 3D gặp ở 5% người bệnh. Sức căng dọc toàn bộ thất trái giảm > -19% gặp ở 11 người bệnh, chiếm 55%. Có 25% người bệnh có rối loạn chức năng tâm trương thất trái. Một trường hợp EF < 50% được ghi nhận ở nhóm ≥ 50 tuổi, đã phẫu thuật, thời điểm đánh giá sau 6 tháng; chưa chứng minh được mối liên quan có ý nghĩa thống kê do cỡ mẫu nhỏ. Phương pháp siêu âm tim 3D và siêu âm tim đánh dấu mô góp phần đánh giá rối loạn chức năng thất trái ở người bệnh ung thư vú điều trị bằng anthracycline và trastuzumab. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5191Một số yếu tố liên quan đến kết quả nuôi cấy phôi nang ngày 5 ở phụ nữ hiếm muộn có hội chứng buồng trứng đa nang2026-06-02T08:49:23+00:00Trần Duy Thâmdrtranduytham@gmail.comCao Ngọc Thànhthanhykhue@yahoo.comChâu Hữu Đangchauhuudang101@gmail.comTrần Khánh Ngatknga@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 61 phụ nữ hiếm muộn có PCOS tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ từ 07/2024 - 02/2026 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả nuôi cấy phôi ngày 5 và khảo sát một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy hiếm muộn nguyên phát chiếm 73,8% và kiểu hình D gặp nhiều nhất với 50,8%. BMI trung bình là 22,9 ± 3,0 kg/m². Trung vị số noãn chọc hút là 18,0, số hợp tử thụ tinh bình thường (2PN) trung bình là 15,1 ± 8,0, số phôi nang tốt ngày 5 trung bình là 6,6 ± 5,2 và tỷ lệ phôi nang tốt ngày 5 trên số hợp tử 2PN là 42,0 ± 26,8%. Trong mô hình hồi quy quasi-binomial, BMI có liên quan nghịch với tỷ lệ phôi nang tốt ngày 5 trên số hợp tử 2PN sau hiệu chỉnh đa biến với OR = 0,83 (KTC 95%: 0,75 - 0,91; p<0,001). Kết quả bước đầu cho thấy BMI có thể liên quan đến kết quả nuôi cấy phôi nang ngày 5 ở phụ nữ hiếm muộn có PCOS.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5197Chất lượng cuộc sống theo phương pháp điều trị ở bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư biểu mô tuyến giáp2026-05-11T02:16:47+00:00Hồ Thị Kim Thanhhokimthanh@hmu.edu.vnĐậu Thị Hồng Nhungnhungsmilekyusoo@gmail.comĐỗ Nguyên Vũdonguyenvuhmu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm so sánh chất lượng cuộc sống và xác định một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư biểu mô tuyến giáp theo phương pháp điều trị. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 202 bệnh nhân đã phẫu thuật ≥ 6 tháng, tái khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 11/2020 đến tháng 10/2021. Số liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và phỏng vấn bằng EORTC QLQ-C30; phân tích bằng so sánh nhóm và hồi quy tuyến tính đa biến. Người bệnh gồm 71 ca cắt thùy giáp, 48 ca cắt toàn bộ tuyến giáp và 83 ca cắt toàn bộ tuyến giáp kết hợp I-131. Điểm chức năng trung bình lần lượt là 97,1 ± 3,7; 91,9 ± 6,8 và 83,7 ± 6,8. Điểm triệu chứng tương ứng là 3,3 ± 3,1; 6,1 ± 3,2 và 8,2 ± 5,1; khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Hồi quy đa biến cho thấy giới, tổn thương thần kinh thanh quản, giai đoạn bệnh, phương pháp điều trị, số lần điều trị I-131 và rối loạn chức năng tuyến giáp sau mổ có liên quan nghịch với điểm CLCS tổng thể. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5198Kết quả chuẩn độ propofol TCI để đạt an thần tỉnh trước đặt nội khí quản khó ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt2026-05-11T02:04:05+00:00Nguyễn Quang Bìnhnguyenbinh3010@gmail.comNguyễn Ngọc Thạchnnthach1970@gmail.comTrần Đắc Tiệptrandactiepsky@gmail.comPhạm Quốc Khánhvankhanh.rhmk7@gmail.comNguyễn Văn Luândoctorvanluanqy@gmail.com<p class="p1"><em>An thần tỉnh giúp giảm lo âu và tăng hợp tác của người bệnh trong đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm khi người bệnh tỉnh ở các trường hợp đường thở khó tiên lượng trước, nhưng ranh giới với an thần sâu rất hẹp và có nguy cơ cao ức chế hô hấp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả chuẩn độ nồng độ đích tại vị trí tác dụng của propofol TCI (truyền kiểm soát nồng độ đích) theo mô hình Schnider để đạt an thần tỉnh mong muốn trước đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. Nghiên cứu can thiệp tiến cứu một nhánh với 51 người bệnh có khít hàm (độ há miệng tối đa < 20 mm), an thần tỉnh bằng propofol truyền kiểm soát nồng độ đích (propofol TCI) theo mô hình dược động học Schnider. Propofol TCI khởi đầu với Ce 0,8 µg/mL, chuẩn độ tăng 0,2 µg/mL hoặc giảm 0,1 µg/mL mỗi 2 phút để đạt an thần tỉnh mong muốn được xác định bằng BIS 80 – 90 và OAA/S điểm 4. Kết quả cho thấy mức an thần tỉnh mong muốn đạt được với BIS trung vị 84 (82 – 85) và Ce trung vị 0,8 (0,8 – 1,0) µg/mL. Có 1 trường hợp ngừng thở thoáng qua với Ce đích 1,0 µg/mL. Kết luận: Propofol TCI với Ce từ 0,8 đến 1,0 µg/mL có thể giúp người bệnh đạt an thần tỉnh mong muốn với BIS trong khoảng 80 ‒ 90 và OAA/S điểm 4 trước đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm, nhưng cần chuẩn độ Ce từng bước nhỏ, theo dõi sát hô hấp và có kế hoạch kiểm soát đường thở cấp cứu. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5199Ảnh hưởng của an thần tỉnh bằng propofol TCI lên chỉ số cảm thụ đau (ANI) trong đặt nội khí quản qua ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt2026-05-11T02:05:55+00:00Nguyễn Quang Bìnhnguyenbinh3010@gmail.comNguyễn Ngọc Thạchnnthach1970@gmail.comTrần Hoài Namnamb5v103@gmail.comPhạm Quốc Khánhvankhanh.rhmk7@gmail.comNguyễn Văn Luândoctorvanluanqy@gmail.com<p class="p1"><em>Đặt nội khí quản (NKQ) qua ống nội soi mềm (NSM) khi người bệnh tỉnh thường gây ra đau và cảm giác cực kỳ khó chịu khiến người bệnh khó hợp tác, có thể tăng tần số tim và huyết áp đáng kể. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của an thần tỉnh bằng propofol truyền kiểm soát nồng độ đích (propofol TCI) lên chỉ số cảm thụ đau (ANI) trong đặt NKQ qua ống NSM ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. Nghiên cứu này là phân tích thứ cấp từ một nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên, có đối chứng, được thực hiện trên 102 người bệnh phẫu thuật áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. So sánh hai nhóm: Nhóm 1 (n = 51) an thần tỉnh bằng propofol TCI, gây tê bề mặt đường hô hấp trên; nhóm 2 (n = 51) gây tê bề mặt đường hô hấp trên, không an thần. Kết quả: Khi ống NSM qua thanh môn và ngay sau đặt NKQ, ANI giảm (p < 0,05) so với giá trị cơ bản ở hai nhóm, nhóm 1 có ANI cao hơn (p < 0,05) so với nhóm 2. Kết luận: An thần tỉnh bằng propofol TCI có thể giúp duy trì ANI cao hơn so với không sử dụng an thần trong đặt NKQ qua ống NSM ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5200Biến chứng chuyển hóa ở trẻ thừa cân, béo phì tại phòng khám dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương2026-05-21T04:17:26+00:00Nguyễn Thị Thuý Hồngbshong@hmu.edu.vnĐặng Thị Thuý Ngatrantiendat@hmu.edu.vnTrần Tiến Đạttrantiendat@hmu.edu.vnPhạm Anh Thơphamanhtho23@gmail.comMai Hải Yếnmaihaiyencc96@gmail.comLưu Thị Mỹ Thụcluuthucvn@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 trẻ dưới 16 tuổi thừa cân hoặc béo phì đơn thuần đến khám tại Phòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 6/2024 đến tháng 7/2025 nhằm mô tả tình trạng rối loạn chuyển hóa và các biến chứng liên quan. Kết quả cho thấy 77,5% trẻ từ 5 tuổi trở lên, 59,0% là nam và 77,5% thuộc nhóm béo phì. Rối loạn lipid máu nổi bật là tăng triglycerid (56,0%), tiếp theo là tăng cholesterol toàn phần (19,5%), tăng LDL-C (12,0%) và giảm HDL-C (10,5%). Dấu hiệu gai đen gặp ở 48,0% trẻ. Về chuyển hóa glucose, 13,5% trẻ có glucose máu lúc đói ở ngưỡng tiền đái tháo đường và 0,5% ở ngưỡng đái tháo đường; theo HbA1c, tỷ lệ tương ứng là 29,0% và 1,0%. Gan nhiễm mỡ ghi nhận ở 34,5% trẻ; nếu tính cả nhóm cần theo dõi, tỷ lệ bất thường gan trên siêu âm là 42,5%. Chưa ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm trẻ dưới 5 tuổi và từ 5 tuổi trở lên về các biến chứng chuyển hóa được khảo sát. Kết quả cho thấy cần tăng cường sàng lọc, theo dõi định kỳ ở trẻ thừa cân, béo phì.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5211Mối tương quan giữa xét nghiệm phIGFBP-1 và các đặc điểm cổ tử cung trong dự đoán nguy cơ sinh non2026-06-21T07:35:09+00:00Nguyễn Xuân Mỹdrnguyenxuanmy@gmail.comNguyễn Thái Giangdrnguyenxuanmy@gmail.comPhạm Bá Nhadrnguyenxuanmy@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 150 thai phụ dọa sinh non tại Bệnh viện Phụ sản TP. Cần Thơ. Kết quả ghi nhận chiều dài cổ tử cung (CL) trung bình đạt 27,09 mm (36,67% có CL < 25 mm) và tỷ lệ xét nghiệm dương tính với phIGFBP-1 là 48,7%. Tỷ lệ sinh non ở nhóm phIGFBP-1 (+) là 54,8%, cao hơn so với nhóm âm tính (24,7%) (p < 0,001) với nguy cơ sinh non cao gấp 3,7 lần. Khi kết hợp xét nghiệm phIGFBP-1 với các đặc điểm siêu âm (Góc cổ tử cung và chiều dài cổ tử cung), mô hình dự đoán đạt diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,731, hiệu quả hơn so với chỉ đo chiều dài cổ tử cung đơn thuần (AUC = 0,696). Sự kết hợp này cung cấp một công cụ phân tầng nguy cơ trên lâm sàng, giúp nhận diện bệnh nhân nguy cơ cao để can thiệp kịp thời, đồng thời hạn chế tình trạng điều trị quá mức cho nhóm rủi ro thấp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5217Đặc điểm lâm sàng trầm cảm ở người bệnh hội chứng ruột kích thích tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 - 20262026-04-27T06:56:26+00:00Vũ Văn Việtvuviet22121999@gmail.comNguyễn Hoài Namnhn12@bachmai.edu.vnLê Thị Thu Hàlethuha@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng trầm cảm ở người bệnh hội chứng ruột kích thích tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 - 2026. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 164 người bệnh cho thấy phần lớn đối tượng là nữ (64,0%), tuổi trung bình 49,2 ± 13,8 và thể tiêu chảy là thường gặp nhất (66,5%). Tỷ lệ trầm cảm theo ICD-10 là 24,4%, trong đó thể tiêu chảy ghi nhận tỷ lệ cao hơn so với các thể khác (30,3%). Các triệu chứng chính thường gặp bao gồm khí sắc giảm (100%) và giảm năng lượng, tăng mệt mỏi (95,0%). Các triệu chứng phổ biến gồm rối loạn giấc ngủ (77,5%), giảm tập trung chú ý (65,0%) và thay đổi cảm giác ngon miệng (62,5%). Triệu chứng cơ thể nổi bật là mất những quan tâm, thích thú trước đây. Kết quả cho thấy trầm cảm là tình trạng thường gặp ở người bệnh hội chứng ruột kích thích, với biểu hiện lâm sàng phong phú, trong đó các triệu chứng cơ thể chiếm ưu thế, có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị, do đó cần được nhận diện sớm và can thiệp kịp thời.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5232Giá trị của phân loại BI-RADS trên nhũ ảnh cắt lớp trong chẩn đoán ác tính các tổn thương vú ở bệnh nhân có mô vú đặc2026-04-27T07:06:15+00:00Lê Thị Kim Cúcdrcucdktn@gmail.comHoàng Thị Ngọc Hàngocha2478@gmail.comHồ Xuân Tuấnhxtuan@dhktyduocdn.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 91 bệnh nhân với 103 tổn thương vú trên nền mô vú đặc nhằm đánh giá hiệu năng chẩn đoán ác tính của phân loại BI-RADS trên nhũ ảnh cắt lớp kỹ thuật số, có đối chiếu với kết quả mô bệnh học. Kết quả cho thấy tỷ lệ ác tính tăng dần theo mức BI-RADS, trong đó các tổn thương BI-RADS 1-3 chủ yếu lành tính, tỷ lệ ác tính tăng từ BI-RADS 4A đến 4C và cao nhất ở BI-RADS 5 (p for trend < 0,001). Ở các ngưỡng cắt được khảo sát, BI-RADS ≥ 4A đạt độ nhạy cao nhất (0,976), BI-RADS ≥ 5 đạt độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương cao nhất, lần lượt là 0,984 và 0,964. Ngưỡng BI-RADS ≥ 4B đạt độ chính xác và AUC cao nhất trong mẫu nghiên cứu (0,871). Phân loại BI-RADS trên nhũ ảnh cắt lớp có giá trị trong phân tầng nguy cơ ác tính ở các tổn thương vú trên nền mô vú đặc. Trong đó, ngưỡng ≥ BI-RADS 4A có ý nghĩa trong hạn chế bỏ sót tổn thương ác tính, còn ngưỡng ≥ BI-RADS 4B chỉ nên được xem là điểm cắt tham khảo về mặt thống kê, không thay thế đánh giá lâm sàng hoặc chỉ định sinh thiết theo khuyến cáo BI-RADS hiện hành.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5266Đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai2026-04-27T01:59:29+00:00Chu Vũ Nguyên Hạnhchuvunguyenhanh@gmail.comPhạm Cẩm Phươngphamcamphuong@gmail.comLê Viết Namvietnamhmu@gmai.comĐoàn Thị Huệdoanthihue@hmu.edu.vnTrần Thị Hà Anantranthiha@bachmai.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu với mục tiêu mô tả đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở người bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Bạch Mai bằng phương pháp mô tả cắt ngang trên 184 người bệnh điều trị nội trú từ tháng 9/2025 đến tháng 3/2026. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh có rối loạn giấc ngủ là 61,41%. Trong các loại rối loạn giấc ngủ, mất ngủ là phổ biến nhất với 58,15%; tiếp theo là rối loạn ngưng thở khi ngủ, hội chứng chân không yên, rối loạn nhịp thức ngủ và ác mộng. Điểm trung bình thang đo Pittsburgh (PSQI) là 9,52 ± 4,57 với 72,28% người bệnh có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI > 5). Theo thang đo ISI, tỷ lệ mất ngủ là 53,80% với điểm trung bình là 8,27 ± 6,51. Các đặc điểm rối loạn giấc ngủ thường gặp là khó đi vào giấc, khó duy trì giấc, thức giấc giữa đêm và hiệu quả giấc ngủ kém. Kết quả này khuyến nghị việc đưa sàng lọc và đánh giá giấc ngủ nên được đưa vào thực hành chăm sóc thường quy nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các rối loạn giấc ngủ, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị cho người bệnh. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5275Các yếu tố liên quan với kích thích hô hấp trên bệnh nhân suy hô hấp cấp giảm oxy máu trong giai đoạn chuyển tiếp2026-05-22T06:23:09+00:00Lê Hữu Thiện Biênbien.le@ump.edu.vnChâu Lâmcl.chaulam@outlook.comPhạm Phan Phương Phươngphamphuong3110@gmail.com<p class="p1"><em>Kích thích hô hấp (KTHH) bất thường có thể làm thông khí không hiệu quả hoặc không an toàn (gây tổn thương phổi−cơ hoành). Chúng tôi hồi cứu các bệnh nhân suy hô hấp cấp giảm oxy máu được thở máy xâm lấn và có giai đoạn chuyển tiếp. Đánh giá KTHH bằng chỉ số áp suất đường thở đóng (P<sub>0.1</sub>) và tìm các yếu tố liên quan với P<sub>0.1</sub>. 79 bệnh nhân được chuyển tiếp từ phương thức thở kiểm soát thể tích sang phương thức thở hỗ trợ áp lực. P<sub>0.1</sub> trung bình 1,7 (1 − 2,5) cmH<sub>2</sub>O. Trong số này có 55 bệnh nhân (69,6%) có P<sub>0.1</sub> trong giới hạn bảo vệ phổi−cơ hoành (TKBVP− CH). Các yếu tố liên quan với P<sub>0.1 </sub>là tỷ số thông khí (β = 0,35, IR = 1,42), mức hỗ trợ áp lực (β = -0,31, IR = 0,73). Điểm RASS không có liên quan với KTHH cả trong phân tích đơn biến và phân tích đa biến. Bệnh nhân đạt TKBVP− CH có thời gian thở máy 8,91 (6,04 - 12,09) ngày ngắn hơn các bệnh nhân không đạt TKBVP−CH 12,41 (6,59 - 22,95) ngày (không có ý nghĩa thống kê). Các yếu tố liên quan với KTHH là tỷ số thông khí và mức hỗ trợ áp lực. Tỷ lệ bệnh nhân đạt TKBVP− CH khá cao nhưng không ảnh hưởng đến thời gian thở máy.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5301Giá trị của xét nghiệm Calprotectin trong chẩn đoán và theo dõi bệnh viêm ruột: Tổng quan cập nhật2026-05-10T07:45:44+00:00Lê Văn Thanhlevanthanh09091963@gmail.comDương Hà Khánh Linhkhanhlinh175@gmail.com<p class="p1"><em>Bài báo tổng quan tường thuật này đánh giá vai trò của Calprotectin phân trong quản lý bệnh viêm ruột (IBD). Từ dữ liệu hướng dẫn quốc tế (ECCO, AGA), bài viết làm rõ cơ chế và giá trị lâm sàng của dấu ấn này. Calprotectin phân là chỉ dấu nhạy để xác định tình trạng viêm thực thể, tạo tiền đề chẩn đoán phân biệt IBD với các bệnh lý loét đại tràng khác (lao ruột, nhiễm trùng, do thuốc). Trong theo dõi, đây là công cụ giúp đánh giá hồi phục niêm mạc và dự báo sớm bùng phát trước 2 đến 6 tháng. Tại Việt Nam, nơi nội soi đại tràng có chi phí hợp lý và độ an toàn cao, Calprotectin phân được đề xuất ứng dụng định kỳ mỗi 3 đến 6 tháng như một giải pháp bổ trợ không xâm lấn giữa các lần soi. Mô hình phối hợp linh hoạt này phục vụ chiến lược “điều trị theo mục tiêu”, giảm tải cho các trung tâm nội soi tuyến đầu và tối ưu hóa chi phí quản lý bệnh dài hạn.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5311So sánh hiệu quả thở máy ngắt quãng áp lực dương qua mũi (NIPPV) và thở áp lực dương liên tục qua mũi (NCPAP) trong 24 giờ đầu điều trị ở trẻ sơ sinh non tháng mắc bệnh màng trong tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long năm 2025 - 20262026-06-17T02:56:40+00:00Trần Quang Khảitqkhai@ctump.edu.vnTrần Chí Côngdrcongpedivl@gmail.comNguyễn Ngọc Tuyềnbstuyenbvdklh@gmail.comPhan Ngọc Quế HươngDrhuhu271@gmail.comDương Hửu Nghĩadhnghia208@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu có ghép cặp trên 76 trẻ non tháng mắc bệnh màng trong tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long (5/2025 - 4/2026) nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và so sánh kết quả điều trị trong 24 giờ đầu sau can thiệp giữa thở máy ngắt quãng áp lực dương qua mũi (NIPPV) và thở áp lực dương liên tục qua mũi (NCPAP) ở trẻ sơ sinh non tháng mắc bệnh màng trong. Kết quả: Triệu chứng thường gặp là co lõm ngực (96,1%), thở rên (73,7%), thở nhanh (72,4%); toan hô hấp chiếm 71,6%. Sau 1 giờ, nhóm NIPPV cải thiện tốt hơn về lừ đừ, co lõm ngực và thở nhanh (p < 0,05). Sau 24 giờ, tỷ lệ thất bại hỗ trợ hô hấp ở nhóm NCPAP cao hơn nhiều so với nhóm NIPPV (28,9% so với 5,3%, p = 0,006). Như vậy, NIPPV cho thấy xu hướng hiệu quả hơn NCPAP trong việc cải thiện sớm triệu chứng và giảm tỷ lệ thất bại của hỗ trợ hô hấp trong 24 giờ đầu ở trẻ sinh non tháng suy hô hấp. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5312Vai trò của siêu âm trong phẫu thuật u nội sọ2026-05-20T14:16:29+00:00Văn Hoài Thươngvanhoaithuong7@gmail.comDương Trung Kiênduongtkien@gmail.comPhạm Hồng Đứcphamhongduc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò và giá trị hỗ trợ của siêu âm trong phẫu thuật (SATPT) trong định vị, xác định ranh giới và phát hiện u tồn dư ở bệnh nhân u nội sọ, đối chiếu với cộng hưởng từ (CHT) sau mổ sớm. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 34 bệnh nhân phẫu thuật u nội sọ có sử dụng SATPT tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ 01/2021 đến 03/2026; CHT sau mổ trong 48 giờ là tiêu chuẩn tham chiếu. SATPT định vị đúng khối u trong 34/34 trường hợp. Tỷ lệ lấy u triệt để trên CHT sau mổ là 73,5%. Trong phát hiện u tồn dư, SATPT có độ nhạy 55,6%, độ đặc hiệu 100%, giá trị dự báo dương 100%, giá trị dự báo âm 86,2% và độ chính xác 88,2%. Các trường hợp bỏ sót chủ yếu là phần tồn dư nhỏ, nằm sâu hoặc rìa hốc mổ không rõ. SATPT là phương tiện thời gian thực hữu ích, chi phí hợp lý, nhưng cần phối hợp với CHT trong u xâm lấn.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5315Mối liên quan giữa mòn răng và rạn men răng ở cựu chiến binh cao tuổi2026-06-05T08:26:41+00:00Vũ Mạnh Tuấnmanhtuan@hmu.edu.vnVõ Nhật Minhnhatminhrhm2003@gmail.comHoàng Ngọc Minhminhhoangcva3@gmail.comTạ Thuý Loanthuyloandentist@gmail.comĐinh Thanh Thuỳdrdinhthanhthuyhmu@gmail.comHoàng Thị Thu Hươnghuong04022001@gmail.comBùi Quang Đồngbuidong.rhm@gmail.comNguyễn Trọng Đăng2351010078@pnt.edu.vnĐỗ Lê Phương Thảodolephuongthao@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 cựu chiến binh (2346 răng) tại Quảng Bình nhằm đánh giá đặc điểm phân bố và mối liên quan giữa rạn men răng (ECL) và chỉ số mòn răng (TWI). Kết quả ghi nhận tỷ lệ nam giới gấp khoảng 2 lần nữ giới. Tỷ lệ mòn răng là 80,18%, chủ yếu ở TWI 1 (chiếm 41,82%) và tập trung nhiều nhất tại nhóm răng hàm lớn (87,7%). Tỷ lệ rạn men răng là 55,28%, xuất hiện phổ biến nhất ở nhóm răng cửa hàm trên (76,8%) và răng cửa hàm dưới (75,1%). Có mối liên quan phi tuyến tính giữa hai loại tổn thương. Tỷ lệ ECL giảm ở mức độ TWI 3-4, trong khi TWI 1 - 2 không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với ECL. Giới tính nam có liên quan với ECL nhiều hơn so với nữ giới. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5317Vai trò của lactate máu và interleukin-6 trong tiên lượng sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận năm 2025 - 20262026-05-16T09:16:38+00:00Trần Quang Khảitqkhai@ctump.edu.vnLê Huy Thạchlhthach67@gmail.comNguyễn Công Tâmdrcongtampr2011@gmail.comNguyễn Văn Lậpvanlap013@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 72 trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận từ tháng 7/2025 đến tháng 4/2026 nhằm xác định giá trị của lactate máu và interleukin-6 (IL-6) trong tiên lượng sốc nhiễm khuẩn. Tỷ lệ sốc nhiễm khuẩn là 13,9%. Nồng độ lactate và IL-6 ở nhóm sốc cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không sốc (p < 0,05). Phân tích đường cong ROC cho thấy cả hai dấu ấn đều có khả năng phân biệt tốt tình trạng sốc, với điểm cắt tối ưu của lactate là 4,8 mmol/L (độ nhạy 83,3%, độ đặc hiệu 80,0%) và của IL-6 là 40,78 pg/mL (độ nhạy 95,1%, độ đặc hiệu 74,2%). Sau 24 giờ điều trị, nồng độ lactate và IL-6 giảm rõ rệt, phản ánh cải thiện tưới máu mô và đáp ứng viêm. Kết hợp lactate và IL-6 giúp tiên lượng sớm sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em, đặc biệt hữu ích tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5328Hiệu quả và tính an toàn của phác đồ chứa ramucirumab điều trị ung thư dạ dày giai đoạn di căn2026-05-28T04:23:40+00:00Nguyễn Xuân Đạinguyenxuandai99.hmu@gmail.comVũ Hồng Thăngvuhongthang@hmu.edu.vnChử Quốc Hoànquochoan201087@gmail.comLê Thị Yếnleyenbvk@gmail.comPhạm Tuấn Anhphamtuananh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nhằm đánh giá hiệu quả, tính an toàn và một số yếu tố tiên lượng của phác đồ chứa Ramucirumab trên 51 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến dạ dày/vùng nối dạ dày - thực quản giai đoạn di căn hoặc tái phát di căn, điều trị tại Bệnh viện K giai đoạn 01/2025 - 05/2026. Ramucirumab chủ yếu được sử dụng ở bước 2, chiếm 40/51 trường hợp (78,4%); phác đồ thường gặp nhất là Ramucirumab phối hợp Paclitaxel, chiếm 37/51 trường hợp (72,5%). Tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 3,9% trên toàn bộ mẫu và 4,5% trên nhóm đánh giá được đáp ứng; tỷ lệ kiểm soát bệnh tương ứng là 29,4% và 34,1%. Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS) lần lượt là 3,12 và 7,98 tháng. Tiền sử phẫu thuật u nguyên phát là yếu tố tiên lượng độc lập liên quan đến tăng nguy cơ tiến triển bệnh (HR = 2,20; KTC 95%: 1,01 - 4,80; p = 0,048), trong khi nam giới liên quan với nguy cơ tử vong thấp hơn (HR = 0,21; KTC 95%: 0,06 - 0,70; p = 0,011). Về tính an toàn, 94,1% ghi nhận ít nhất một biến cố bất lợi trong quá trình điều trị; biến cố độ 3-4 gặp ở 25 bệnh nhân (49,0%), thường gặp nhất là hạ bạch cầu/giảm bạch cầu hạt độ 3-4 (25,5%). Không ghi nhận tử vong liên quan biến cố bất lợi. Phác đồ chứa Ramucirumab cho thấy khả năng kiểm soát bệnh ở một phần bệnh nhân trong thực hành lâm sàng, với hồ sơ độc tính có thể theo dõi và xử trí được.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5356Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh sởi ở trẻ em2026-05-26T06:51:40+00:00Đỗ Thiện Hảithienhai.nhp@gmail.comNguyễn Thị Huyềnhuyennguyen.nhp@gmail.comPhạm Thị LượtPhamluot.hmu@gmail.comĐỗ Thúy Hằngdohangnt97@gmail.comNguyễn Văn Hoằngbshoang92@gmail.comNguyễn Lệ ChinhLechinh.nhp@gmail.comNguyễn Thị Ngọc LiênNgoclienhmu@gmail.comĐặng Thị Thùydangthithuy1303@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 1028 trẻ mắc sởi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 9/2024 đến tháng 3/2025. Kết quả: Triệu chứng phổ biến nhất là sốt (98,4%) và ho (97,4%), Hạt koplik (73,1%), phát ban (96,7%). Chỉ có 25,68% bệnh nhân không có biến chứng. Biến chứng thường gặp là viêm phổi (72,4%), nhiễm khuẩn huyết (2,4%), một số trường hợp có tình trạng sốc nhiễm trùng. Có 193 bệnh nhân (18,8%) có bệnh nền, trong đó bệnh lý thần kinh chiếm 16,6%, tiếp đó là đẻ non (15,6%), gan mật (14,5%), tim bẩm sinh (12,4%), huyết học (9,8%), ung thư, miễn dịch (6,7%). Bệnh nhân có Hemoglobin > 110 g/L chiếm 58,9%. Các mức độ giảm huyết sắc tố khác chiếm 41,1%; Số lượng tiểu cầu trên 150G/L chiếm tỷ lệ 91,9%. Có 29,2% số ca bệnh có số lượng bạch cầu trên 10 G/L. Tỷ lệ ca bệnh có CRP > 30 chiếm (16,8%), GOT > 40 UI là 89,3%, LDH tăng > 250 U/L chiếm 98%, Ferritin tăng > 300 ng/mL chiếm 51,3%. Tỷ lệ tử vong là 1,3%. Kết luận: Triệu chứng trẻ mắc bệnh sởi bao gồm sốt, phát ban, hạt Koplik là các triệu chứng thường gặp. Biến chứng thường gặp nhất là viêm phổi, ngoài ra tiêu chảy, nhiễm trùng huyết, viêm não và tăng đáp ứng viêm quá mức cũng được ghi nhận. Sốt và viêm long hô hấp là 2 triệu chứng xuất hiện sớm ở nhóm trẻ xác định được là có phơi nhiễm nguồn lây. Do vậy, các bác sĩ lâm sàng luôn chú ý xem xét các biến chứng khi điều trị. Nên cách ly trẻ phơi nhiễm sớm khi có tình trạng sốt và viêm long hô hấp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5358Kết quả sớm vét hạch mạc treo tràng dưới tận gốc bảo tồn động mạch đại tràng trái trong ung thư trực tràng cao2026-05-20T04:17:36+00:00Chử Quốc Hoànquochoan201087@gmail.comDương Chí Thànhduongchithanh.ht@gmail.comNguyễn Xuân Đạinguyenxuandai99.hmu@gmail.comNguyễn Văn Hiếuhieu_hmu@yahoo.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả 140 người bệnh ung thư trực tràng cao được phẫu thuật vét hạch mạc treo tràng dưới tận gốc bảo tồn động mạch đại tràng trái tại Bệnh viện K (07/2017 - 12/2025) nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả ung thư học sớm. Đối tượng có tuổi trung bình 62,4 ± 11,0; nam giới chiếm 52,1%. Trước điều trị, tỷ lệ u cT3-4 là 87,9%, cN dương tính là 66,4%, giai đoạn III chiếm 66,4% và có 31,4% người bệnh nhận điều trị tân bổ trợ. Về phẫu thuật, thời gian mổ trung bình là 110,5 ± 19,2 phút, thời gian nằm viện 7,43 ± 0,83 ngày. Tỷ lệ biến chứng 30 ngày sau mổ chỉ 2,1%, không có trường hợp nào bị rò miệng nối, mổ lại hay tử vong. Số hạch trung bình vét được là 14,80 ± 5,83 (nhóm mổ bước một cao hơn đáng kể, p = 0,0496), tỷ lệ pN dương tính 35,7% và CRM dương tính 0,7%. Ở nhóm tân bổ trợ, tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn mô bệnh học (pCR) đạt 20,5% và giảm giai đoạn TNM đạt 72,7%. Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật này có tính an toàn cao, đảm bảo chất lượng nạo vét hạch và đánh giá tốt đáp ứng mô bệnh học.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5369Giá trị của nồng độ M2BPGi huyết thanh trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan2026-05-24T08:59:57+00:00Lê Phú Tàilephutai2608@gmail.comNguyễn Hoàng Thanhnguyenhoangthanh@hmu.edu.vnNguyễn Công Longnguyenconglongbvbm@gmail.com<p class="p1"><em>Xác định ngưỡng giá trị của nồng độ M2BPGi huyết thanh trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Mô tả cắt ngang trên 120 người bệnh nhiễm virus viêm gan B, trong đó có 60 người bệnh HCC, và 60 người bệnh nhiễm virus mạn tính (VGB) trong thời gian từ tháng 1/2025 đến tháng 1/2026 tại Bệnh viện Bạch Mai. Tất cả người bệnh đều được thực hiện xét nghiệm M2BPGi. Nhóm HCC có tuổi chủ yếu thuộc nhóm trên 60, giới tính nam, có mức độ xơ hóa gan và xơ gan cao hơn so với nhóm VGB, p < 0,001. Nhóm HCC có nồng độ M2BPGi ở mức 2+ chiếm 45% cao hơn so với nhóm viêm gan B là 3,3%, p < 0,001. M2BPGi có giá trị chẩn đoán tốt đối với HCC với diện tích dưới đường cong AUC = 0,854, p < 0,001. Tại điểm C.O.I ≥ 0,8, độ nhạy là 91,7%, độ đặc hiệu là 51,7%, độ chính xác 71,7%. Tại điểm C.O.I ≥ 1,7, độ nhạy là 61,7%, độ đặc hiệu 88,3%, độ chính xác 75%.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5383Tình trạng vận động, sinh hoạt hàng ngày và một số yếu tố liên quan ở người bệnh xẹp đốt sống có loãng xương2026-05-16T13:39:24+00:00Nguyễn Ngọc Quyềnbsquyenptcs108@gmail.comVũ Hồng Vânvuhongvan38@gmail.comNguyễn Thị Thu Thuỷthuyamy108@gmail.comPhạm Việt HàVietha6@yahoo.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 người bệnh xẹp đốt sống có loãng xương (T-score ≤ −2,5) tại Phòng khám Cột sống, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (01-08/2025), đánh giá bằng Barthel Index và Lawton IADL; hồi quy tuyến tính xác định yếu tố liên quan độc lập. Tuổi trung bình 69,97 ± 8,11 tuổi; nữ chiếm 92,0%. Barthel Index trung bình 82,63 ± 16,95; 80,5% phụ thuộc ở các mức độ khác nhau; dịch chuyển (77,5%), lên xuống cầu thang (66,5%) và di chuyển trên mặt bằng (52,0%) bị ảnh hưởng nhiều nhất. Lawton IADL trung bình 5,85 ± 2,07; 66,0% suy giảm; dọn dẹp nhà cửa (69,0%), đi lại (68,0%) và giặt giũ (67,5%) bị ảnh hưởng nhiều nhất. Tuổi, BMI và điểm VAS là yếu tố liên quan độc lập với Barthel Index (R² = 0,660); tuổi, điểm VAS và số đốt sống xẹp là yếu tố liên quan độc lập với Lawton IADL (R² = 0,548). Mức độ đau là yếu tố liên quan mạnh nhất với cả hai thang điểm; kiểm soát đau và đánh giá chức năng sớm cần ưu tiên trong thực hành điều dưỡng.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5384Khảo sát đặc điểm nồng độ resistin huyết thanh và mối liên quan với mức độ nặng ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát2026-05-14T01:56:01+00:00Nguyễn Ngọc Hảitapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnHuỳnh Thanh Hiềnhthien@ctump.edu.vnNguyễn Hồng Hànhha82@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Resistin là một adipokine được tiết chủ yếu từ đại thực bào và bạch cầu đơn nhân, có vai trò quan trọng trong hoạt hóa đáp ứng viêm và quá trình hủy hoại sụn khớp. Nghiên cứu với mục tiêu là khảo sát đặc điểm nồng độ resistin huyết thanh và mối liên quan với mức độ nặng ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát. Mô tả cắt ngang, 79 bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận từ tháng 08 năm 2025 đến tháng 02 năm 2026. Kết quả ghi nhận, đa số bệnh nhân giai đoạn II (55,7%), và giai đoạn III (24,0%), trong khi giai đoạn I và IV chiếm tỷ lệ thấp hơn (lần lượt 15,2% và 5,1%). Tại giai đoạn I, nồng độ resistin trung vị là 383,85 pg/mL (IQR: 321,56 - 844,48) tăng lên là 726,95 pg/mL (IQR: 433,32 - 1168,83) giai đoạn II và đạt 1981,92 pg/mL (IQR: 1883,20 - 2882,09) ở giai đoạn III và cao nhất ở giai đoạn IV là 2217,31 pg/mL (IQR: 1253,82 - 3184,73) (p < 0,001). Sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố, nồng độ resistin liên quan độc lập với mức độ nặng của bệnh với OR là 1,30 lần (KTC 95%: 1,02 - 4,20; p = 0,041. Nồng độ resistin huyết thanh tăng theo độ nặng của thoái hóa khớp gối và là yếu tố liên quan độc lập với thoái hóa khớp gối mức độ nặng.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5387Tỷ lệ đạt LDL-C mục tiêu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 20252026-06-15T06:42:18+00:00Nguyễn Thị Mainguyenmaiytb123@gmail.comNguyễn Kim Tuyên Dandelionflowers99@gmail.comĐỗ Nguyên Vũ donguyenvuhmu@gmail.comNguyễn Mỹ Lannguyenmylan.work@gmail.comĐỗ Doãn Báchdodoanbach@gmail.comNguyễn Thị Phương Anhnguyenphuonganh123.pan@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 162 người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2025 nhằm xác định tỷ lệ đạt mục tiêu LDL-Cholesterol (LDL-C) và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tỷ lệ đạt mục tiêu LDL-C chung là 50,6%, cao nhất ở nhóm nguy cơ tim mạch trung bình (55,0%) và thấp nhất ở nhóm nguy cơ rất cao (35,0%). Statin cường độ trung bình được sử dụng phổ biến nhất (45,1%), trong khi tỷ lệ sử dụng statin cường độ cao ở mức 16,7% và 34,0% người bệnh chưa sử dụng statin. Phân tích hồi quy đa biến ghi nhận giới tính nam (aOR = 2,23; 95% CI: 1,03 - 4,84), tuân thủ điều trị tốt (aOR = 3,09; 95% CI: 1,39 - 6,85) và HbA1c < 7% (aOR = 2,38; 95% CI: 1,01 - 5,63) có liên quan độc lập với khả năng đạt mục tiêu LDL-C. Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng việc kiểm soát LDL-C ở người bệnh đái tháo đường típ 2 vẫn chưa đạt tối ưu, đặc biệt ở nhóm nguy cơ tim mạch cao và rất cao.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5393Thang điểm HEARTRISK6 trong dự đoán biến cố nghiêm trọng ngắn hạn ở bệnh nhân suy tim cấp nhập viện2026-05-24T09:00:08+00:00Đào Thị Thanh Bìnhdtt.binh@hutech.edu.vnHà Quốc Thanhdrthanhhast12@gmail.comNguyễn Nho Tiếnnhotien77@gmail.com<p class="p1"><em>Suy tim cấp là nguyên nhân thường gặp dẫn đến nhập viện và nguy cơ xảy ra biến cố bất lợi. Nghiên cứu xác định tỷ lệ biến cố nghiêm trọng ngắn hạn và đánh giá hiệu năng dự đoán của thang điểm HEARTRISK6 ở bệnh nhân suy tim cấp nhập viện. Thiết kế đoàn hệ hồi cứu-tiến cứu với 160 bệnh nhân suy tim cấp nhập viện. Biến cố nghiêm trọng ngắn hạn bao gồm tử vong trong 30 ngày, suy hô hấp cần hỗ trợ thông khí, nhồi máu cơ tim hoặc tái nhập viện cấp cứu trong vòng 14 ngày. Hiệu năng dự đoán được đánh giá bằng đường cong ROC và kiểm định Hosmer-Lemeshow. Biến cố nghiêm trọng ngắn hạn xảy ra ở 19 bệnh nhân (11,9%). Thang điểm HEARTRISK6 có khả năng phân biệt mức trung bình với AUC 0,76 (KTC 95%: 0,65 - 0,87). Ngưỡng HEARTRISK6 ≥ 5 cho độ nhạy 63,2%, độ đặc hiệu 85,1% và giá trị tiên đoán âm 94,5%. Mô hình có độ phù hợp tốt (Hosmer-Lemeshow p = 0,55). HEARTRISK6 có giá trị trong dự đoán biến cố nghiêm trọng ngắn hạn ở bệnh nhân suy tim cấp nhập viện.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5395Các yếu tố lâm sàng và động học phôi liên quan đến hiện tượng phôi nén không hoàn toàn trong nuôi cấy Time-lapse2026-06-04T02:55:45+00:00Hà Mai Linhmailinhha.tq@gmail.comNguyễn Mạnh Hànguyenmanhha@hmu.edu.vnPhí Thị Tú Anhanhptt@tamanhhospital.vnVũ Thị Mai Anhanhvtm@tamanhhospital.vnNguyễn Thị Mếnmennt@tamanhhospital.vnLê Hoànglehoang@tamanhhospital.vn<p class="p1"><em>Để xác định tỉ lệ và các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng phôi nén không hoàn toàn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 600 phôi từ 97 chu kỳ IVF/ICSI, nuôi cấy Time-lapse. Kết quả cho thấy nén không hoàn toàn chiếm 59,5% số phôi có biểu hiện nén. Các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân không liên quan độc lập đến tỉ lệ phôi nén không hoàn toàn. Bất thường phân chia sớm là yếu tố nguy cơ cao, làm tăng nguy cơ nén không hoàn toàn do loại trừ tế bào (18,09 lần), do đào thải tế bào (4,01 lần) và do cả hai dạng bất thường (19,36 lần). Số tế bào ở 68 giờ nhiều, bắt đầu nén muộn và tỉ lệ mảnh vỡ bào tương nhiều làm tăng nguy cơ xuất hiện nén không hoàn toàn; ngược lại, số tế bào lúc bắt đầu nén nhiều làm giảm nguy cơ này. Như vậy, nén không hoàn toàn là hiện tượng phổ biến, bị chi phối chủ yếu bởi yếu tố nội tại của phôi (bất thường phân chia, xáo trộn động học) thay vì đặc điểm lâm sàng. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5401Mất trũng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu Nghị2026-06-15T06:55:21+00:00Bùi Longbuilong21@gmail.comĐỗ Thị Áitapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Tăng huyết áp là gánh nặng y tế toàn cầu và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế. Trong đó, mất trũng huyết áp được xem là dấu hiệu tiên lượng xấu đối với các biến cố tim mạch và tử vong. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 110 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp A, bệnh viện Hữu Nghị từ tháng 1/2023 đến tháng 9/2023 nhằm xác định tỷ lệ mất trũng huyết áp và các yếu tố liên quan. Tất cả bệnh nhân được đo huyết áp lưu động trong 24 giờ và phân loại theo tiêu chuẩn ESH 2023. Các yếu tố được khảo sát gồm tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, bệnh thận mạn, bệnh mạch vành, tiền sử tai biến mạch não và thời điểm dùng thuốc hạ huyết áp. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 77,1 ± 8,9 tuổi, tỷ lệ mất trũng huyết áp rất cao 82,7%. Bệnh nhân trên 70 tuổi có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng mất trũng huyết áp, trong khi các yếu tố khác như đái tháo đường, bệnh thận mạn, rối loạn chuyển hoá lipit, uống thuốc 1 lần buổi sáng có xu hướng làm tăng nguy cơ mất trũng huyết áp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5413Hội chứng chuyển hóa và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân gút tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình2026-06-09T03:19:01+00:00Lê Thị Phương Anhlephuonganhdr1985@gmail.comNguyễn Thị Phương Thủyphuongthuybm@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở bệnh nhân gút điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình và nhận xét mối liên quan giữa các thành tố của hội chứng chuyển hóa với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 72 bệnh nhân nam giới mắc gút từ tháng 10/2025 đến tháng 03/2026. Kết quả tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa theo IDF (2005) là 48,6%. Nhóm bệnh nhân gút mắc hội chứng chuyển hóa có chỉ số BMI, mức độ đau khớp theo VAS, số khớp sưng và đau đều cao hơn rõ rệt so với nhóm không mắc hội chứng chuyển hóa (p < 0,05). Lạm dụng glucocorticoid trong điều trị gút làm tăng tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa lên tới 81,8%. Nồng độ glucose máu có liên quan chặt chẽ với hội chứng chuyển hóa (p < 0,05). Kết luận, tỷ lệ đồng mắc hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân gút tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình ở mức cao. Hội chứng chuyển hóa làm trầm trọng hơn tình trạng viêm khớp cấp và liên quan mật thiết với béo phì, lạm dụng glucocorticoid và rối loạn đường huyết.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5416Kết quả phẫu thuật ung thư tuyến giáp thể biệt hóa giai đoạn T3b-T4N0M0 tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2026-06-09T06:23:22+00:00Nguyễn Lam Trườnglamtruonghmuoncology@gmail.comLê Văn Quảnglequang@hmu.edu.vnNguyễn Xuân Hậudmnguyenxuanhau@gmail.comNguyễn Diệu Linhclbungthuvu@gmail.com<p class="p1"><em>Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật ung thư tuyến giáp (UTTG) thể biệt hóa giai đoạn T3b-T4N0M0: Nghiên cứu mô tả trên 184 bệnh nhân được phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2022 đến tháng 3/2026. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình là 51,7 ± 12,5. Tỷ lệ nữ/nam = 6,4/1. Có 11,4% trường hợp phát hiện u phá vỡ vỏ trên siêu âm. Tỷ lệ u xâm lấn: cơ trước giáp, khí quản, thần kinh thanh quản quặt ngược lần lượt là: 84,8%; 9,2%; 5,4%, có 1 bệnh nhân (0,6%) có u xâm lấn đồng thời thần kinh thanh quản quặt ngược và thực quản. Tỷ lệ trường hợp đạt diện cắt R0, R1, R2 lần lượt là: 84,8%; 15,2%; 0%. Tỷ lệ di căn hạch tiềm ẩn là 40,2%. Tỷ lệ các biến chứng sau mổ: Co rút tay chân, khàn tiếng, chảy máu, nhiễm trùng, rò bạch huyết có tỷ lệ lần lượt là: 9,8%; 3,8%; 0,5%; 0,5%; 0,5%. Không ghi nhận biến chứng nào tồn tại sau 01 tháng điều trị.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5421Giá trị chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan của thuật toán GALAD2026-06-25T07:12:21+00:00Trần Thị Thắmtranthamhmuh89@gmail.comNguyễn Trọng Tuệtrongtue@hmu.edu.vnNguyễn Ích Việtviethandsome1989@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá hiệu năng chẩn đoán của thuật toán GALAD trong phát hiện ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) và so sánh với các dấu ấn huyết thanh đơn lẻ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 160 đối tượng, gồm 80 bệnh nhân UTBMTBG và 80 bệnh nhân viêm gan B mạn không có ung thư. Hiệu năng chẩn đoán của GALAD, AFP, AFP-L3 và PIVKA-II được đánh giá thông qua đường cong ROC, diện tích dưới đường cong (AUC), độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương (PPV) và giá trị dự đoán âm (NPV). Kết quả: GALAD cho hiệu năng chẩn đoán cao nhất với AUC đạt 0,910 (95% CI: 0,864 – 0,957), cao hơn so với PIVKA-II (0,891), AFP (0,859) và AFP-L3 (0,834). Tại ngưỡng cắt 1,29, GALAD đạt độ nhạy 96,3%, độ đặc hiệu 80,0%, PPV 82,8% và NPV 95,5%. Kết luận: Thuật toán GALAD cho hiệu năng chẩn đoán cao hơn so với các dấu ấn đơn lẻ, đặc biệt với độ nhạy và NPV cao, cho thấy tiềm năng trong sàng lọc và hỗ trợ phát hiện sớm UTBMTBG ở bệnh nhân viêm gan B.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5423Triệu chứng liên quan Sonde JJ và chất lượng sống sau tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng2026-05-31T09:30:49+00:00Phan Thị Kim Ngânphamthikimngan091@gmail.comVõ Hồng Minh Côngbsminhcong@gmail.comPhạm Huy Hùngphamhuyhung100@gmail.comPhan Đỗ Thanh TrúcPhantruc90@gmail.comLê Thị Hồng PhấnLethihongphan1985@gmail.comVõ Song HiệpVosonghiep1993@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang mô tả nhằm xác định tỷ lệ hội chứng triệu chứng liên quan sonde (SRS), điểm CLCS theo bộ câu hỏi USSQ và một số yếu tố liên quan ở 227 người bệnh đặt sonde JJ sau URS từ tháng 5/2025 đến tháng 10/2025 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. SRS được ghi nhận ở 100% người bệnh, với trung bình 4,36 ± 1,13 biểu hiện/người. Các biểu hiện thường gặp gồm đau bất kỳ tần suất nào theo USSQ (99,1%), tạm ngưng hoạt động tình dục trong thời gian lưu sonde JJ (71,8%), tiểu máu đại thể (62,6%) và tiểu đêm ≥ 3 lần/đêm (58,1%). Hai lĩnh vực USSQ có điểm gánh nặng cao nhất là triệu chứng tiết niệu (24,44 ± 5,77) và đau thể xác (9,34 ± 3,89); 40,6% người bệnh có CLCS chung ở mức trung bình/kém. Tự báo cáo có đau theo câu hỏi sàng lọc nhị giá liên quan với khả năng đạt CLCS tốt thấp hơn ở nam (OR hiệu chỉnh 0,34; KTC 95%: 0,13 - 0,92) và nữ (OR hiệu chỉnh 0,37; KTC 95%: 0,15 - 0,91). Cần chuẩn hóa tư vấn xuất viện, đặc biệt về triệu chứng dự kiến, kiểm soát đau và thời điểm cần tái khám.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5424Giá trị tiên lượng của thang điểm CRS trong dự đoán kết quả liệu pháp oxy ở trẻ viêm tiểu phế quản có suy hô hấp2026-06-09T06:25:34+00:00Trịnh Huy Hoànghuyhoang1511.hmu@gmail.comTrương Văn Quýtruongquy@hmu.edu.vnQuàng Ánh Diệpnhdip204@gmail.comĐậu Việt Hùngbsdauhung@yahoo.com<p class="p1"><em>Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá giá trị thang điểm Clinical Respiratory Score (CRS) trong phân loại mức độ nặng và dự đoán kết quả liệu pháp oxy ở trẻ viêm tiểu phế quản có suy hô hấp. Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 87 trẻ ≤ 24 tháng tuổi, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Nông Nghiệp từ tháng 7/2025 đến tháng 4/2026. Điểm CRS được đánh giá khi bắt đầu thở oxy (CRS1) và sau 1 giờ (CRS2). Giá trị tiên lượng được xác định bằng đường cong ROC. Tuổi trung vị 10 tháng (IQR: 4 - 16 tháng), tỷ lệ nam/nữ = 1,3/1. Điểm CRS giảm có ý nghĩa sau 1 giờ điều trị (p < 0,001), với CRS1 và CRS2 cao hơn rõ rệt ở nhóm thất bại (p < 0,001). Ngưỡng CRS1 ≥ 7 dự đoán thất bại liệu pháp oxy với AUC = 0,913 (95% CI: 0,837 - 0,988), độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 73,4%. Thang điểm CRS có giá trị tham khảo trong phân loại mức độ nặng và tiên lượng kết quả điều trị ở trẻ viêm tiểu phế quản có suy hô hấp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5428Hồi phục tế bào T CD4+ sau ghép tế bào gốc đồng loài điều trị lơ xê mi cấp dòng tủy2026-06-02T01:54:09+00:00Nguyễn Thị Hồng Nhungdrnhung1608@gmail.comNguyễn Bá Khanhkhanhhhtm@gmail.comVõ Thị Thanh Bìnhbinh_c8a@yahoo.comNguyễn Hà Thanhnguyenhathanh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Tế bào lympho T CD4+ đóng vai trò quan trọng trong điều hoà hệ thống miễn dịch và kiểm soát nhiễm trùng sau ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài. Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên 78 bệnh nhân lơ xê mi cấp dòng tủy được ghép tế bào gốc đồng loài từ máu ngoại vi tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, nhằm mô tả đặc điểm hồi phục tế bào T CD4+ và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng trong 100 ngày đầu sau ghép. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân hồi phục T CD4+ ≥ 200 tế bào/µL trong 100 ngày đầu là 65,4%. Xác suất hồi phục tích luỹ của T CD4+ tăng dần theo thời gian. Trong phân tích đa biến, kiểu ghép là yếu tố liên quan độc lập đối với hồi phục T CD4+ trong 100 ngày đầu, trong đó nhóm ghép nửa hoà hợp có khả năng hồi phục T CD4+ thấp hơn nhóm ghép hoà hợp hoàn toàn (HR = 0,28; p < 0,001). </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5434Kết quả sớm hóa xạ trị đồng thời ung thư thực quản biểu mô vảy đoạn 1/3 trên di căn hạch thượng đòn tại Bệnh viện K2026-06-05T07:19:28+00:00Nguyễn Minh Nhậtminhnhat97hmu@gmail.comHoàng Mạnh Thắnghoangmanhthang@hmu.edu.vnNguyễn Văn Đăngnguyenvandang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả, hồi cứu trên 56 bệnh nhân ung thư thực quản biểu mô vảy 1/3 trên di căn hạch thượng đòn được hóa xạ trị đồng thời triệt căn tại Bệnh viện K từ tháng 1/2022 đến tháng 12/2024 nhằm đánh giá kết quả sớm với điều trị. Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu là nam giới với tuổi trung bình là 59,0. Đa số bệnh nhân có nuốt nghẹn từ độ 2 trở lên và bệnh ở giai đoạn tiến triển (u T3-T4, hạch N2-3, kích thước u từ 5,3 cm trở lên). Vị trí hạch thượng đòn di căn chủ yếu ở nhóm IV và bên phải. Liều xạ trị trung vị là 61,6 Gy và phác đồ hóa trị chủ yếu là mFOLFOX6 và CF. Tỷ lệ đáp ứng (hoàn toàn và một phần) điều trị theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 là 59,0%, tuy nhiên, tỷ lệ bệnh tiến triển còn cao (21,4%). Trong mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến, chiều dài u (ngưỡng cắt 5,3 cm) và mức độ nuốt nghẹn là các yếu tố có khả năng dự báo tỷ lệ đáp ứng điều trị (p < 0,05).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5438Kết quả điều trị Afatinib bước 1 trên ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV, có đột biến EGFR không thường gặp tại Bệnh viện K2026-05-27T01:14:11+00:00Nguyễn Anh Tuấntuananhnguyenhmu@gmail.comNguyễn Thị Thái Hoàbshoabvk@gmail.comLê Văn Quảnglequang@hmu.edu.vnVũ Hà Thanhhathanhbvk@gmail.com<p class="p1"><em>Afatinib là thuốc ức chế tyrosine kinase thế hệ 2 cho thấy hiệu quả ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR không thường gặp, tuy nhiên dữ liệu đời thực tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu hồi cứu trên 88 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV, ung thư biểu mô tuyến, có đột biến EGFR không thường gặp, tại Bệnh viện K. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) lần lượt là 62,5% và 83%. Với trung vị thời gian theo dõi 28,8 ± 1,4 tháng, trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (mPFS) là 11,4 ± 1,1 tháng. Ở bệnh nhân có di căn não, mPFS đạt 11 ± 1,1 tháng, so với 14,1 ± 5,0 tháng ở nhóm không có di căn não (p = 0,08). Các độ tính thường gặp bao gồm tiêu chảy, độc tính da, viêm quanh móng và viêm niêm mạc, chủ yếu ở mức độ nhẹ-trung bình; 12,5% bệnh nhân ghi nhận độc tính độ 3, không ghi nhận độc tính độ 4. Afatinib cho thấy hiệu quả và độ an toàn chấp nhận được trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV, có đột biến EGFR không thường gặp tại Việt Nam.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5444Thang điểm centor cải tiến trong chẩn đoán liên cầu nhóm A ở trẻ viêm họng cấp tại Cần Thơ2026-05-26T09:56:09+00:00Đoàn Long Vinh24810132490@student.ctump.edu.vnNguyễn Đức Tríngductri27@gmail.comTrần Đỗ Hùngtdhung@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Liên cầu nhóm A gây viêm họng cấp chiếm khoảng 15 - 30% các trường hợp ở trẻ và có thể dẫn đến nhiều biến chứng như thấp tim, thấp khớp, viêm cầu thận cấp... Thang điểm Centor cải tiến là công cụ dự đoán khả năng nhiễm liên cầu nhóm A dựa trên các tiêu chí lâm sàng, hỗ trợ quyết định sử dụng kháng sinh hợp lý. Nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá giá trị chẩn đoán trên 170 trẻ viêm họng cấp tại Bệnh viện Nhi Đồng thành phố Cần Thơ. Thang điểm Centor cải tiến được sử dụng làm test chỉ số với tiêu chuẩn tham chiếu là nuôi cấy dịch hầu họng định danh liên cầu nhóm A. Kết quả ghi nhận tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 12,9%. Các triệu chứng sốt > 38°C (48,2%), amidan phù nề/xuất tiết (26,5%) liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả nuôi cấy dương tính (p < 0,05). Thang điểm Centor cải tiến có giá trị dự đoán khá tốt khả năng nhiễm liên cầu nhóm A với AUC = 0,774; ngưỡng cắt ≥ 3 đạt độ nhạy 77,3% và độ đặc hiệu 73,0%.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5451Đông máu rải rác nội mạch và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhi lơ xê mi cấp dòng lympho T2026-06-04T06:30:38+00:00Hoàng Thị Hồnghoangthihong@hmu.edu.vnĐặng Hoàng Hảidanghoanghai1294@gmail.comMai LanMai_lan_1009@yahoo.comLê Khánh QuỳnhLekhanhquynh.hmu@gmail.comNguyễn Quang TùngNguyenquangtung@hmu.edu.vnTrần Thị Kiều Mytrankieumy@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Rối loạn đông máu rải rác nội mạch (disseminated intravascular coagulation - DIC) là một biến chứng nguy hiểm ở bệnh nhân lơ xê mi cấp. Phân tích trên 140 bệnh nhi lơ xê mi cấp dòng lympho T (T-cell acute lymphoblastic leukemia - T-ALL) tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2019 - 2025 nhằm khảo sát tỷ lệ DIC và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy nam chiếm 76,4%, tuổi trung vị là 10,2 năm và 20,0% có biểu hiện dấu ấn dòng tủy. Tỷ lệ DIC tại thời điểm thăm khám ban đầu là 54,3%. Phân tích đa biến ghi nhận hai yếu tố liên quan độc lập với DIC bao gồm: số lượng bạch cầu ≥ 50 G/L (OR = 3,18; KTC 95%: 1,41 - 7,17; p=0,005) và không có dấu ấn dòng tủy (OR = 2,55; KTC 95%: 1,02 - 6,37; p = 0,044). Như vậy, DIC là biến chứng thường gặp ở bệnh nhi T-ALL, cần thực hiện xét nghiệm đông máu ngay khi nhập viện, đặc biệt ở những trường hợp có bạch cầu ≥ 50 G/L và không có dấu ấn miễn dịch dòng tủy.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5460Đặc điểm rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm ở người bệnh ung thư thanh quản tại Bệnh viện K Tân Triều2026-06-04T04:05:10+00:00Phạm Phương Quỳnhquynhpham019@gmail.comNguyễn Tiến Hùnghungnt70@gmail.comDương Minh Tâmduongminhtam@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm ở người bệnh ung thư thanh quản bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 142 người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện K Tân Triều. Tuổi trung bình 60,95 ± 8,64 tuổi, nam giới chiếm 96,5%. Tỷ lệ mắc rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm là 36,6%. Tác nhân stress chủ yếu là chẩn đoán ung thư (90,6%) và quá trình điều trị (82,7%). Khí sắc trầm gặp ở 100% người bệnh, giảm năng lượng (96,2%), mất ngủ (98,1%) và ý tưởng tự sát (25,0%) là các triệu chứng lâm sàng nổi bật. Tỷ lệ rối loạn sự thích ứng với phản ứng trầm cảm cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm giai đoạn III–IV (OR = 3,0; 95%CI: 1,4 – 6,3; p = 0,003) và nhóm đang điều trị hoặc tái phát (p = 0,007).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5471Một số yếu tố liên quan đến số lượng noãn trưởng thành trong chu kỳ IVF sử dụng phác đồ kích thích buồng trứng với mồi Progestin2026-06-04T04:46:19+00:00Đào Thị Ninhdaothininhkw@gmail.comNguyễn Phúc Hoànnguyenphuchoan@hmu.edu.vnĐỗ Thị Minh Tâmminhtamhmu117@gmail.comTrần Khánh Linhdrtrankhanhlinh@gmail.comNguyễn Ngân Hànganha3110006@gmail.comNguyễn Khang Sơnkhangson@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu trên 101 chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm sử dụng phác đồ kích thích buồng trứng với mồi progestin (Progestin-Primed Ovarian Stimulation - PPOS) tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm xác định một số yếu tố liên quan và tìm hiểu khả năng dự đoán số lượng noãn trưởng thành (MII). Tuổi trung bình của người vợ trong chu kỳ là 32,53 ± 5,20 năm; số noãn MII trung bình là 10,06 ± 7,20. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy số nang ≥ 14 mm ngày trigger (β = 0,324; p = 0,005 và nồng độ progesterone ngày trigger (β = 0,220; p = 0,010) là các yếu tố liên quan độc lập với số lượng noãn MII. Phân tích giá trị dự đoán tương đối tốt với R² hiệu chỉnh đạt 53,0%% (p < 0,001). Kết quả cho thấy khả năng dự đoán số noãn trưởng thành đáng kể, có thể bổ sung cho các chỉ số dự trữ buồng trứng. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5475Phát triển thể chất, tinh thần và dậy thì ở trẻ suy giáp trạng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương2026-06-14T03:28:56+00:00Tống Văn Phúctongvanphuc123nb@gmail.comLương Thị Phượngluongthiphuong@hmu.edu.vnVũ Chí Dũngdungvu@nch.org.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 137 trẻ 8 - 18 tuổi mắc suy giáp trạng bẩm sinh đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương nhằm mô tả phát triển thể chất, tinh thần, dậy thì và so sánh kết cục theo phương pháp phát hiện bệnh. Có 27,7% trẻ được phát hiện qua sàng lọc sơ sinh. Z-score chiều cao theo tuổi trung bình -0,84 ± 1,22 (p < 0,001 so với chuẩn WHO); thấp còi 15,3%. Điểm IQ trung bình 95,75 ± 15,09 (p = 0,007); 14,9% có IQ < 80. Tuổi xương trễ trung bình 1,23 năm. Dậy thì nhìn chung bình thường (2 trường hợp dậy thì sớm). Nhóm phát hiện qua sàng lọc có Z-score chiều cao và IQ cao hơn nhóm lâm sàng; tuy nhiên, sau khi hiệu chỉnh tuổi chẩn đoán và tuổi hiện tại, khác biệt này không còn ý nghĩa độc lập, trong khi tuổi chẩn đoán sớm mới là yếu tố liên quan độc lập với kết cục tốt hơn. Phát hiện và điều trị sớm có liên quan với cải thiện phát triển thể chất và tinh thần ở trẻ suy giáp trạng bẩm sinh.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5476Ứng dụng mô hình học sâu để phát hiện và phân loại gãy cổ xương đùi và gãy liên mấu chuyển trên X-quang2026-06-14T03:23:54+00:00Phạm Tấn Hưởngphamtanhuong10a1@gmail.comNguyễn Vũ Đằngnvdang@ctump.edu.vnPhạm Tấn Hạnhtpham2023@my.fit.eduNguyễn Thành Tấnnttan@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Gãy cổ xương đùi và gãy liên mấu chuyển là các tổn thương thường gặp trong chấn thương vùng háng. Việc phát hiện và phân loại chính xác có vai trò quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị nhưng phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm bác sĩ. Nghiên cứu này sử dụng mô hình RF-DETR làm cơ sở để xây dựng mô hình phát hiện và phân loại gãy cổ xương đùi và gãy liên mấu chuyển trên phim X-quang. Mô hình RF-DETR được huấn luyện và kiểm định nội bộ trên 1.483 hình ảnh X-quang công khai. Đánh giá ngoài được thực hiện trên 93 phim X-quang tại bệnh viện, với tiêu chuẩn vàng là sự đồng thuận của hai bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình. Trên tập kiểm định nội bộ, mô hình đạt mAP@50 93,9%, precision 91,8%, recall 90,6%. Trên dữ liệu bệnh viện, mô hình đạt accuracy 95,7% (KTC 95%: 89,5 - 98,3%), cao hơn bác sĩ đa khoa 78,5% (KTC 95%: 69,1 - 85,6%), p < 0,001 (McNemar test), với hệ số kappa 0,936. Mô hình học sâu RF-DETR cho hiệu năng cao và có tiềm năng hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5478Đánh giá đau do nguyên nhân thần kinh bằng thang điểm DN4 và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát2026-06-04T03:55:56+00:00Nguyễn Thị Lansonglan84@gmail.comTrần Thị Tô ChâuTranchaucxk@gmail.comLê Thị Liễulieubm@gmail.comNgô Thị Thục Nhàndr.thucnhan@gmail.comPhùng Đức Tâmphungductam@hmu.edu.vnNguyễn Ngọc Bíchbichnguyen.clara@gmail.comPhạm Thị Mai Quyênmaiquyencs99@gmail.comNguyễn Vĩnh Ngọcvinhngoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang mô tả đặc điểm đau thần kinh theo thang điểm DN4 và một số yếu tố liên quan trên 146 bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát (theo tiêu chuẩn ACR 1991) tại Bệnh viện Bạch Mai từ 12/2025 đến 4/2026. Kết quả tỷ lệ bệnh nhân có đau thần kinh theo DN4 là 45,9%. Triệu chứng thường gặp gồm: điện giật (56,8%), buốt cóng (55,5%), đau xuất hiện hoặc tăng lên khi chà nhẹ (53,4%). Phân tích đơn biến ghi nhận các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với đau thần kinh (p < 0,05) như: tuổi > 70 (OR = 3,2), thời gian phát hiện bệnh ≥ 12 tháng (OR = 4,8;), điểm VAS ≥ 7 (OR = 10,7), giai đoạn X-quang III, IV (OR = 5,6) và điểm tổng WOMAC (OR = 1,1). Khi phân tích hồi quy đa biến, điểm tổng WOMAC là yếu tố duy nhất liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê với đau thần kinh (aOR = 1,2; 95% CI: 1,1 – 1,3; p < 0,001). Kết quả cho thấy đau thần kinh chiếm tỷ lệ cao ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát. Điểm tổng WOMAC là yếu tố dự báo độc lập cho tình trạng này, do đó lâm sàng cần chú ý tầm soát sớm đau thần kinh ở đối tượng bệnh nhân có điểm tổng WOMAC cao.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5479Các yếu tố liên quan đến kiểm soát bệnh ở bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát đáp ứng không hoàn toàn với kháng Histamin H1 liều cao2026-06-03T04:31:04+00:00Phạm Thị Hoàng Yếnphamhoangyen246@gmail.comLê Hữu Doanhlehuudoanh@gmail.comTrần Sơn Tùngtungtranson2512@gmail.comNguyễn Thị Kim Cúckimcuc190989m@gmail.comPhạm Thị Thảodoanthaopt1979@gmail.comVũ Nguyệt Minhvunguyetminh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 250 bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát (CSU) chưa đạt kiểm soát hoàn toàn sau 4 tuần điều trị bằng thuốc kháng histamin H1 thế hệ 2 (sgAH1) liều cao (gấp 4 liều chuẩn), nhằm xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng kiểm soát bệnh kém (UCT < 12). Kết quả cho thấy tỉ lệ kiểm soát kém ở nhóm bệnh nhân này là 53,6%. Nhóm CSU kiểm soát kém có tuổi trung bình cao hơn, điểm UAS7 nền cao hơn và nồng độ IgE toàn phần thấp hơn so với nhóm kiểm soát tốt (p < 0,05). Hồi quy logistic đa biến cho thấy nồng độ IgE toàn phần thấp (OR = 4,54; p = 0,02) và điểm UAS7 nền cao (OR = 1,04; p = 0,03) là yếu tố liên quan độc lập với kiểm soát kém trong nhóm CSU không kiểm soát bệnh hoàn toàn với sgAH1 liều cao. Mô hình dự báo đạt giá trị phân biệt ở mức độ khiêm tốn với AUC = 0,668. Việc nhận diện các yếu tố này có thể hỗ trợ bác sĩ lâm sàng theo dõi sát sao hơn ở nhóm bệnh nhân khó kiểm soát, đồng thời gợi ý thêm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bệnh sinh của nhóm CSU này. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5486Giá trị nồng độ Thyroglobulin dịch rửa trong chẩn đoán di căn hạch vùng ung thư tuyến giáp thể nhú2026-06-16T01:56:28+00:00Trần Thị Hoàng Anhhoanganhyhn@gmail.comLê Thị Myv.mylt8@vinmec.comPhạm Vũ Hiệpv.hieppv5@vinmec.comDương Mạnh Cườngv.cuongdm15@vinmec.comThiều Thị Trà Mythieumy.hmu@gmail.comNgô Thị Thanh Túv.tuntt5@vinmec.comPhan Thanh Nguyênv.nguyenpt14@vinmec.comNguyễn Viết Trungv.trungnv42@vinmec.comLê Tuấn Nhật Hoàngv.hoangltn@vinmec.comTrần Thị Phương Lanv.lanttp2@vinmec.comLê Ngọc Hàlengocha108@yahoo.com<p class="p1"><em>Di căn hạch cổ là tình trạng thường gặp ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú. Gần đây, định lượng thyroglobulin dịch rửa kim (FNA-Tg) đã được khuyến cáo trong hướng dẫn của mạng lưới ung thư Hoa Kỳ (National Comprehensive Cancer Network: NCCN) và Hội tuyến giáp Hoa Kỳ ( American Thyroid Association: ATA) nhằm hỗ trợ chẩn đoán hạch di căn, tuy nhiên phương pháp này vẫn còn mới tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện trên 98 hạch cổ của 47 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú nhằm đánh giá giá trị chẩn đoán và xác định ngưỡng tối ưu của FNA-Tg. Kết quả cho thấy nồng độ FNA-Tg ở nhóm có tế bào học dương tính cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm âm tính (p = 0,000). Ngưỡng tối ưu được xác định là 60 ng/ml, với độ nhạy 90% và độ đặc hiệu 81,2%. Diện tích dưới đường cong ROC (AUC) đạt 0,92 và hệ số đồng thuận Cohen’s Kappa là 0,7 (p < 0,005), cho thấy FNA-Tg là xét nghiệm có giá trị cao và có thể ứng dụng hiệu quả trong chẩn đoán hạch di căn ung thư tuyến giáp thể nhú trên lâm sàng. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5488Đặc điểm rối loạn ăn uống ở trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý2026-06-16T03:49:02+00:00Nguyễn Thị Hồng Nhungnguyennhung250199@gmail.comBùi Văn Lợibuitrinhloi@gmail.comNguyễn Thế Tàibacsiyhanoi1996@gmail.comDương Minh Tâmduongminhtam@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 246 trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý từ 6 - 12 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương và Bệnh viện Bạch Mai từ 01/11/2025 đến 30/03/2026 với mục tiêu đánh giá đặc điểm rối loạn ăn uống ở nhóm trẻ này. Kết quả có 17,9% trẻ mắc rối loạn ăn uống. Trong đó, rối loạn tránh né/hạn chế ăn uống (50,0%) và rối loạn cuồng ăn (31,8%) là phổ biến nhất. Rối loạn tăng động giảm chú ý thể kết hợp có tỷ lệ rối loạn ăn uống cao nhất (22,6%). Trong rối loạn tránh né/hạn chế ăn uống, phần lớn trẻ hạn chế ăn do thiếu hứng thú ăn uống (45,5%). Ở trẻ ăn vô độ tâm thần/rối loạn cuồng ăn, 100% trẻ ăn lượng lớn thức ăn trong thời gian ngắn và không hài lòng với cân nặng. Các khó khăn thường được ghi nhận ở trẻ rối loạn ăn uống là thừa cân/béo phì (45,5%), suy giảm kết quả học tập (59,1%) và mâu thuẫn gia đình xung quanh bữa ăn (54,5%).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5489Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân có chỉ định cắt bán phần xương hàm trên tại Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội2026-06-15T08:47:37+00:00Lê Đức Thànhdr.lethanh1982@gmail.comPhạm Đức Giangducgiang.pham@hmu.edu.vnĐàm Minh Tuânminhtuan.rhm@gmail.comNguyễn Thanh HuyềnHuyenortho@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh tiến cứu phân tích đặc điểm lâm sàng của 24 bệnh nhân có tổn thương xương hàm trên gồm cả lành tính và ác tính. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 45,5 ± 15,14 tuổi, chủ yếu trong nhóm 30 - 60 tuổi, tỷ lệ nam và nữ tương đương. Phần lớn bệnh nhân thuộc nhóm lao động tự do. Nhóm tổn thương ác tính có xu hướng gặp ở bệnh nhân lớn tuổi hơn so với nhóm lành tính. Đa số trường hợp nhập viện do triệu chứng cơ năng với kích thước tổn thương dưới 5 cm. Ngược lại, ở nhóm vào viện vì ảnh hưởng chức năng và thẩm mỹ, tổn thương kích thước ≥ 5 cm chiếm ưu thế và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tuy nhiên, chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kích thước tổn thương và bản chất lành tính hay ác tính của tổn thương (p > 0,05).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5492Một số yếu tố liên quan đến bùng phát ở bệnh nhân trứng cá thông thường điều trị bằng Isotretinoin đường uống2026-06-10T03:02:25+00:00Lê Thị Quỳnh Trangbsquynhtrang.hmu@gmail.comTrần Thị Huyềndrhuyentran@gmail.comTrương Thị Huyền Trangtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnVũ Thái Hàvuthaiha@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả đặc điểm bùng phát ở bệnh nhân điều trị trứng cá bằng isotretinoin đường uống và phân tích một số yếu tố liên quan. Có 200 bệnh nhân trứng cá được điều trị bằng isotretinoin liều 0,1 - 0,3 mg/kg/ngày, được theo dõi tình trạng bùng phát trong 6 tuần. Kết quả có 150 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu. Bùng phát xảy ra ở 26 bệnh nhân (17,3%). Trong đó, mức độ nhẹ chiếm 9,3% (14 người); mức độ vừa chiếm 5,3% (8 người) và mức độ nặng chiếm 2,7% (4 người). Thời gian xuất hiện bùng phát trung bình là 2,6 tuần. Điểm GAGS cao, trứng cá ở thân mình, nhân lớn (macrocomedone) có tỷ lệ cao hơn ở nhóm bệnh nhân bùng phát, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Phân tích ROC cho thấy điểm GAGS có giá trị dự báo bùng phát ở mức thấp đến trung bình, với điểm cắt tối ưu là 19,5 và diện tích dưới đường cong (AUC) đạt 0,635 (95% CI: 0,501 – 0,769). Mặt khác, trong số 91 bệnh nhân nữ có 33 bệnh nhân (36,3%) có biểu hiện lâm sàng của cường androgen. Tỷ lệ bùng phát trong nhóm có cường androgen cao hơn nhóm không có cường androgen (21,2% so với 12,1%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,245).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5494Giá trị tham khảo trên cộng hưởng từ và bất tương hợp chỉ số độ cao xương bánh chè ở người Việt Nam2026-06-12T04:11:17+00:00Trần Nguyễn Phươngphuong.tn@umc.edu.vnLê Nhật Sángsang.ln@umc.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên 130 phim cộng hưởng từ khớp gối tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh (2019 - 2022) nhằm mô tả bước đầu giá trị tham khảo MRI cho bốn chỉ số độ cao xương bánh chè (XBC): Insall-Salvati (IS), Insall-Salvati cải biên (MIS), bánh chè-ròng rọc (PTI) và tiếp xúc chè-đùi trên mặt phẳng đứng dọc (SPE); đồng thời đánh giá sự bất tương hợp phân loại giữa nhóm chỉ số mốc xương (IS, MIS) và nhóm chỉ số mốc sụn khớp (PTI, SPE). Kết quả thấy chỉ số IS = 1,12 ± 0,15; MIS = 1,74 ± 0,18; PTI = 0,43 ± 0,09; SPE = 0,49 ± 0,10. IS ở nữ cao hơn nam (1,18 so với 1,09; p = 0,0004). Tương quan nội nhóm cao: PTI-SPE r = 0,87; IS-MIS r = 0,53 (p < 0,001). Tương quan liên nhóm không có ý nghĩa (IS-PTI r = −0,08; IS-SPE r = −0,06). Bất tương hợp: 44/130 (33,8%) có IS > 1,2 nhưng không trường hợp nào được PTI xác nhận XBC lên cao. Kết quả gợi ý nguy cơ phân loại quá mức XBC lên cao khi áp dụng ngưỡng IS > 1,2 từ y văn nước ngoài cho người Việt Nam.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5503Đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở người bệnh vị thành niên điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai2026-05-25T07:12:23+00:00Vũ Minh Anhvuminhanh108@gmail.comLê Thị Thu Hàlethuha@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở người bệnh vị thành niên điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 - 2026. Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 256 người bệnh từ 10 - 19 tuổi điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 07/2025 đến tháng 05/2026. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 15,97 ± 2,21 tuổi; nữ giới chiếm 64,1%. Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ theo DSM-5 là 56,2%. Trong các rối loạn giấc ngủ được ghi nhận, mất ngủ thường gặp nhất với 66,7%, tiếp theo là rối loạn ác mộng 37,5%, rối loạn ngủ nhiều 13,2% và rối loạn nhịp thức - ngủ 11,8%. Triệu chứng trước ngủ thường gặp gồm suy nghĩ miên man 68,8% và mệt mỏi 50,7%. Biểu hiện ban ngày nổi bật là buồn ngủ 69,4%, mệt mỏi 61,1% và giảm tập trung chú ý 48,6%. Rối loạn giấc ngủ là vấn đề thường gặp ở nhóm người bệnh nghiên cứu, trong đó mất ngủ và ác mộng là hai rối loạn nổi bật.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5510Tái tạo khuyết phức tạp chi dưới bằng vạt đùi trước - ngoài dạng chùm2026-06-04T07:54:36+00:00Hoàng Tuấn AnhTuananhcmfs@gmail.comNguyễn Hợp Nhânnhan.ptth@gmail.com<p class="p1"><em>Khuyết phần mềm phức tạp chi dưới kèm lộ gân, xương và viêm xương thường yêu cầu phức tạp về tái tạo che phủ và phục hồi chức năng. Nghiên cứu hồi cứu 13 bệnh nhân khuyết phần mềm cẳng chân, cổ chân và bàn chân được tạo hình bằng vạt đùi trước-ngoài dạng chùm từ 01/2020 đến 01/2026. Vạt gồm thành phần da-cân và cơ rộng ngoài; phần da-cân dùng che phủ và tái tạo mặt phẳng trượt gân, phần cơ lấp đầy khoảng chết và hỗ trợ kiểm soát nhiễm trùng. Tất cả vạt có tối thiểu hai mạch xuyên; kích thước vạt từ 8×6 cm đến 32×12 cm, chiều dài cuống trung bình 10,3 cm. Có 2 trường hợp phải mổ lại sớm do biến chứng tĩnh mạch, trong đó 1 trường hợp thiểu dưỡng đầu xa cần ghép da bổ sung; không ghi nhận hoại tử vạt hoàn toàn. Kết quả chức năng và thẩm mỹ khả quan. Vạt đùi trước-ngoài dạng chùmlà lựa chọn hiệu quả cho khuyết phần mềm phức tạp chi dưới, giúp xử trí đồng thời nhiều đơn vị giải phẫu trong một thì phẫu thuật.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5511Sự cải thiện độ nhô và độ xoay đầu mũi sau phẫu thuật tạo hình mũi bằng sụn sườn tự thân ở bệnh nhân khe hở môi một bên2026-06-08T03:26:46+00:00Nguyễn Đức Quỳnhnguyenducquynhbvkn1@gmail.comNguyễn Thị HoàDrhoa.nt@gmail.com<p class="p1"><em>Biến dạng mũi thứ phát ở bệnh nhân khe hở môi một bên thường đặc trưng bởi tình trạng thiếu độ nhô, giảm độ xoay đầu mũi và bất cân xứng mũi. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 20 bệnh nhân khe hở môi một bên được phẫu thuật tạo hình mũi bằng sụn sườn tự thân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 06/2024 đến 12/2025. Ảnh chụp khuôn mặt tư thế nghiêng 90° trước mổ và sau mổ 6 tháng được phân tích bằng phần mềm ImageJ nhằm đánh giá độ nhô đầu mũi thông qua giá trị tuyệt đối độ nhô và chỉ số Goode, đồng thời đánh giá độ xoay đầu mũi qua góc mũi - môi. Kết quả cho thấy độ nhô và độ xoay đầu mũi cải thiện rõ rệt sau phẫu thuật. Phẫu thuật tạo hình mũi bằng sụn sườn tự thân giúp tăng cường nâng đỡ cấu trúc và cải thiện kết quả thẩm mỹ ở bệnh nhân khe hở môi một bên.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5516Đặc điểm và diễn tiến sớm tổn thương động mạch vành không thủ phạm trên Ivus ở bệnh nhân STEMI2026-06-10T10:13:58+00:00Nguyễn Phương Anhdrnguyenphuonganh@gmail.comNguyễn Vân Anhdr.vananhnguyen@gmail.comPhạm Mạnh Hùnghungmpham@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm hình thái và diễn tiến sớm của các tổn thương động mạch vành không thủ phạm bằng siêu âm trong lòng mạch (IVUS) ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên (STEMI). Nghiên cứu tiến cứu trên 103 bệnh nhân STEMI với 118 tổn thương động mạch vành không thủ phạm được đánh giá bằng IVUS tại thời điểm ban đầu; trong đó 32 tổn thương được khảo sát IVUS lần 2. Mảng xơ vữa hỗn hợp là hình thái thường gặp nhất (41,5%). Các đặc điểm nguy cơ cao gồm MLA < 4 mm<sup>2</sup> (68,6%), gánh nặng mảng xơ vữa ≥ 70% (52,5%) và vôi hóa điểm (52,5%). Tổn thương có từ hai đặc điểm nguy cơ cao trở lên chiếm 66,9%. Ở nhóm lặp lại IVUS, 65,6% tổn thương tiếp tục tồn tại ≥ 2 đặc điểm nguy cơ cao. Như vậy, ở bệnh nhân STEMI nhiều nhánh, tổn thương không thủ phạm được khảo sát bằng IVUS thường có nhiều đặc điểm nguy cơ cao; trong nhóm được IVUS lặp lại sau thời gian theo dõi ngắn, đa số các đặc điểm này vẫn tồn tại</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5531Thang điểm milan trên đo áp lực nhu động thực quản độ phân giải cao ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược2026-06-22T03:49:34+00:00Bùi Phương Thảobuithaopx@gmail.comĐào Việt Hằngdaoviethang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 141 đối tượng ≥ 18 tuổi có triệu chứng trào ngược với điểm GerdQ ≥ 8 được đo áp lực nhu động thực quản độ phân giải cao (HRM) và nội soi dạ dày - thực quản tại Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hoá, Gan mật và Phòng khám Đa khoa Hoàng Long từ 10/12/2025 đến 31/03/2026, nhằm khảo sát thang điểm Milan và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược. Điểm Milan trung vị của nhóm nghiên cứu là 85, nhóm có điểm Milan ≥ 137, tương ứng nguy cơ cao mắc trào ngược dạ dày thực quản (GERD) chiếm 37,6%. Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, BMI, triệu chứng nóng rát, thời gian xuất hiện triệu chứng và viêm thực quản trào ngược (VTQTN) theo phân loại Los Angeles là các yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê với nguy cơ cao mắc GERD theo thang điểm Milan. Cụ thể, BMI (OR = 1,192; KTC 95%: 1,008 - 1,411; p = 0,041), triệu chứng nóng rát (OR = 3,255; KTC 95%: 1,372 - 7,720; p = 0,007), thời gian triệu chứng (OR = 1,026; KTC 95%: 1,003 - 1,050; p = 0,029) và có VTQTN trên nội soi (OR 3,271; KTC 95%: 1,378 - 7,766; p = 0,007). Thang điểm Milan có liên quan với đặc điểm lâm sàng và tổn thương niêm mạc thực quản, qua đó có thể hỗ trợ nhận diện nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao mắc trào ngược.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5535Xác định đột biến gen SLC22A5 và phân tích phả hệ ở các gia đình có trẻ sơ sinh nghi ngờ thiếu hụt Carnitine nguyên phát2026-06-04T07:08:36+00:00Phan Thị Thảo Mythaomyhmu@gmail.comTrần Vân Khánhtranvankhanh@hmu.edu.vnNguyễn Hữu Túnguyenhuutu@hmu.edu.vnVũ Chí Dũngdungvu@nch.gov.vnNguyễn Ngọc Khánhkhanhnn@nch.gov.vnNguyễn Ngọc Lannguyenngoclan@hmu.edu.vnLê Thị Phươngphuongle@hmu.edu.vnNguyễn Thị Phương Thúyphuongthuy@hmu.edu.vnPhạm Lê Anh Tuấnphamleanhtuan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Thiếu hụt carnitine nguyên phát (Primary Carnitin deficiency - PCD) là một rối loạn di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường do đột biến gen SLC22A5, mã hóa cho chất vận chuyển cation hữu cơ 2 (OCTN2), gây giảm nồng độ carnitine trong huyết tương. Hiện nay, chẩn đoán PCD thường được dựa trên xét nghiệm hóa sinh kết hợp biểu hiện lâm sàng chưa thực sự đặc hiệu so với các bệnh lý khác. Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định các đột biến gen SLC22A5 cho 4 gia đình với 4 bệnh nhân có kết quả sàng lọc MS/MS nghi ngờ thiếu hụt carnitine nguyên phát, và 11 thành viên gia đình có mối quan hệ huyết thống bậc 1 với bệnh nhân. Bằng phương pháp giải trình tự Sanger đã xác định được 03 đột biến gen SLC22A5 gồm c.760C>T (p.Arg254*), c.51C>G (p.Phe17Leu) và c.338G>A (p.Cys113Tyr). Phân tích phả hệ cho thấy các đột biến có tính chất di truyền trong gia đình và phát hiện được các trường hợp người lành mang gen bệnh. Nghiên cứu khẳng định vai trò của xét nghiệm sinh học phân tử trong chẩn đoán xác định PCD và hỗ trợ tư vấn di truyền cho các gia đình có nguy cơ.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5536Hiệu quả phác đồ có Bismuth trong điều trị tiệt trừ helicobacter pylori ở trẻ em2026-06-08T01:50:26+00:00Mai Thùy Trangmaithuytrang2000@gmail.comLê Thị Thúy Loanlttloan@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Hiệu quả điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori (H. pylori) ở trẻ em Việt Nam thay đổi giữa các phác đồ và vùng miền. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh hiệu quả điều trị của phác đồ bốn thuốc có bismuth và phác đồ ba thuốc trên 88 trẻ bị viêm, loét dạ dày - tá tràng có nhiễm H. pylori. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được tiến hành tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ ghi nhận hiệu quả điều trị của phác đồ bốn thuốc có bismuth và phác đồ ba thuốc lần lượt là 72,7% và 63,6% theo ý định điều trị; 80,0% và 70,0% theo phác đồ, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của toàn mẫu đạt 94,3%, tỷ lệ cải thiện triệu chứng lâm sàng sau điều trị cao và tác dụng phụ ghi nhận ở 8,0% bệnh nhi, sư khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm (p > 0,05). Các yếu tố tuổi, tổn thương nội soi và tác dụng phụ có liên quan đến thất bại tiệt trừ H. pylori trong đó nhóm < 10 tuổi, tổn thương loét và sự xuất hiện tác dụng phụ có tỷ lệ thất bại cao hơn.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5541Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của người trực tiếp chăm sóc nhóm trẻ 4 tuổi tại Hà Nội 2026-06-12T02:25:32+00:00Hà Ngọc Chiềungocchieu@hmu.edu.vnLê Thị Thuỳ LinhLethuylinh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi của người trực tiếp chăm sóc nhóm trẻ 4 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 296 phụ huynh có con đang theo học tại các Trường mầm non Thị trấn Yên Viên, Trường Mầm non Ánh Dương - xã Phù Đổng và Trường mầm non 10-10 - phường Tương Mai - TP Hà Nội. Kết qủa nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ huynh có kiến thức đúng đạt 49,0%, thái độ đúng đạt 73,6% và thực hành đúng đạt 25,0% trong đó, 93,6% phụ huynh nhận thức đúng về vai trò quan trọng của răng sữa đối với sức khỏe của trẻ và 72,6% hiểu răng sữa có ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn. Có 67,9% phụ huynh thỉnh thoảng cho trẻ đi khám răng định kỳ, 36,1% phụ huynh trực tiếp chải răng cho trẻ và 5,1% dùng chỉ tơ để làm sạch kẽ răng cho trẻ. Như vậy, phần lớn phụ huynh nhận thức đúng về vai trò quan trọng của răng sữa đối với sức khỏe của trẻ nhưng thái độ và thực hành đúng chưa cao.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5542Một số yếu tố liên quan với tình trạng sâu răng sớm ở trẻ 4 tuổi tại Hà Nội 2026-06-10T02:55:31+00:00Hà Ngọc Chiềungocchieu@hmu.edu.vnLê Thị Thuỳ LinhLethuylinh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng sớm (ECC) ở trẻ 4 tuổi. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 296 phụ huynh và các trẻ đang học tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ có mảng bám nhiều trên răng có nguy cơ sâu răng cao gấp 4,11 lần so với trẻ không có mảng bám. Trẻ thường xuyên ăn vặt có nguy cơ sâu răng cao gấp 14,39 lần so với nhóm không ăn vặt thường xuyên và trẻ có răng với rãnh trũng sâu cũng có nguy cơ sâu răng cao gấp 4,09 lần so với trẻ không có đặc điểm này. Như vậy, thói quen ăn vặt, mảng bám và răng có rãnh trũng sâu làm tăng nguy cơ sâu răng. Nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên quan giữa thái độ CSSKRM của phụ huynh và tình trạng sâu răng sớm nghiêm trọng của trẻ.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5544Đặc điểm sarcopenia chẩn đoán bằng công cụ SARC-CalF ở phụ nữ loãng xương sau mãn kinh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2026-06-20T10:00:04+00:00Phạm Hoài Thuphamhoaithu@hmu.edu.vnPhạm Văn Thạnhphamthanhdhyhp@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 211 bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương nguyên phát theo tiêu chuẩn AACE 2020, điều trị nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 02/2026 đến 05/ 2026. Tỷ lệ đối tượng có nguy cơ Sarcopenia theo SARC-CalF ở phụ nữ loãng xương sau mãn kinh là 71,1%. Giá trị SARC-CalF trung bình trong nghiên cứu tương đối cao 12,5 ± 4,4 điểm. Nguy cơ mắc Sarcopenia cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân tuổi cao, sinh con nhiều lần, mức độ hoạt động thể lực thấp, tình trạng dinh dưỡng kém, có nguy cơ ngã, suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày và loãng xương nặng; trong đó mức độ hoạt động thể lực thấp, có nguy cơ ngã và loãng xương nặng là các yếu tố liên quan độc lập với Sarcopenia. Kết luận: Tỷ lệ đối tượng có nguy cơ Sarcopenia theo SARC-CalF ở phụ nữ loãng xương sau mãn kinh tương đối cao, đồng thời có liên quan đến nhiều yếu tố lâm sàng và chức năng. Cần tăng cường sàng lọc sớm Sarcopenia ở nhóm đối tượng này nhằm có biện pháp can thiệp kịp thời.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5554Rối loạn lipid máu và nguy cơ tim mạch ở người bệnh tăng huyết áp tại tuyến cơ sở Việt Nam năm 20232026-06-12T04:08:25+00:00Dương Ngọc Longlongvtm.bm@gmail.comNguyễn Ngọc Quangquangtm@gmail.comPhạm Thái Sơnsonvnhi@gmail.comHồ Thị Kim Thanhhokimthanh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Rối loạn lipid máu thường gặp ở người bệnh tăng huyết áp và làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2023 tại 4 xã/thị trấn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trên 962 người bệnh tăng huyết áp ≥ 40 tuổi được quản lý tại trạm y tế ≥ 3 tháng, nhằm xác định tỷ lệ rối loạn lipid máu và phân tầng nguy cơ tim mạch theo SCORE2/SCORE2-OP/SCORE2-Diabetes và đánh giá thực trạng đạt mục tiêu LDL-C. Tỷ lệ rối loạn lipid máu là 86,1%; 63,7% rối loạn ít nhất 2 thành phần. LDL-C ≥ 2,6 mmol/L chiếm 74,7%. Điểm nguy cơ tim mạch trung bình ở nam và nữ lần lượt là 22,3 ± 12,0 và 25,6 ± 15,8. Phần lớn người bệnh thuộc nhóm nguy cơ rất cao (51,2%) hoặc cao (30,7%). Tỷ lệ đạt mục tiêu LDL-C theo phân tầng nguy cơ là 8,9%; đạt đồng thời LDL-C và huyết áp mục tiêu là 6,2%. Cần tăng cường quản lý lipid máu cùng với kiểm soát huyết áp tại tuyến y tế cơ sở.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5572Khả năng dung nạp liệu pháp tân bổ trợ toàn phần ung thư trực tràng tiến triển tại chỗ, tại vùng ở bệnh nhân cao tuổi2026-06-04T08:23:55+00:00Đoàn Văn Tuấn Anhdvtuananh123@gmail.comTrịnh Lê Huytrinhlehuy@hmu.edu.vnNguyễn Văn Hùngdr.hungnguyen.hmu@gmail.comPhạm Tuấn Anhphamtuananh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Điều trị ung thư trực tràng tiến triển tại chỗ, tại vùng (LARC) ở người cao tuổi là một thách thức. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng dung nạp của liệu pháp tân bổ trợ toàn phần (TNT) ở nhóm bệnh nhân này tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 38 bệnh nhân ≥ 65 tuổi mắc ung thư trực tràng giai đoạn II-III được điều trị bằng TNT từ tháng 12/2020 đến tháng 4/2026. Tuổi trung bình 67,89; nam giới chiếm 73,7%. Các bệnh nhân có thể trạng tốt (ECOG 0-1) và đều hoàn thành liệu trình. Ở giai đoạn hóa trị, hạ bạch cầu thường gặp nhất (47,4%, độ 3-4 chiếm 15,8%), độc tính phi huyết học chủ yếu độ 1-2. Giai đoạn hóa xạ trị có tác dụng phụ nhẹ (độ 1-2), gồm viêm da (15,8%) và đau hậu môn - trực tràng (13,6%); không ghi nhận độc tính độ 3-4. Liệu pháp TNT ở bệnh nhân cao tuổi mắc LARC có khả năng dung nạp tốt, độc tính chủ yếu ở mức độ nhẹ và kiểm soát được.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5584Liên quan giữa đặc điểm ngấm thuốc thì muộn với T1 native và thể tích ngoại bào trên cộng hưởng từ ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại2026-06-18T02:45:21+00:00Dương Thị Trangduongthitranghmu@gmail.comNguyễn Thị Huyềnhoamoclanhmu@gmail.comNguyễn Văn Túdrtuhmu@gmail.comNguyễn Khôi Việtdrnguyenkhoiviet@gmail.comHoàng Thị Vân Hoabshoaxqbm@gmail.comLê Thị Thùy Liênlethuylien1010@yahoo.comPhùng Bảo Ngọcbaongocrad@gmail.comTrần Thị Quỳnhhmuquynh123@gmail.comTrần Thị Lýlytran.k110d.hmu@gmail.comVũ Đăng Lưuvudangluu@hmu.edu.vnNguyễn Ngọc Trángntrang81@yahoo.com<p class="p1"><em> Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh các phương pháp định lượng ngấm thuốc gadolinium thì muộn (LGE) trên cộng hưởng từ tim và đánh giá mối liên quan giữa mức độ ngấm thuốc thì muộn với T1 native, thể tích ngoại bào (ECV) ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 33 bệnh nhân BCTPĐ được chụp cộng hưởng từ tim tại Bệnh viện Bạch Mai. LGE được định lượng bằng các phương pháp 2SD, 4SD, 5SD, 6SD, 10SD và FWHM. Kết quả cho thấy mức độ LGE khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các phương pháp định lượng (p < 0,001); phương pháp 2SD cho giá trị LGE cao nhất, trong khi các ngưỡng SD cao hơn và FWHM cho giá trị thấp hơn rõ rệt. Phương pháp 5SD cho tương quan mạnh nhất với ECV (r = 0,430; p < 0,05), trong khi 6SD cho tương quan cao nhất với T1 native (r = 0,355, p > 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngưỡng định lượng trung gian, đặc biệt là 5SD, có thể phản ánh tốt hơn mức độ xơ hóa cơ tim ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5586Khảo sát hình thái chân răng khôn hàm dưới mọc lệch ngầm và các yếu tố liên quan bằng phim cắt lớp chùm tia hình nón (CBCT)2026-06-15T06:34:26+00:00Hoàng Ngọc Lanngoclandental@gmail.comNguyễn Hùng Hiệpnguyenhunghiep@hmu.edu.vnTrần Văn Sơntranvanson.rhm.dhyhn@gmail.comNgô Thuỳ Anngothuyan148@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu được thực hiện trên 146 bệnh nhân với 251 răng khôn hàm dưới mọc lệch tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2026 đến tháng 5/2026. Trích xuất bệnh án và dữ liệu phim cắt lớp chùm tia hình nón (CBCT) nhằm đánh giá hình thái chân răng trong mối tương quan với cấu trúc xung quanh. Kết quả cho thấy số răng 38 và 48 có tỷ lệ phân bố đồng đều về số lượng ở hai giới; chủ yếu các răng khôn hàm dưới có hai chân. Mật độ xương quanh răng chủ yếu thuộc nhóm D3-D4 theo phân loại của Misch. Tỷ lệ chân răng khôn hàm dưới nằm sát và tiếp xúc với IAN chiếm tỷ lệ cao. Nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi có nguy cơ chân răng sát IAN giảm 74% so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi. Không phát hiện mối tương quan giữa giới tính và tương quan giữa chân răng khôn hàm dưới với IAN.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5587Phẫu thuật điều trị hẹp eo động mạch chủ đơn thuần ở trẻ sơ sinh: Kết quả tại Bệnh viện Nhi Trung ương2026-06-10T08:12:56+00:00Nguyễn Văn Giangnguyenvangiang93@gmail.comDương Đức Hùngduongdh38@yahoo.comNguyễn Lý Thịnh Trườngnlttruong@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả sau phẫu thuật điều trị hẹp eo động mạch chủ đơn thuần ở trẻ sơ sinh tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2025. Tổng số 136 bệnh nhân sơ sinh sau phẫu thuật điều trị hẹp eo động mạch chủ đơn thuần được lựa chọn vào nghiên cứucó tuổi phẫu thuật trung vị và cân nặng trung vị lần lượt là 13 ngày (IQR: 8 - 19,5 ngày) và 3 kg (2,6 - 3,5 kg). Không có bệnh nhân nào bị liệt tủy sau mổ và chỉ có 2 bệnh nhân (1,5%) khàn tiếng do liệt thần kinh thanh quản quặt ngược. Tử vong sớm sau phẫu thuật là 7 bệnh nhân (5,1%) và không có tử vong muộn. Phẫu thuật điều trị hẹp eo động mạch chủ đơn thuần ở trẻ sơ sinh có tỷ lệ sống sót lâu dài sau phẫu thuật là khả quan. Theo dõi lâu dài tình trạng hẹp eo tái phát hoặc tồn tại tăng huyết áp là cần thiết đối với nhóm bệnh nhân này.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5599Kết quả bước đầu phẫu thuật ghép màng ối kết hợp châm kim nhu mô điều trị giác mạc bọng2026-06-12T02:19:20+00:00Trần Khánh Sâmtrankhanhsam@yahoo.comĐỗ Tuyết Nhungnhungdt@gmail.comLê Thị Hồng Nhunglethihongnhung123@gmail.comLê Thuỳ Dunglethuydung2310@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không có nhóm chứng nhằm đánh giá hiệu quả ghép màng ối kết hợp châm kim nhu mô trong điều trị bệnh giác mạc bọng đau nhức. Thu nhận số liệu từ 24 mắt (24 bệnh nhân) tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 09/2024 đến tháng 08/2026. Kết quả cho thấy 100% mắt giảm đau, với 87,5% hết đau hoàn toàn sau 3 tháng theo dõi. Điểm đau VAS giảm từ trung bình 7,50 ± 0,72 xuống 0,46 ± 0,88. Các triệu chứng cộm vướng, đỏ mắt cải thiện rõ rệt, chỉ 8,3% còn chảy nước mắt nhẹ. Thị lực không thay đổi ở đa số mắt (79,2%). Thời gian biểu mô hoá trung bình đạt 9,17 ± 3,36 ngày. Có 16,7% mắt tái phát bọng nhỏ nhưng hoàn toàn không gây triệu chứng. Phương pháp này là giải pháp an toàn, giảm đau hiệu quả cho bệnh nhân giác mạc bọng không đáp ứng nội khoa, chưa có điều kiện ghép giác mạc.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5617Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệu theo nhóm tuổi ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương2026-06-06T08:23:56+00:00Nguyễn Thị Mếnmen210399@gmail.comLương Thị Phượngluongphuong2233@gmail.comNguyễn Thu Hươngnguyenthuhuong@nch.gov.vn<p class="p1"><em>Mô tả và so sánh một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) theo nhóm tuổi ở trẻ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 250 trẻ được chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu, có kết quả cấy nước tiểu giữa dòng dương tính đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 04/2024 - 04/2026, chia thành ba nhóm tuổi: < 2 tuổi, 2 - 5 tuổi và > 5 tuổi. Nữ/nam là 1,9/1, phân bố giới tính khác biệt theo nhóm tuổi (p < 0,001), nam ưu thế ở nhóm < 2 tuổi, nữ > 2 tuổi chiếm đa số. Triệu chứng thường gặp nhất là tiểu buốt, tiểu rắt (56,4%), tiểu đục, tiểu máu (35,2%), sốt (19,6%). Trẻ < 2 tuổi thường biểu hiện không đặc hiệu như sốt, rối loạn tiêu hóa, trong khi trẻ lớn gặp các triệu chứng tiết niệu rõ hơn. Bạch cầu niệu dương tính ở 97,5% trẻ. Tỷ lệ nitrit niệu (+) khác biệt giữa các nhóm (p = 0,021). Escherichia coli là căn nguyên hay gặp nhất (74,0%). Nhận diện các khác biệt này giúp định hướng chẩn đoán sớm và tiếp cận phù hợp ở từng nhóm trẻ.</em></p> <div id="highlighter--hover-tools" style="display: none;"> <div id="highlighter--hover-tools--container"> <div class="highlighter--icon highlighter--icon-copy" title="Copy"> </div> <div class="highlighter--icon highlighter--icon-change-color" title="Change Color"> </div> <div class="highlighter--icon highlighter--icon-delete" title="Delete"> </div> </div> </div>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5201Đặc điểm hình thái lồi cầu ngoài xương đùi trên hình ảnh cắt lớp vi tính2026-04-29T02:10:03+00:00Đặng Đức Tàitai.dd@umc.edu.vn Trần Nguyễn Phươngphuong.tn@umc.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 112 xương đùi từ phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) dựng hình mạch máu tại Bệnh viện Chợ Rẫy (01/2021 - 12/2023) để cung cấp dữ liệu về lồi cầu ngoài (LCN) xương đùi ở nhóm người Việt Nam trung niên và cao tuổi. Chiều dài LCN trung bình 59,52 ± 3,04 mm; chiều rộng 39,32 ± 3,18 mm. Góc cong trên LCN là 166,67 ± 5,57°. Góc bắt vít an toàn tối thiểu 70,74 ± 5,73°, lớn hơn ở nam so với nữ. Offset phía sau lồi cầu đùi (PCO) trung bình 22,74 ± 2,15 mm; tỉ số PCO 44,67 ± 3,77%. Tương quan thuận mạnh giữa chiều dài lồi cầu sau ngoài và tổng chiều dài LCN (r = 0,62, p < 0,001), và giữa chiều dài trước-sau và PCO (r = 0,54 - 0,62, p < 0,001). Có khác biệt ý nghĩa giữa hai giới; không có khác biệt giữa hai bên. Nhóm người Việt Nam này có độ cong trên LCN lớn hơn đáng kể so với nẹp hiện hành và thay đổi hình thái theo giới tính rõ rệt. Dữ liệu cung cấp cơ sở tham chiếu cho thiết kế nẹp vít và lập kế hoạch phẫu thuật gãy đầu dưới xương đùi, thay khớp gối toàn phần.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5622Đánh giá kết quả điều trị ung thư vú tái phát di căn bằng eribulin tại Bệnh viện K 2026-06-14T03:52:06+00:00Nguyễn Thị Hoadrhara6399@gmail.comPhùng Thị Huyềnphungthihuyen@gmail.comHoàng Mạnh Thắnghoangmanhthang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 54 bệnh nhân ung thư vú tái phát di căn được điều trị bằng eribulin đơn chất tại Bệnh viện K từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2025 nhằm đánh giá hiệu quả và độc tính của phác đồ. Tuổi trung bình là 54,78 ± 10,82 tuổi; 72,7% bệnh nhân đã trải qua từ 3 phác đồ hóa chất trở lên; phân nhóm bộ ba âm tính (TNBC) chiếm ưu thế (33,3%); tỷ lệ di căn gan cao (58,2%). Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 31,5%, toàn bộ là đáp ứng một phần. Trung vị PFS là 2,8 tháng; tỷ lệ PFS tại 3 tháng và 6 tháng lần lượt là 37,0% và 35,2%. Số lượng vị trí di căn là yếu tố tiên đoán đáp ứng có ý nghĩa thống kê (p = 0,036). Phân nhóm hóa mô miễn dịch có liên quan có ý nghĩa với PFS (Log-rank p = 0,041), trong đó TNBC có tiên lượng xấu nhất. Về độc tính, phần lớn ở mức độ 1–2; hạ bạch cầu trung tính độ 3–4 gặp ở 20,4%; không ghi nhận tử vong liên quan điều trị. Kết quả bước đầu khẳng định tính khả thi và an toàn của eribulin trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5624Kết quả điều trị Paclitaxel trong ung thư thực quản giai đoạn tiến triển di căn kháng Platinum2026-06-29T07:32:42+00:00Đào Thị Thảo Vânthaovan175488@gmail.comHoàng Mạnh Thắnghoangmanhthang@hmu.edu.vnPhạm Tuấn Anhphamtuananh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 67 bệnh nhân ung thư thực quản tiến triển di căn kháng Platinum, điều trị bằng Paclitaxel nhằm mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị. Trong nghiên cứu có 32,8% bệnh nhân di căn ngay từ đầu và 67,2% bệnh nhân tiến triển di căn sau điều trị triệt căn. Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng là 10,4%, bệnh ổn định đạt 40,3%, kiểm soát bệnh đạt 50,7%. Trung vị thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (mPFS) đạt 3,1 tháng và trung vị thời gian sống thêm toàn bộ (mOS) đạt 6,0 tháng. Phân tích dưới nhóm ghi nhận tỷ lệ liều hóa chất là yếu tố có ảnh hưởng đến mPFS (p = 0,006). Độc tính chủ yếu ở mức độ nhẹ (độ 1, 2), hay gặp nhất là thiếu máu (35,8%), không ghi nhận độc tính độ 4 hay tử vong do thuốc. Phác đồ Paclitaxel giúp cải thiện kết quả điều trị và bệnh nhân dung nạp thuốc tương đối tốt do vậy có thể áp dụng điều trị trong điều kiện ở nước ta hiện nay.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5626Sự thay đổi kiểu hình tế bào B điều hòa trong máu ngoại vi ở bệnh nhân pemphigoid bọng nước2026-06-19T06:56:26+00:00Phạm Đình Hoàhoadalieu@gmail.comLê Đức Sơnleducson3198@gmail.comTrần Sơn Tùngtrantungson@hmu.edu.vnTrần Thị Linhlinh14292@gmail.comQuách Thị Hà Giangdrhagiang@gmail.comBùi Thị Phương Minhbuiphuongminh86@gmail.comĐinh Thị Hương DịuDinhhuongdiu17@gmail.comĐỗ Thị Vinh Anvinhanbm@gmail.comLưu LyLyluu.396@gmail.comVũ Huy Lượngvuhuyluong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu khảo sát đặc điểm kiểu hình các phân nhóm tế bào B điều hòa (Breg) máu ngoại vi ở bệnh nhân pemphigoid bọng nước (BP). 76 bệnh nhân BP và 30 người tình nguyện khỏe mạnh được phân tích tế bào dòng chảy. Các dấu ấn chính gồm CD24<sup>cao</sup>CD27<sup>+</sup> Breg, IgM<sup>+</sup>CD1d<sup>+</sup>CD147<sup>+</sup> Breg và cường độ biểu hiện của CD147 (CD147 MFI). Phân tích thống kê sử dụng kiểm định phi tham số có hiệu chỉnh dương tính giả (FDR) và hồi quy logistic đa biến hiệu chỉnh tuổi, giới. CD24<sup>cao</sup>CD27<sup>+</sup> Breg ở nhóm BP cao hơn nhóm chứng [15,25 (9,08 - 26,12)% so với 8,71 (2,78 - 16,18)%; p = 0,009]. Ngược lại, IgM<sup>+</sup>CD1d<sup>+</sup>CD147<sup>+</sup> Breg trong tế bào B giảm [0,85 (0,10 - 3,42)% so với 3,09 (1,81 - 7,96)%; p < 0,001] và CD147 MFI cũng thấp hơn [49,60 (32,95 - 76,90) so với 68,55 (55,60 - 154,50); p < 0,001]. Không ghi nhận tương quan có ý nghĩa với BPDAI. BP liên quan với thay đổi kiểu hình Breg ngoại vi, đặc trưng bởi mất cân bằng giữa các phân nhóm tế bào Breg.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5628Mối liên quan giữa suy yếu xã hội và các hội chứng lão khoa ở bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú2026-06-20T10:08:21+00:00Nguyễn Văn Tânnguyenvtan10@ump.edu.vnLê Hữu Phầnlhphan.nt22@ump.edu.vnTrương Minh Khánhtmkhanh.nt.lk23@ump.edu.vnNguyễn Quốc Phòngnqphong.nt.laokhoa24@ump.edu.vnPhạm Hoà Bìnhdrbinh98@ump.edu.vn<p class="p1"><em>Suy yếu xã hội là một khía cạnh quan trọng của lão khoa, có liên quan với nhiều kết cục bất lợi ở người cao tuổi mắc đái tháo đường típ 2. Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 602 bệnh nhân ≥ 60 tuổi mắc đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết - Bệnh viện Thống Nhất. Kết quả ghi nhận tỷ lệ suy yếu xã hội theo thang Makizako là 29,1%. Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, tuổi cao, trình độ học vấn thấp, suy yếu theo CFS, suy giảm nhận thức, mất ngủ, té ngã và tình trạng dinh dưỡng kém có liên quan độc lập với suy yếu xã hội. Suy yếu xã hội là tình trạng khá phổ biến ở bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú. Sàng lọc suy yếu xã hội có thể giúp phát hiện sớm nhóm bệnh nhân nguy cơ và định hướng can thiệp phù hợp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5633Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học viêm mũi xoang mạn tính trẻ em được phẫu thuật nội soi2026-06-09T07:41:44+00:00Nguyễn Thị Thuý Hảothuyhaoent@gmail.comNguyễn Hoàng Huyhoanghuyorl@yahoo.comLê Anh Tuấnleanhtuan.ent@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, nội soi, cắt lớp vi tính (CLVT) và mô bệnh học của viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) trẻ em được phẫu thuật. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên 103 bệnh nhân được chẩn đoán viêm mũi xoang mạn tính và phẫu thuật nội soi mũi xoang tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ tháng 01/2021 đến tháng 03/2026. Kết quả cho thấy tuổi trung bình là 12,54 ± 2,33 tuổi. Ngạt mũi và chảy dịch mũi là các triệu chứng thường gặp nhất. Tỷ lệ polyp mũi đạt 88,3%, trong đó polyp hai bên chiếm 61,2%. Trên CLVT, điểm Lund-Mackay trung bình là 16,36 ± 4,02. Mô bệnh học chủ yếu là polyp viêm (49,5%) và polyp nhầy (45,6%). Trong 33 trường hợp được định lượng bạch cầu ái toan, 69,7% có mật độ ≥ 10 tế bào/HPF. VMXMT trẻ em có chỉ định phẫu thuật chủ yếu gặp ở trẻ lớn và thanh thiếu niên, với tỷ lệ polyp mũi cao, tổn thương đa xoang trên CLVT và tình trạng thâm nhiễm bạch cầu ái toan khá phổ biến.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5634Động lực chăm sóc sức khỏe răng miệng và một số chỉ số răng miệng ở học sinh tiểu học tại Hà Nội2026-06-17T07:12:12+00:00Trịnh Minh Báutrinhminhbau@hmu.edu.vnNgô Văn Toànngovantoan20281@gmail.comVũ Mạnh Tuấnmanhtuan@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Động lực chăm sóc sức khỏe răng miệng là khía cạnh chưa được nghiên cứu nhiều, cũng như mối liên quan với bệnh răng miệng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu chủ đích, được thực hiện trên 354 học sinh lớp 3 tại Trường Tiểu học Kim Liên và Trường Tiểu học Khương Thượng, Hà Nội. Kết quả nghiên cứu ghi nhận học sinh ở hai trường chủ yếu thuộc nhóm ngoại động lực (93,2%). Tỷ lệ sâu răng chung ở hai trường là 83,3% (KTC 95%: 79,1 - 86,9). Điểm động lực trung bình ở Khương Thượng cao hơn Kim Liên (15,81 ± 1,53 so với 15,03 ± 1,56; p < 0,001). OHI-S trung bình của Kim Liên cao hơn Khương Thượng (1,70 ± 0,45 so với 1,13 ± 0,57; p < 0,001). Điểm động lực không khác biệt theo tình trạng sâu răng hoặc phân loại OHI-S. Chỉ số cao răng đơn giản (CI-S) ở nhóm nội động lực cao hơn nhóm ngoại động lực (p = 0,004).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5641Tình trạng dinh dưỡng trước và sau phẫu thuật ở người bệnh ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025-20262026-06-09T07:36:34+00:00Chu Thị Trangchutranghmu@gmail.comĐỗ Tất Thànhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnTrịnh Thị Thanh Bìnhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnPhạm Thị Lan Phươngtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNgô Thị Linhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNguyễn Trần Thị Linhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNguyễn Quang Dũngnguyenquangdung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc được tiến hành trên 120 người bệnh phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025-2026 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng trước và sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng. Kết quả cho thấy: Tình trạng dinh dưỡng theo BMI, tỷ lệ người bệnh thiếu năng lượng trường diễn trước và sau phẫu thuật lần lượt là 15,8% và 22,5%. Đánh giá bằng công cụ PG-SGA, tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng hoặc nguy cơ (SDD) trước phẫu thuật là 64,1% và sau phẫu thuật là 88,4%; trong đó tỷ lệ SDD nặng (PG-SGA C) tăng từ 23,3% lên 26,7% (p < 0,001). Sau phẫu thuật 7 ngày cân nặng trung bình giảm từ 57,1 ± 10,7 kg xuống còn 55,4 ± 10,5 kg, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Kết luận: SDD ở người bệnh ung thư đại trực tràng phẫu thuật phổ biến và nặng hơn sau phẫu thuật. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5648Bước đầu phân tích đặc điểm biến thể gen VWF ở người bệnh von Willebrand típ 3 tại viện huyết học - truyền máu trung ương bằng phương pháp giải trình tự thế hệ mới2026-06-19T03:19:45+00:00Phạm Thị Thanh Bìnhthanhbinhhmu115@gmail.comNguyễn Thanh Ngọc Bìnhthanh.ngoc.binh.nguyen@gmail.comVũ Thị Hàvuthiha@hmu.edu.vnDương Quốc Chínhchinhdq.ump@vnu.edu.vn<p class="p1"><em>Bệnh von Willebrand típ 3 (vWD típ 3) là thể nặng nhất của bệnh von Willebrand, thường liên quan đến các biến thể gây mất chức năng trên gen VWF. Tuy nhiên, dữ liệu về đặc điểm kiểu gen của người bệnh vWD típ 3 tại Việt Nam còn hạn chế. Chúng tôi tiến hành giải trình tự toàn bộ 52 exon của gen VWF ở 15 người bệnh vWD típ 3 nhằm xác định các biến thể di truyền, đồng thời đánh giá và phân loại khả năng gây bệnh của các biến thể theo tiêu chuẩn ACMG 2015 kết hợp đối chiếu với cơ sở dữ liệu ClinVar. Kết quả phát hiện 12 biến thể khác nhau trên gen VWF, gồm 4 biến thể gây bệnh, 6 biến thể có khả năng gây bệnh và 2 biến thể chưa rõ chức năng. Có 7/12 biến thể đã được báo cáo trên ClinVar. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung dữ liệu về phổ biến thể gen VWF ở người bệnh vWD típ 3 tại Việt Nam, đồng thời góp phần tư vấn di truyền cho người bệnh và các thành viên trong gia đình người bệnh.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5649Độ nghiêng kính nội nhãn cài củng mạc và mối tương quan với độ loạn thị nhãn cầu tồn dư2026-06-15T04:16:44+00:00Diệp Thế Bảo Trâmtram.dtb@umc.edu.vnNguyễn Thị Tú Uyêntuuyenbvm@gmail.comNguyễn Ngọc Hưngnnhung15@gmail.comVõ Quang Minhminhvoq60@yahoo.com<p class="p1"><em>Tình trạng nghiêng kính nội nhãn (IOL - intraocular lens) đã được ghi nhận là một biến chứng của phẫu thuật đặt IOL thứ phát, nhưng ảnh hưởng của độ nghiêng kính đến thị lực và độ loạn thị nhãn cầu tồn dư (ORA - Ocular residual astigmatism) vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 32 mắt đã phẫu thuật cắt dịch kính và đặt IOL cài củng mạc. IOL được xác định là nghiêng khi góc nghiêng kính lớn hơn 7°. Kết quả ghi nhận 11/32 mắt (34,38%) có IOL nghiêng. Trong đó, góc nghiêng dọc, góc nghiêng ngang và góc nghiêng tổng có trung vị lần lượt là 3,25°, 2,40° và 4,87°. Trung vị ORA là 0,63D. Thị lực chưa chỉnh kính không có mối tương quan với góc nghiêng tổng (r = 0,162; p = 0,373). ORA có mối tương quan với góc nghiêng tổng (r = 0,550; p = 0,001). Phương trình hồi quy tuyến tính: log(ORA) = −0,330 + 0,026 x (Góc nghiêng tổng). Kết luận: đa số IOL cài củng mạc có góc nghiêng kính dưới 7°. Độ nghiêng kính có mối tương quan với ORA nhưng không có mối tương quan với thị lực của bệnh nhân.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5654Kết quả phẫu thuật điều trị dính buồng tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương2026-06-09T07:22:50+00:00Nguyễn Văn Hoàngnvhoang.hmu@gmail.comCù Chiến Thắngcuchienthang.dr@gmail.comPhạm Tuấn LinhDr.phamtuanlinh@gmail.comNguyễn Thái GiangNguyenthaigiang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị dính buồng tử cung bằng phẫu thuật soi buồng tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025. Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện trên 96 bệnh nhân được chẩn đoán dính buồng tử cung và điều trị bằng phẫu thuật soi buồng tử cung. Nhóm tuổi 35 - 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (43,8%). Tỷ lệ tách dính hoàn toàn đạt 83,3%, trong khi 16,7% trường hợp được tách dính một phần. Chỉ ghi nhận 1 trường hợp thủng tử cung trong mổ, không có biến chứng nghiêm trọng khác. Sau 3 tháng theo dõi, 68,8% bệnh nhân có cải thiện tình trạng kinh nguyệt. Kết quả chụp tử cung - vòi tử cung sau điều trị cho thấy hình thái khoang tử cung được cải thiện rõ rệt, với 61,5% trường hợp trở về bình thường; tỷ lệ dính buồng tử cung mức độ nặng giảm còn 3,1%. Sau thời gian theo dõi trung bình 7 tháng, tỷ lệ có thai đạt 29,2%. Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật soi buồng tử cung tách dính là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn đối với dính buồng tử cung, góp phần phục hồi cấu trúc giải phẫu khoang tử cung, cải thiện chức năng kinh nguyệt và nâng cao khả năng sinh sản ở người bệnh. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5725Kết cục lâm sàng sau 1 năm can thiệp thân chung mạch vành tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định2026-06-29T02:30:10+00:00Phan Tiến Hóaphantienhoa@gmail.comLê Mạnh Thônglemanhthongyds@gmail.comNguyễn Thế TiếnNguyenthetien20101989@gmail.comNguyễn Hoàng Hảibsnguyenhoanghai@gmail.comNguyễn Đỗ Anhnguyendoanh051@gmail.com<p class="p1"><em>Bệnh thân chung động mạch vành trái ít gặp nhưng liên quan đến tử vong; bên cạnh phẫu thuật bắc cầu, can thiệp qua da ngày càng được sử dụng rộng rãi. Hồi cứu 151 bệnh nhân can thiệp thân chung, đánh giá đặc điểm lâm sàng, thủ thuật và kết cục một năm. Tuổi trung bình 64,4 ± 11,1; hơn 80% hội chứng vành cấp, 9,9% sốc tim, trung bình GRACE 158 và phân suất tống máu 49%. Tổn thương đoạn xa 50,3%, vôi hóa 16,6%, phần lớn bệnh đa nhánh; đa số là chiến lược provisional. Thành công thủ thuật 92,1%, biến chứng 4,6%. Sau một năm, biến cố tim và mạch não nặng 7,3% và tử vong tích lũy 6,6%. Yếu tố dự báo biến cố gồm nhịp tim, Killip, nhập viện vì nhồi máu cơ tim, phân suất tống máu, GRACE, bóng đối xung động mạch chủ và kỹ thuật tối ưu đoạn gần. Kết luận: Can thiệp thân chung động mạch vành trái có tỷ lệ thành công cao, kết cục một năm thuận lợi, tình trạng lâm sàng nặng lúc nhập viện liên quan rõ với kết cục trong phân tích thăm dò.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5462Đặc điểm sức cản đường thở ở trẻ quá phát amidan vòm có chỉ định phẫu thuật2026-06-13T07:53:48+00:00Nguyễn Đăng Hảidrhaisaintpaul@gmail.comNguyễn Văn Hưngtrungquan2023@gmail.comPhạm Lan VyLanvyhmu@gmail.comNguyễn Thị Thu Trangnhatchamhoatu@gmail.comHoàng Thị Hạnhhoanghanh9223@gmail.comNinh Quốc ĐạtNinhquocdat@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu tiến cứu đánh giá sức cản đường thở bằng phương pháp dao động xung ký (IOS) trước và sau nạo Amidan vòm (VA) 1 tháng trên 63 trẻ quá phát VA tại Bệnh viện Nhi Hà Nội (7/2025 - 2/2026). Tuổi trung bình của trẻ là 7,7 ± 2,6 tuổi. Trước phẫu thuật (n = 63), tỷ lệ tắc nghẽn đường thở là 23,8%, trong đó nhóm VA độ 3 (61,5%) cao hơn so với độ 2 (14,0%) (p = 0,001). Sau nạo VA 1 tháng (n = 36), các thông số IOS cải thiện rõ rệt: R5, R20, R5-R20, AX và Fres giảm; X5 và X20 tăng. Tỷ lệ chức năng hô hấp bình thường tăng từ 58,3% lên 91,7%, không còn tình trạng tắc nghẽn trung bình hoặc nặng. Phẫu thuật nạo VA giúp cải thiện đáng kể cơ học hô hấp và tình trạng tắc nghẽn đường thở. Đồng thời, kết quả khẳng định IOS là phương pháp không xâm lấn, khách quan và dùng theo dõi chức năng hô hấp ở trẻ em.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5265Hiệu quả can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống tai nạn lao động ở người trồng lúa2026-05-06T14:25:34+00:00Nguyễn Hà Myhamy0359@gmail.comNgô Văn Toànngovantoan20281@gmail.comTrần Quỳnh Anhtranquynhanh@hmu.edu.vnVũ Minh Hảivuminhhai777@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng được thực hiện tại tỉnh Thái Bình năm 2024, trên 258 người trồng lúa ở nhóm can thiệp và 252 người trồng lúa ở nhóm chứng nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống tai nạn lao động ở người trồng lúa. Can thiệp bao gồm các hoạt động truyền thông - giáo dục sức khoẻ trực tiếp và gián tiếp được triển khai trong vòng 6 tháng. Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn và được xử lý bằng các test thống kê phù hợp. Sau can thiệp, có sự tăng và khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm can thiệp với nhóm đối chứng về điểm và mức độ đạt kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống tai nạn lao động của người trồng lúa. Kết quả góp phần cung cấp bằng chứng về hiệu quả của việc phối kết hợp các biện pháp can thiệp truyền thông trực tiếp và gián tiếp trong cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống tai nạn lao động ở người trồng lúa, đây cũng là cơ sở khoa học cho việc phát triển và nhân rộng các chương trình an toàn lao động trong nông nghiệp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5409Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng khô mắt ở người dùng thiết bị màn hình điện tử2026-05-31T07:54:34+00:00Trương Công Gia Thịnhtruongconggiathinh@gmail.comTrương Công Đứctruongcongduc@gmail.com<p class="p1"><em>Mục tiêu nghiên cứu xác định một số yếu tố liên quan đến triệu chứng khô mắt ở người dùng thiết bị màn hình điện tử. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang trên 400 người tại phòng khám chuyên khoa Mắt Bác sĩ Đức, từ 02/2025 đến 08/2025, người đến khám tự điền thông qua bộ công cụ hỏi soạn sẵn. Kiểm định Pearson Chi-square và hồi quy logistic đa biến để xác định mối liên quan. Tỷ lệ người dùng có chỉ số bệnh bề mặt mắt > 12 là 81,5%, trong đó khô mắt mức trung bình và nặng (57,3%). Điện thoại thông minh là phổ biến (52,0%) và khoảng cách màn hình trung bình 34,62 ± 12,98 cm. Sử dụng máy tính bảng (OR = 6,23), điện thoại thông minh (OR = 6,02), máy tính xách tay (OR = 2,82) có liên quan đến mức độ khô mắt trung bình và nặng khi so với dùng máy tính để bàn. Thời gian sử dụng màn hình thiết bị điện tử (giờ/ngày) (OR = 1,24/giờ). Thời gian sử dụng thiết bị màn hình điện tử và loại thiết bị điện tử có liên quan đến xu hướng tăng triệu chứng khô mắt ở người dùng. Cần nâng cao nhận thức của người dùng thiết bị màn hình điện tử về các nguy cơ khô mắt thông qua các poster hình ảnh tại phòng khám.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5449Khảo sát ảnh hưởng của việc hút thuốc lá đối với chất lượng tinh trùng và nguy cơ hiếm muộn của nam giới đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2026-06-04T04:39:48+00:00Nguyễn Hoài Bắcnguyenhoaibac@hmu.edu.vnNguyễn Cao Thắngnguyencaothang.namhoc@hmu.edu.vnNguyễn Xuân Đức Hoàngduchoang.hmuk112@gmail.comNguyễn Hồng Lươngnguyenhongluong@hmu.edu.vnNguyễn Thị Hải HàNguyenhaihadhyhn@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của hút thuốc lá đến chất lượng tinh trùng và nguy cơ hiếm muộn ở nam giới đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện trên 319 nam giới đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2023 đến 6/2024, phân thành nhóm hút thuốc và không hút thuốc để so sánh các thông số tinh dịch đồ. Tỷ lệ tinh trùng di động ở nhóm hút thuốc thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không hút thuốc (42,51% so với 46,54%; p = 0,03). Nhóm hút thuốc mức độ nhiều suy giảm rõ rệt cả về tỷ lệ di động và hình thái bình thường. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy nam giới hút thuốc mức độ nhiều có nguy cơ hiếm muộn cao gấp 5,2 lần so với người không hút thuốc (KTC 95%: 1,22 – 22,05; p = 0,02). Hút thuốc lá, đặc biệt mức độ nhiều, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng di động của tinh trùng và là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng đáng kể nguy cơ hiếm muộn ở nam giới Việt Nam.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5454Lý do và đặc điểm sử dụng methamphetamine ở người điều trị methadone tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: nghiên cứu định tính2026-06-14T03:30:50+00:00Dương Thuý Anthuyan3402@gmail.comĐinh Thị Thanh Thuýdinhthuy@hmu.edu.vnVõ Hải Sơnvohaison@gmail.comLê Minh Giangleminhgiang@hmu.edu.vnNguyễn Thu Trangtrangthu@hmu.edu.vnNguyễn Bích Diệpnguyenbichdiep@hmu.edu.vn<p class="p1"><span class="s1"><em>Sử dụng methamphetamine ở người điều trị methadone là vấn đề ngày càng được quan tâm do ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và làm phức tạp vấn đề rối loạn sử dụng chất dạng thuốc phiện. Nghiên cứu này mô tả lý do và đặc điểm sử dụng methamphetamine ở người bệnh tại 15 cơ sở điều trị methadone tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, thu thập dữ liệu thông qua 25 phỏng vấn sâu và phân tích theo chủ đề. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng methamphetamine khởi phát chủ yếu từ tò mò. Hành vi sử dụng được duy trì bởi nhu cầu điều chỉnh cảm xúc, tăng sự tỉnh táo, năng suất lao động và chức năng tình dục. Đặc biệt, cảm giác buồn chán trong cuộc sống và trạng thái hưng phấn khi sử dụng củng cố việc duy trì methamphetamine. Đặc điểm sử dụng methamphetamine không cố định mà thay đổi theo cách dùng, liều lượng, tần suất, khả năng kinh tế, nguồn cung, chất lượng chất, bối cảnh chơi nhóm hoặc một mình và cảm nhận sau sử dụng. </em></span></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5537Đặc điểm kháng thể bất thường ở bệnh nhi Alpha thalassemia tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương năm 2023-20252026-06-17T02:32:12+00:00Đặng Thị Hồng Vânhongdtv.nihbt@gmail.comNguyễn Quang Tùngnguyenquangtung@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thu Hànguyenthuhanihbt@gmail.comHoàng Thị Thanh Ngahoangngahthnm@gmail.comDoãn Thị Nhungdoanthinhung0582@gmail.comLê Thị Thu Huyềnhuyennihbt01@gmail.com<p class="p1"><em>Kháng thể bất thường (KTBT) làm giảm hiệu quả truyền máu ở bệnh nhi thalassemia. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 253 bệnh nhi alpha thalassemia (α- thalassemia) có hồ sơ truyền máu và kết quả xét nghiệm KTBT đầy đủ, sử dụng kỹ thuật ngưng kết cột gel với panel hồng cầu của Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương và trên máy định nhóm máu tự động của hãng Grifols. Phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS 27.0. Kết quả cho thấy tỷ lệ KTBT là 8,7% (22/253 trường hợp), trong đó hệ Rh chiếm tỷ lệ cao nhất (63,34%), tiếp đến là hệ MNS (30,0%); anti-E và anti-Miᵃ là các kháng thể thường gặp nhất. Tỷ lệ KTBT cao hơn ở trẻ dân tộc Kinh so với nhóm dân tộc khác (12,7% so với 5,2%; p = 0,044) và tỷ lệ xuất hiện KTBT tăng rõ rệt theo số lượng khối hồng cầu đã truyền (p < 0,0001).</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5538Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm tụy cấp ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ2026-06-08T03:28:49+00:00Trần Bá Hưng23310611789@student.ctump.edu.vnLê Thị Thúy Loanlttloan@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Viêm tụy cấp là một quá trình tổn thương cấp tính của tụy, triệu chứng lâm sàng đa dạng, có nguy cơ diễn tiến nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 61 trẻ được chẩn đoán viêm tụy cấp tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ từ tháng 6/2024 đến tháng 5/2026. Kết quả nghiên cứu ghi nhận nhóm trẻ trên 10 tuổi chiếm 67%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là đau bụng (96,7%) và nôn (75,4%), sốt xuất hiện gợi ý tình trạng viêm tụy cấp nặng. Số lượng bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính và CRP ở nhóm viêm tụy cấp nặng tăng cao hơn có ý nghĩa so với nhóm nhẹ. Thời gian nằm viện trung bình là 9,8 ± 3,3 ngày. Viêm tụy cấp nặng có thời gian nhịn ăn kéo dài, nhu cầu dịch truyền cao hơn nhóm nhẹ. Kết quả này cho thấy đau bụng và nôn là các biểu hiện lâm sàng thường gặp của viêm tụy cấp ở trẻ em. Các chỉ số viêm tăng cao liên quan đến mức độ nặng của bệnh, góp phần hỗ trợ đánh giá tiên lượng và hướng điều trị.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5545Kết quả ngắn hạn ghép mô liên kết điều trị tụt nướu răng cửa dưới sau chỉnh nha2026-06-05T07:12:53+00:00Bùi Văn Tớiongtienrang.1608@gmail.comTrịnh Minh Trítritm@hiu.vnLê Nguyên Lâmlenguyenlam@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị tụt nướu răng cửa hàm dưới sau chỉnh nha bằng phẫu thuật ghép mô liên kết. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu, không nhóm chứng được thực hiện trên 30 bệnh nhân. Các chỉ số RD, CAL, RW, WKT và GT được đánh giá trước phẫu thuật, sau phẫu thuật 1 tháng và 3 tháng. Sau 3 tháng, RD, CAL và RW giảm có ý nghĩa thống kê, trong khi WKT và GT tăng có ý nghĩa thống kê so với trước phẫu thuật (p < 0,05). Tỷ lệ che phủ chân răng hoàn toàn đạt 45,00% ở nhóm Miller I và 5,00% ở nhóm Miller II (p = 0,001). Chiều rộng mô sừng hóa ban đầu có tương quan nghịch mạnh với mức phục hồi tụt nướu sau 3 tháng (r = -0,710; p < 0,001). Phẫu thuật ghép mô liên kết bằng kỹ thuật đường hầm giúp cải thiện các chỉ số lâm sàng, tăng chiều rộng mô sừng hóa và độ dày nướu ở vùng răng cửa hàm dưới sau chỉnh nha.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5551Đặc điểm kiểu hình của tăng sản thượng thận bẩm sinh thiếu 21-hydroxylase phát hiện qua sàng lọc sơ sinh2026-06-10T04:07:39+00:00Bùi Thị Tâmtamtam.bui.92@gmail.comLương Thị Phượngluongthiphuong@hmu.edu.vnVũ Chí Dũngdungvu@nch.org.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 45 trẻ mắc tăng sản thượng thận bẩm sinh (TSTTBS) do thiếu enzym 21-hydroxylase (21-OH) được phát hiện qua sàng lọc sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương (10/2022 -12/2025), với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và hoá sinh của bệnh. Kết quả cho thấy tỷ lệ thể mất muối (SW) và không mất muối tương đương nhau (48,9% và 51,1%). Tuổi chẩn đoán trung vị ở nhóm SW cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không mất muối [12,0 ngày (IQR: 8,25 -14,0) so với 6,0 ngày (IQR: 5,0 -9,0); p < 0,05]. Tình trạng mất nước gặp ở nhóm SW (50,0%) so với nhóm không mất muối (4,3%) (p < 0,05). Tăng sắc tố vùng sinh dục gặp phổ biến ở cả hai nhóm; 78,9% trẻ nữ có mức độ nam hoá từ Prader III trở lên. Nhóm SW có rối loạn điện giải nặng hơn rõ rệt với hạ natri và tăng kali máu cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không mất muối (p < 0,05). Nồng độ 17-OHP máu và pregnanetriol niệu ở nhóm SW cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của sàng lọc sơ sinh trong phát hiện sớm TSTTBS, đặc biệt ở trẻ nam thể mất muối có nguy cơ suy thượng thận cấp.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5555Sự hài lòng của người bệnh với dịch vụ chăm sóc nha khoa tại Viện Đào tạo Răng hàm mặt, năm 20262026-06-14T02:30:58+00:00Tạ Thị Tươitathituoi@hmu.edu.vnNgô Văn ToànNgovantoan20281@gmail.comVũ Mạnh Tuấnmanhtuan@hmu.edu.vnNguyễn Thị ChâuNguyenthichau@hmu.edu.vnDương Đức Longduongduclong@hmu.edu.vnHoàng Thị Thu TrangHoangthutrang@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thu Hiềnhiennguyen@hmu.edu.vnPhạm Thị Nganhakhoaanhtien02@gmail.comHà Ngọc Chiềungocchieu@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá sự hài lòng của người bệnh về dịch vụ chăm sóc nha khoa tại Trung tâm Kỹ thuật cao Khám chữa bệnh Răng hàm mặt, Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, trường Đại học Y Hà Nội, năm 2026. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 343 bệnh nhân trên 18 tuổi, sử dụng một số dịch vụ khám, chữa bệnh răng hàm mặt tại Trung tâm từ tháng 01 đến tháng 04/2026 bằng bảng câu hỏi cấu trúc thiết kế dựa trên bộ câu hỏi về sự hài lòng với dịch vụ nha khoa (Dental Satisfaction Questionnaire – DSQ). Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với dịch vụ chăm sóc Nha khoa tại Trung tâm. Không có bệnh nhân nào đánh giá ở mức rất không hài lòng. Tất cả các yếu tố ở cả năm nội dung: chăm sóc khách hàng, sự thuận tiện về thời gian, chất lượng khám chữa bệnh, kiểm soát đau và chi phí điều trị đều có mức hài lòng trở lên đạt rất cao. Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân không hài lòng ở tất cả các tiêu chí trong năm nội dung trên.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5625Ứng dụng các phân loại nội soi trong phân tầng nguy cơ tổn thương tiền ung thư dạ dày tại Việt Nam2026-06-10T14:12:10+00:00Lưu Ngọc Maingmai3288@gmail.comHà Vĩ Nghiệpnghiep.hv@umc.edu.vnLê Minh Trườngtruong.lm2@umc.edu.vnNguyễn Thân Trọngtrong.nt@umc.edu.vnTrần Thị Ngọc Điệpdiep.ttn@umc.edu.vnNguyễn Hồng Vũvu.nh@umc.edu.vn<p class="p1"><em>Ung thư dạ dày là gánh nặng y tế lớn tại Việt Nam với hơn 16.000 ca mới mỗi năm và đa số được phát hiện ở giai đoạn muộn. Phân tầng nguy cơ ung thư dạ dày truyền thống dựa trên sinh thiết hệ thống 5 vị trí còn khó triển khai rộng rãi do hạn chế nguồn lực giải phẫu bệnh. Bài viết này tổng quan bằng chứng và đề xuất chiến lược ứng dụng tuần tự ba phân loại nội soi trong phân tầng nguy cơ ung thư dạ dày. Phân loại Kimura-Takemoto đánh giá teo niêm mạc có giá trị tiên đoán âm 98% trong loại trừ tổn thương tiền ung thư nguy cơ cao và phù hợp với mọi tuyến y tế. Phân loại Kyoto bổ sung thông tin tiên đoán tình trạng nhiễm Helicobacter pylori (H. pylori) đang hoạt động. Phân loại EGGIM giúp định lượng diện tích dị sản ruột theo thời gian thực trên nội soi tăng cường hình ảnh, có thể thay thế cho sinh thiết hệ thống. Chiến lược phân tầng tuần tự giúp chỉ định sinh thiết có chọn lọc, tối ưu hóa nguồn lực nhưng cần chuẩn hóa chất lượng hình ảnh và đào tạo bác sĩ nội soi.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5630Đánh giá tình trạng chảy máu, đau và lành thương sau nhổ ở người bệnh đang sử dụng thuốc kháng tiểu cầu tại Viện Đào tạo Răng hàm mặt và Bệnh viện Bạch Mai2026-06-25T02:50:39+00:00Hoàng Ngọc Lanngoclandental@gmail.comHoàng Mai Anhanhhm85@gmail.comNguyễn Hùng HiệpNguyenhunghiep@hmu.edu.vnVũ Thanh Thươngbsthuongrhmbvbm@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu quan sát tiến cứu có phân tích với mục tiêu đánh giá kết quả nhổ răng trên người bệnh sử dụng thuốc kháng tiểu cầu tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt và Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 - 2026. Tổng cộng 38 người bệnh sử dụng thuốc kháng tiểu cầu có chỉ định nhổ răng, trong 24 giờ đầu sau nhổ, 57,9% người bệnh chảy máu nhẹ tự cầm, 18,4% cần can thiệp cầm máu bổ sung. Không ghi nhận sự khác biệt về tình trạng chảy máu giữa các nhóm thuốc kháng tiểu cầu (p > 0,05). Số lượng răng nhổ là yếu tố nguy cơ làm tăng chảy máu cần can thiệp (OR = 6,39; p = 0,012). Điểm đau VAS giảm từ 4,02 ± 0,62 xuống 0,91 ± 1,05 vào ngày thứ 7. Điểm Landry và EHS trung bình lần lượt là 10,53 ± 0,95 và 5,55 ± 0,77. Trong phạm vi nghiên cứu này, không ghi nhận biến cố chảy máu nghiêm trọng ở người bệnh duy trì thuốc kháng tiểu cầu khi nhổ răng và được áp dụng các biện pháp cầm máu tại chỗ phù hợp. </em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5182Lọc máu liên tục kết hợp lọc hấp phụ trong điều trị đợt cấp lupus ban đỏ hệ thống có biến chứng suy thận cấp và xuất huyết tiêu hóa nặng: Báo cáo ca bệnh2026-05-29T02:00:44+00:00Phạm Khắc Tiệpkhactiepvm@gmail.comTrần Bá Dũngtrandung997@gmail.comNguyễn Văn Thắngnguyenvanthang187@gmail.comĐậu Việt HùngBsdauhung@yahoo.com<p class="p1"><em>Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 14 tuổi mắc lupus hoạt động mạnh với suy thận cấp gây vô niệu và xuất huyết tiêu hóa lan tỏa, được điều trị bằng lọc máu liên tục kết hợp lọc hấp phụ. Các chỉ số viêm, chức năng thận và huyết học được theo dõi trước lọc và sau 24, 48, 72 giờ. Kết quả cho thấy IL-6 giảm từ 612 xuống 68,1 pg/mL sau 72 giờ, Procalcitonin (PCT) giảm nhanh trong 48 giờ đầu, ure và creatinine giảm dần, xuất huyết tiêu hóa được kiểm soát, có nước tiểu trở lại từ ngày thứ 7 và ngừng được lọc máu liên tục. Tuy nhiên, do có sự phối hợp với nhiều biện pháp điều trị khác như corticosteroid liều cao, kháng sinh phổ rộng, truyền máu và hồi sức tích cực khác nên chưa thể xác định mối liên quan nhân quả của từng can thiệp với sự cải thiện lâm sàng. Mặc dù vậy, trường hợp này gợi ý rằng phối hợp lọc máu liên tục và lọc hấp phụ có thể là một lựa chọn hỗ trợ tiềm năng trong lupus nặng có suy thận cấp và xuất huyết tiêu hóa.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5314Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của u khoang cạnh họng: Báo cáo loạt 10 trường hợp có đối chiếu giải phẫu bệnh2026-05-21T01:26:39+00:00Bùi Thanh Quangquang76b@gmail.comPhạm Hồng Đứcphamhongduc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) của u khoang cạnh họng có đối chiếu giải phẫu bệnh, đồng thời nhấn mạnh giá trị định khu tổn thương trước mổ. Hồi cứu 10 trường hợp được phẫu thuật tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương giai đoạn 01/2023 - 03/2026. Dữ liệu thu thập gồm lâm sàng, vị trí tổn thương, tín hiệu T1W/T2W, khuếch tán (DWI/ADC), kiểu ngấm thuốc, bờ u, xâm lấn, hạch cổ và giải phẫu bệnh. Tuổi trung vị 48,5; tỷ lệ nam nữ tương đương. Bảy khối u thuộc khoang trước trâm, 2 khối thuộc khoang sau trâm và 1 khối lan cả hai khoang. Giải phẫu bệnh cho thấy 7 u lành tính và 3 u ác tính. U đa hình là loại u lành tính gặp nhiều nhất, còn ung thư biểu mô biểu bì nhầy là loại ác tính gặp nhiều nhất. Các tổn thương lành tính thường có bờ rõ và không kèm hạch cổ bất thường; trong khi tổn thương ác tính thường có bờ thâm nhiễm, ngấm thuốc không đồng nhất, hạn chế khuếch tán rõ hơn và/hoặc xâm lấn cơ lân cận. MRI có vai trò hữu ích trong định khu tổn thương, gợi ý nguồn gốc mô học và hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật trước mổ.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5388Giãn thận-niệu quản khổng lồ của đơn vị thận trên trong hệ thống thận-niệu quản đôi ở trẻ em: nhân hai trường hợp2026-05-20T13:49:27+00:00Nguyễn Thị Mai Thuỷnguyenmaithuy@yahoo.comNguyễn Phương Thảotapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnĐỗ Văn Khangdovankhang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Giãn khổng lồ đơn vị thận trên trong hệ thống thận đôi là dị tật hiếm gặp, có thể chẩn đoán muộn do diễn tiến âm thầm. Chúng tôi báo cáo hai trường hợp bệnh nhi có tiền sử giãn đường tiết niệu trước sinh nhưng không theo dõi định kỳ. Trường hợp 1: Bệnh nhi nữ 5 tuổi, khối giãn khổng lồ thể tích 1.100 mL gây chèn ép và biến đổi cấu trúc lân cận, khiến cộng hưởng từ hệ tiết niệu (MRU) không thể nhận diện hình thái thận đôi. Trường hợp 2: Bệnh nhi nam 2 tuổi, khối giãn 1000 mL, MRU phân biệt được hai đơn vị thận trước mổ. Cả hai bệnh nhi được phẫu thuật cắt bán phần thận-niệu quản đơn vị trên, bảo tồn đơn vị thận dưới. Theo dõi 9 - 11 tháng sau mổ ghi nhận hình thái và nhu mô phần thận được bảo tồn ổn định. Phẫu thuật cắt bán phần thận-niệu quản đơn vị trên có thể là lựa chọn khả thi trong nhóm bệnh lý hiếm gặp này.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5389Phẫu thuật u thận trẻ em kèm huyết khối tĩnh mạch chủ dưới: Nhân 3 trường hợp2026-05-19T13:11:05+00:00Nguyễn Thị Mai Thuỷnguyenmaithuy@yahoo.comĐỗ Văn Khangdovankhang@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu báo cáo kết quả điều trị 3 trường hợp u thận trẻ em có huyết khối tĩnh mạch chủ dưới, trong đó 1 trường hợp lan lên nhĩ phải. Cả 3 bệnh nhi (1 - 6 tuổi) đều được hóa trị tân bổ trợ trước phẫu thuật, sau đó được cắt thận triệt căn, kiểm soát tĩnh mạch chủ dưới, mở dọc lòng mạch lấy trọn huyết khối u và khâu phục hồi thành mạch trực tiếp. Trong đó, 1 trường hợp huyết khối lan lên nhĩ phải được can thiệp thành công nhờ phối hợp tuần hoàn ngoài cơ thể. Sau mổ, 2 bệnh nhi mắc u nguyên bào thận duy trì tình trạng ổn định sau 10 - 14 tháng theo dõi, 1 trường hợp u dạng cơ vân ác tính của thận tái phát và di căn sớm chỉ sau 3 tháng. Kết quả bước đầu khẳng định vai trò quan trọng của hóa trị tân bổ trợ, đồng thời kỹ thuật mở tĩnh mạch lấy huyết khối và khâu phục hồi trực tiếp thành tĩnh mạch là khả thi đối với nhóm bệnh lý này.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5209Tổng quan các phương pháp chế tác phục hình tháo lắp khung bộ trong nha khoa hiện đại2026-04-26T14:29:08+00:00Nguyễn Hoàng Tường VyDrvynguyen95@gmail.comNguyễn Liên Thuận Phátphatnlt2004076@student.hiu.vnPhạm Nguyên Quânphamnguyenquan1991@gmail.com<p class="p1"><em>Chất lượng phục hình tháo lắp khung bộ phụ thuộc chủ yếu vào độ chính xác của quy trình chế tác khung kim loại. Gần đây, các phương pháp chế tác đã chuyển dịch từ kỹ thuật đúc truyền thống sang các công nghệ kỹ thuật số như CAD/CAM, in 3D kim loại và các quy trình kết hợp. Bài tổng quan này nhằm hệ thống hóa các phương pháp chế tác khung bộ hiện nay, đồng thời phân tích cơ chế, ưu điểm, hạn chế và xu hướng phát triển dựa trên các nghiên cứu quốc tế. Kết quả cho thấy các phương pháp kỹ thuật số có thể đạt độ khít sát tương đương hoặc vượt trội so với đúc truyền thống, đồng thời giảm sai số và tăng khả năng tái lập. Tuy nhiên, chi phí và yêu cầu kỹ thuật vẫn là rào cản trong triển khai rộng rãi.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5589Ảnh hưởng của xác định PEEP tối ưu theo cắt lớp phổi điện kháng đến một số chỉ số huyết động trong ARDS ngoại khoa2026-06-12T09:41:20+00:00Nguyễn Việt Minhvietminh1510@gmail.comLưu Quang Thuỳdrluuquangthuy@gmail.comTrịnh Văn Đồngdonghoisucvd@gmail.comNguyễn Thị HuyềnHuyennguyen30071994@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng huyết động của xác định PEEP theo EIT ở người bệnh ARDS trung bình–nặng liên quan chấn thương hoặc hậu phẫu. Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ 5/2025 đến 5/2026. Có 125 người bệnh được phân tích, gồm 63 người bệnh nhóm EIT và 62 người bệnh nhóm Chứng. Mức PEEP ở nhóm EIT cao hơn nhóm Chứng tại Ngày 2 và Ngày 3. Không ghi nhận khác biệt về diễn biến theo thời gian giữa hai nhóm đối với nhịp tim, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, huyết áp trung bình, lactate máu động mạch, tình trạng sử dụng norepinephrine và liều norepinephrine ở các quan sát có dùng thuốc. Xác định PEEP theo EIT làm thay đổi chiến lược PEEP nhưng không ghi nhận tín hiệu bất lợi huyết động rõ rệt.</em></p>2026-08-04T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học