https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/issue/feedTạp chí Nghiên cứu Y học2026-03-31T03:08:55+00:00Open Journal Systemshttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4816Giá trị của sự phối hợp 3 dấu ấn ung thư CEA, CYFRA 21-1, SCC huyết tương trong chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện Phổi Trung ương2026-02-23T07:58:26+00:00Đinh Văn Lượngdinhvanluong66@gmail.comLại Thị Tố Uyênbslaitouyen1976@gmail.comNguyễn Huy Bìnhnguyenhuybinh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Đánh giá giá trị của sự phối hợp 3 dấu ấn ung thư CEA, CYFRA 21-1, SCC huyết tương trong chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC): 100 người bệnh NSCLC (nhóm bệnh) được điều trị nội trú và 100 người khỏe mạnh (nhóm chứng) tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 5/2024 - 5/2025. Kết quả: Điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu, diện tích dưới đường cong (AUC) của CEA, CYFRA 21-1, SCC trong chẩn đoán NSCLC lần lượt là 5,0; 3,3; 1,5 ng/ml; 64,0; 66,0; 61,0 % và 60,0; 83,0; 72,0% và 0,881; 0,804; 0,735. Kết hợp song song 3 dấu ấn ung thư CEA, CYFRA 21-1, SCC có độ nhạy 62,2%, độ đặc hiệu 85,0% với AUC là 0,845. Độ nhạy, độ đặc hiệu của CEA trong chẩn đoán UTBMT lần lượt là 74,4%; 85,9% với AUC là 0,888. Độ nhạy, độ đặc hiệu của SCC, CYFRA 21-1 trong chẩn đoán UTBMV lần lượt là 90,0; 81,0% và 100,0; 83,0% với AUC là 0,925. Kết hợp song song 3 dấu ấn ung thư CEA, CYFRA 21-1, SCC trong chẩn đoán UTBMT có độ nhạy, độ đặc hiệu là 70,5%, 88,25% với AUC là 0,825. Kết hợp 3 dấu ấn ung thư CEA, CYFRA 21-1, SCC trong chẩn đoán UTBMV có độ nhạy, độ đặc hiệu 85,2%; 93,8% với AUC là 0,889.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4817Giá trị của sự phối hợp 2 dấu ấn ung thư PROGRP, NSE huyết thanh trong chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ tại Bệnh viện Phổi Trung ương2026-03-10T07:02:43+00:00Đinh Văn Lượngdinhvanluong66@gmail.comLại Thị Tố Uyênbslaitouyen1976@gmail.comNguyễn Huy Bìnhnguyenhuybinh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Đánh giá giá trị của sự phối hợp hai dấu ấn ProGRP, NSE huyết thanh trong chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ (SCLC): 60 NB SCLC (nhóm bệnh SCLC); 60 NB NSCLC (nhóm bệnh NSCLC) được điều trị nội trú và 60 người khỏe mạnh (nhóm chứng) được khám sức khỏe tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 5/2024 đến tháng 5/2025. Kết quả: Trung vị nồng độ ProGRP, NSE huyết thanh ở nhóm bệnh SCLC cao nhất là 418,6 pg/ml; 64,38 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu của ProGRP trong chẩn đoán SCLC lần lượt là 57,6 pg/ml, 88,3%; 93,3% với AUC là 0,929. Điểm cắt, độ nhạy, độ đặc hiệu của của NSE trong chẩn đoán SCLC là 14,31 ng/ml, 88,3%; 83,3% với AUC là 0,929. Kết hợp hai dấu ấn ProGRP + NSE trong chẩn đoán SCLC, có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 85,5%; 95,5% với AUC là 0,912. Kết hợp hai dấu ấn ung thư ProGRP + NSE trong chẩn đoán phân biệt SCLC với NSCLC, có độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 83,5%; 93,5% với AUC là 0,902.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4715Báo cáo ca bệnh thiếu hụt CITRIN - nguyên nhân gây chậm tăng cân ở trẻ nhũ nhi2026-02-04T01:21:51+00:00Bùi Thị Kim Oanhoanhbtk@gmail.comLê Thị Minh Hươngv.huongltm9@vinmec.comMai Kiều Anhv.anhmk@vinmec.comĐặng Thị Xuânv.xuandt6@vinmec.com<p class="p1"><em>Thiếu hụt citrin là rối loạn chuyển hóa di truyền hiếm gặp do đột biến gen SLC25A13, di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường. Biểu hiện sớm thường gặp là ứ mật trong gan ở trẻ sơ sinh (NICCD); tuy nhiên, chậm tăng cân có thể là dấu hiệu nổi bật hơn, dẫn đến tiếp cận chẩn đoán muộn. Chúng tôi báo cáo ca trẻ nữ 12 tháng tuổi nhập viện lúc 1,5 tháng tuổi vì chậm tăng cân và thiếu máu. Trẻ sinh đủ tháng, bú mẹ đầy đủ nhưng tăng cân kém. Khám lâm sàng trẻ suy dinh dưỡng, da niêm mạc nhợt, vàng da nhẹ, gan mấp mé bờ sườn. Xét nghiệm cho thấy thiếu máu kèm ferritin tăng cao, tăng nhẹ bilirubin trực tiếp, men gan và rối loạn đông máu nhẹ; sàng lọc sơ sinh bình thường. Xét nghiệm gen phát hiện hai đột biến dị hợp tử kép SLC25A13, xác định chẩn đoán. Can thiệp dinh dưỡng phù hợp giúp cải thiện nhanh lâm sàng, cận lâm sàng và bắt kịp tăng trưởng. Chậm tăng cân và thiếu máu có thể là biểu hiện sớm của NICCD, cần được nhận diện sớm để điều trị kịp thời.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4793Hiệu quả điều trị của phương pháp cận tam châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt trên bệnh nhân viêm quanh khớp vai đơn thuần2026-01-30T06:51:37+00:00Ngô Quỳnh Hoangoquynhhoa@hmu.edu.vnLê Tuấn Vinhdrvinhle148@gmail.comĐặng Trúc Quỳnhdangtrucquynh@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng giảm đau và cải thiện tầm vận động khớp vai ở bệnh nhân viêm quanh khớp vai đơn thuần bằng phương pháp Cận tam châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt. Nghiên cứu được thiết kế tiến cứu, so sánh các chỉ số trước và sau điều trị. 40 bệnh nhân viêm quanh khớp vai đơn thuần được điều trị bằng châm bộ huyệt Kiên tam châm của phương pháp Cận tam châm và xoa bóp bấm huyệt trong 20 ngày. Kết quả cho thấy điểm VAS trung bình của đối tượng nghiên cứu giảm từ 5,78 ± 0,58 xuống 1,03 ± 0,86 điểm (p < 0,05), 65% bệnh nhân còn đau mức độ nhẹ, 35% không còn đau. Tầm vận động khớp vai theo McGill-MC Romi (động tác dạng, xoay trong, xoay ngoài) cải thiện đáng kể so với trước điều trị (p < 0,05). Phương pháp Cận tam châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt mang lại hiệu quả khả quan trong giảm đau và phục hồi tầm vận động của khớp vai cho bệnh nhân viêm quanh khớp vai đơn thuần trong nghiên cứu.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4840Nhận xét đặc điểm hình thái và giá trị tiên lượng sau sinh của thai giãn não thất đơn thuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội2026-02-25T02:38:47+00:00Mai Trọng Hưngbacsymaitronghung@gmail.comNguyễn Tài Đứctaiduc.hogh@gmail.comNguyễn Hùngdrhung59@gmail.comĐinh Thúy Linhdrdinhlinhobgyn@gmail.com<p class="p1"><em>Giãn não thất đơn thuần là bất thường hình thái thường gặp trên siêu âm thai quý 2-3. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 119 thai nhi được chẩn đoán giãn não thất đơn thuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 01/2022 đến 12/2023, nhằm nhận xét đặc điểm hình thái và đánh giá mối liên quan giữa các đặc điểm siêu âm trước sinh với tình trạng não thất sau sinh. Tuổi thai trung bình phát hiện là 27,52 ± 5,52 tuần; 68,1% giãn mức độ nhẹ, 50,4% giãn một bên. Trong 20 trường hợp chọc ối, 15% có bất thường di truyền (3/20 trường hợp), đáng chú ý cả 3 trường hợp đều thuộc nhóm giãn hai bên. Trong 99 trẻ sinh ra, 85,86% không còn giãn não thất. Mức độ giãn trước sinh có giá trị tiên lượng: tỷ lệ còn giãn não thất sau sinh ở nhóm nặng là 75%, vừa 22,7%, nhẹ 8,2% (p = 0,002). Sau 6 tháng chỉ còn 2,02% có giãn não thất. Giãn não thất đơn thuần mức độ nhẹ và một bên có tiên lượng sau sinh tốt.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4794Ứng dụng mô hình học máy trong xác định tỷ lệ viêm quanh chóp2026-02-06T09:55:43+00:00Đỗ Hoàng Việtdohoangviet@hmu.edu.vnVõ Trương Như Ngọcnhungoc@hmu.edu.vnNguyễn Phú Thắngphuthang@hmu.edu.vnLê Hoàng Sơnsonlh@vnu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 1.242 bệnh nhân (29.852 răng) chụp phim X-quang toàn cảnh tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt năm 2022. Tổn thương VQC được phát hiện bởi mô hình học máy và xác nhận bởi hai bác sĩ độc lập. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 26.0 với các kiểm định thống kê phù hợp (Chi-square, t-test, p < 0,05). Tỷ lệ VQC trung bình là 22,49%, tăng dần theo tuổi và cao nhất ở nhóm trên 60 tuổi (36,15%). Răng hàm lớn có tỷ lệ tổn thương cao nhất (2,14%), song sự khác biệt giữa các nhóm răng không có ý nghĩa thống kê. Trong các răng đã điều trị nội nha, 36,5% vẫn còn tồn thương quanh chóp; tỷ lệ này liên quan rõ rệt đến độ đồng nhất vật liệu trám và chiều dài làm việc (p < 0,001). Mô hình học máy giúp giảm tỷ lệ bỏ sót tổn thương, với mức bỏ sót của bác sĩ độc lập dao động từ 4,84% đến 7,02%, nhưng sự khác biệt giữa các vị trí răng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4782Kết quả điều trị hội chứng động kinh cơn co thắt trẻ nhỏ tại Bệnh viện Nhi Trung ương2026-01-30T04:21:03+00:00Nguyễn Thị Dungdungnguyen0902.hmu@gmail.comVũ Thị DuyênVuthiduyen.doctor@gmail.comCao Vũ Hùnghungcv@nch.gov.vnĐỗ Thanh Hươngdothanhhuong@hmu.edu.vn<p class="p1"><span class="s1"><em>Hội chứng động kinh cơn co thắt trẻ nhỏ là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây động kinh khởi phát sớm ở trẻ. Nghiên cứu của chúng tôi mô tả kết quả điều trị của 62 bệnh nhân mắc hội chứng động kinh cơn co thắt trẻ nhỏ bằng phác đồ có sử dụng prednisolon tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 10/2023 đến tháng 5/2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 2 tuần điều trị tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên lâm sàng đạt 82,3% bệnh nhân. Sau 6 tuần, khi đánh giá lâm sàng và điện não đồ cho thấy tỷ lệ đáp ứng chung đạt 76,5%. Có 22,6% bệnh nhân có tác dụng không mong muốn phải can thiệp tối thiểu, thường gặp nhất là hội chứng Cushing và nhiễm khuẩn, không có bệnh nhân nào tử vong. Phác đồ có sử dụng prednisolon mang lại hiệu quả khả quan và an toàn trong điều trị hội chứng động kinh cơn co thắt trẻ nhỏ.</em></span></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4776Phân đoạn răng, xoang hàm trên và ống thần kinh hàm dưới trên phim X-quang toàn cảnh bằng trí tuệ nhân tạo2026-02-03T08:32:28+00:00Đỗ Thuý Hằnghangdo.dentist@gmail.comVũ Việt Đứcvuvietduc0508@gmail.comPhạm Trung Hiếuphamhieu412001@gmail.comĐồng Thị Mai Hươngdtmhuong@hpmu.edu.vnNguyễn Đức Cườngcuong.cuong892k3@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình trí tuệ nhân tạo trong phân đoạn và nhận diện răng, xoang hàm trên và ống thần kinh hàm dưới trên phim X-quang toàn cảnh (panorama). Dữ liệu gồm 3.817 phim panorama của người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên. Các cấu trúc giải phẫu được gán nhãn thủ công và sử dụng để huấn luyện mô hình học sâu UperNet với backbone ConvNeXtV2 Femto; dữ liệu được chia theo tỷ lệ huấn luyện, kiểm định và kiểm tra là 8:1:1. Hiệu suất mô hình được đánh giá bằng các chỉ số Precision, Recall, F1-score và IoU. Kết quả cho thấy, ở mức pixel, F1-score đạt 91,93% đối với răng, 97,61% đối với xoang hàm trên và 90,79% đối với ống thần kinh hàm dưới, với mIoU trung bình 87,84%. Ở mức object, F1-score của tất cả các cấu trúc đều vượt 97%. Mô hình học sâu cho thấy khả năng phân đoạn chính xác và ổn định các cấu trúc giải phẫu chính trên phim X-quang panorama, khẳng định tiềm năng ứng dụng trong hỗ trợ chẩn đoán tự động, lập kế hoạch điều trị và đào tạo nha khoa.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4751Giá trị của thang điểm angiographic grace trong tiên lượng tử vong nội viện ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên được can thiệp mạch vành qua da2026-02-06T02:22:12+00:00Hoàng Huy Trườngtruonghh@pnt.edu.vnHà Thị Ngọc Phượnghatnp205@gmail.comĐinh Đức Huybinh348145@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu kết hợp hồi cứu trên 157 bệnh nhân (tuổi trung bình 58,6 ± 11,1, 81,5% nam giới chiếm) nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên được can thiệp mạch vành qua da nhằm đánh giá giá trị tiên lượng tử vong nội viện của thang điểm Angiographic GRACE. Tỷ lệ tử vong nội viện là 7,6%. Điểm angiographic GRACE ở nhóm tử vong nội viện cao hơn có ý nghĩa so với nhóm sống sót (232,9 ± 49,4 so với 159,9 ± 30,9; p < 0,001). Phân tích ROC cho thấy Angiographic GRACE dự báo tốt tử vong nội viện với AUC = 0,909 (KTC 95%: 0,831 - 0,986; p < 0,001). Với điểm cắt >193, thang điểm đạt độ nhạy 91,7%, độ đặc hiệu 84,8%. Trong phân tích hồi quy logistic đơn biến, thang điểm Angiographic GRACE có liên quan có ý nghĩa với tử vong nội viện (OR = 1,68 cho mỗi 10 điểm tăng; KTC 95%: 1,31 - 2,14; p < 0,001), kiểm định Hosmer-Lemeshow p = 0,693. Kết quả cho thấy thang điểm Angiographic GRACE có khả năng phân tầng nguy cơ tử vong nội viện ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên được can thiệp mạch vành qua da; tuy nhiên, các phát hiện cần được diễn giải thận trọng do số biến cố còn hạn chế và cần được xác nhận thêm trong các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4858Mối liên quan giữa thang điểm heart và hội chứng vành cấp ở bệnh nhân đau ngực tại khoa cấp cứu2026-03-05T01:46:54+00:00Hoàng Huy Trườngtruonghh@pnt.edu.vnBùi Ánhnamtrannvt900@gmail.comNguyễn Thanh Sửnguyenaa197@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 290 bệnh nhân ≥ 18 tuổi nhập Khoa Cấp cứu vì đau ngực/thượng vị nhằm đánh giá giá trị thang điểm HEART trong chẩn đoán hội chứng vành cấp. Tỷ lệ hội chứng vành cấp là 62,8% (182/290). Nhóm hội chứng vành cấp lớn tuổi hơn và có điểm HEART cao hơn nhóm không hội chứng vành cấp (trung vị 6 [5 - 7] so với 4 [3 - 5]; p < 0,001). Các thành phần bệnh sử, ECG và troponin khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm, trong khi phân nhóm tuổi và số yếu tố nguy cơ không khác biệt có ý nghĩa. Tỷ lệ hội chứng vành cấp tăng dần theo mức điểm và vượt 90% ở HEART ≥ 7. Phân tích ROC cho thấy HEART phân định tốt hội chứng vành cấp với AUC = 0,872 (KTC 95%: 0,829 - 0,914; p < 0,001); tại ngưỡng > 4, độ nhạy 89% và độ đặc hiệu 73,1%. Trong hồi quy logistic đa biến, HEART > 4 là yếu tố liên quan độc lập hội chứng vành cấp (OR = 23,91; KTC 95%: 12,43 - 46,01; p < 0,001). Thang điểm HEART, đặc biệt với ngưỡng > 4 điểm, có giá trị cao trong nhận diện hội chứng vành cấp ở bệnh nhân đau ngực tại Khoa Cấp cứu.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4847Mô tả biến chứng thường gặp và kết quả phẫu thuật loại bỏ răng thừa ngầm vùng khẩu cái trước2026-03-12T01:26:37+00:00Hoàng Kim Loankimloan@hmu.edu.vnTrần Đông Bắctrandongbacyhn@gmail.comPhạm Minh Hoànghoangnimo@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả chùm ca bệnh trên 35 bệnh nhân có răng thừa ngầm vùng khẩu cái trước cho thấy đa phần các răng thừa ngầm thường nằm ở vị trí lỗ khẩu cái trước (51,2%) và phần lớn là mọc ngược (41,5%). Tỷ lệ biến chứng do răng thừa ngầm không cao, chỉ chiếm 29,3%. Trong đó, hay gặp nhất là lệch lạc răng cửa hàm trên (50%); chủ yếu xảy ra ở các răng thừa mọc ngược nằm ở lỗ khẩu cái trước. Tỷ lệ kết quả phẫu thuật thuận lợi chiếm đến 95,2% và ít bị ảnh hưởng bởi vị trí hay hướng mọc.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4754Kết quả điều trị sa sinh dục bằng phương pháp cố định tử cung vào dây chằng chậu lược tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên2026-03-05T06:57:02+00:00Hoàng Thị Ngọc Trâmhoangtramyk@gmail.comHồ Cẩm Túhocamtu@hmu.edu.vnNguyễn Thị Phương Thuýntpthuy131219.bg@gmail.com<p class="p1"><em>Nhận xét kết quả điều trị sa sinh dục bằng phương pháp cố định tử cung vào dây chằng chậu - lược tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên giai đoạn 2024 - 2025. Mô tả trên 40 bệnh nhân sa sinh dục được phẫu thuật cố định tử cung vào dây chằng chậu - lược tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên thời gian từ 1/1/2024- 31/12/2025. Tuổi trung bình là 66 ± 9,0. Chủ yếu là sa sinh dục độ II-III với phẫu thuật nội soi chiếm 80%. So với mổ mở, phẫu thuật nội soi có xu hướng giảm tỷ lệ mất máu ≥ 100 ml và rút ngắn thời gian lưu sonde tiểu (p > 0,05); thời gian phẫu thuật và nằm viện sau mổ khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Sau phẫu thuật, 100% bệnh nhân hết sa tử cung và rối loạn tiểu tiện.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4824Đánh giá hiệu quả điều trị tổn thương tái hẹp trong Stent bằng bóng phủ thuốc chứa Paclitaxel tại Bệnh viện Tim Hà Nội2026-03-09T08:40:21+00:00Hoàng Vănhoangvan.cardiologist@gmail.comTrần Trà Giangdonghmu@gmail.comTrần Ngọc Dũngdongduong1234@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị tái hẹp trong stent động mạch vành bằng nong bóng phủ thuốc paclitaxel tại Bệnh viện Tim Hà Nội trên 33 bệnh nhân được can thiệp từ tháng 5/2024 đến tháng 10/2025. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 70,75 ± 9,16, nam giới chiếm 72,7%. Các yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp gồm tăng huyết áp (69,7%), rối loạn lipid máu (54,5%) và đái tháo đường (39,4%). Vị trí tổn thương hay gặp nhất là động mạch liên thất trước (39,4%). Sau can thiệp, đường kính lòng mạch tối thiểu tăng đáng kể từ 0,25 ± 0,18 mm lên 2,60 ± 0,50 mm; mức độ hẹp giảm từ 84,22% xuống còn 15,58%. Tất cả bệnh nhân đều đạt dòng chảy TIMI 3 sau thủ thuật. Không ghi nhận biến chứng cấp hoặc tử vong trong thời gian nằm viện. Theo dõi sau 12 tháng cho thấy tỷ lệ biến cố tim mạch chính là 3%, tương ứng với một trường hợp phải tái can thiệp tổn thương đích. Trong số 10 bệnh nhân được chụp lại mạch vành, ghi nhận một trường hợp tái hẹp (3%) tại vị trí chia đôi. Kết quả cho thấy nong bóng phủ paclitaxel mang lại hiệu quả huyết động tức thì rõ rệt và duy trì kết quả lâm sàng tốt trong thời gian theo dõi trung hạn.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4732Kết quả điều trị tân bổ trợ và tính an toàn của phác đồ TCHP trên bệnh nhân ung thư vú HER2 dương tính giai đoạn II - III tại Bệnh viện K2026-03-05T07:01:53+00:00Lê Thị Yếnleyenbvk@gmail.comNguyễn Thị Thu Hườngnguyenhuong.onc@gmail.comChử Quốc Hoànquochoan201087@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu</em> <em>đánh giá tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn về mô bệnh học sau phẫu thuật (tpCR) và tính an toàn của phác đồ tân bổ trợ TCHP (Docetaxel, Carboplatin, Trastuzumab, Pertuzumab) trên bệnh nhân ung thư vú có HER2 dương tính. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 97 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II-III, HER2 dương tính, được điều trị đủ 6 chu kỳ TCHP tân bổ trợ tại Bệnh viện K từ tháng 03/2021 đến tháng 07/2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ đạt tpCR (ypT0/is ypN0) là 68%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn tại u vú (ypT0/is) và tại hạch nách (ypN0) tương ứng là 74,2%; 79,4%. Trong phân tích đa biến, nhóm HER2 dương tính (3+) và tình trạng thụ thể nội tiết là yếu tố tiên lượng độc lập làm tăng khả năng đạt tpCR. Độc tính độ 3-4 thấp, chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính (6,2%). Không có độc tính tim mạch. Phác đồ TCHP cho kết quả điều trị cao và dung nạp tốt nên được ưu tiên lựa chọn trong điều trị tân bổ trợ cho nhóm ung thư vú HER2 dương tính.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4814Kết quả giảm đau sau điều trị bằng máng nhai ổn định điều chỉnh có hỗ trợ của ghi khớp cắn số hóa ở người bệnh thoái hóa khớp thái dương hàm2026-02-04T03:03:03+00:00Lê Thu Hươnghuonglethu86@gmail.comNguyễn Thị Thu Phươngdrnguyenthuphuong70@gmail.comNguyễn Thị Thuý Ngathuyngamed@yahoo.comTrịnh Văn Duybsduych25@gmail.comVũ Duy Bìnhbinhvdxray@gmail.com<p class="p1"><em>Thoái hóa khớp thái dương hàm là một rối loạn nội khớp mạn tính, thường gây đau kéo dài và ảnh hưởng đến chức năng nhai cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ đau và sự thay đổi của triệu chứng đau theo thời gian ở người bệnh rối loạn thái dương hàm nội khớp thể thoái hóa khớp được điều trị bằng máng nhai ổn định điều chỉnh có hỗ trợ ghi khớp cắn số hóa. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng được thực hiện trên 35 người bệnh được chẩn đoán thoái hóa khớp thái dương hàm dựa trên lâm sàng và hình ảnh cắt lớp vi tính chùm tia hình nón (CBCT). Tất cả người bệnh được điều trị bằng máng nhai ổn định chế tác từ nhựa cứng đặt trên hàm trên và được điều chỉnh với sự hỗ trợ của hệ thống ghi tiếp xúc cắn số hóa nhằm kiểm soát phân bố lực cắn. Mức độ đau được đánh giá bằng thang điểm VAS trước điều trị và sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm. Kết quả cho thấy điểm VAS trung bình giảm từ 6,86 ± 1,42 trước điều trị xuống 4,80 sau 1 tháng, 2,46 sau 3 tháng, 0,54 sau 6 tháng và 0,06 sau 1 năm (p < 0,05). Sau 1 tháng, 74,3% người bệnh giảm ít nhất một mức độ đau và không ghi nhận trường hợp đau tăng. Đến 6 tháng, đa số người bệnh không còn đau và tại thời điểm 12 tháng, 97,1% người bệnh không còn đau. Điều trị bằng máng nhai ổn định điều chỉnh có hỗ trợ ghi khớp cắn số hóa giúp giảm mức độ đau theo thời gian ở người bệnh thoái hóa khớp thái dương hàm.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4832Kết quả sống thêm và các yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư dạ dày sau phẫu thuật mở tại Bệnh viện K giai đoạn 2019 - 20232026-02-25T01:35:43+00:00Phạm Văn Bìnhbinhva@yahoo.frLê Văn Thànhbenque.471@gmail.com<p class="p1"><em>Ung thư dạ dày là bệnh lý ác tính có tỷ lệ tử vong cao, thời gian sống thêm sau phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố tiên lượng, trong đó phẫu thuật mở vẫn giữ vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu trên 962 bệnh nhân được phẫu thuật mở tại Bệnh viện K giai đoạn 2019 - 2023 nhằm đánh giá kết quả sống thêm và các yếu tố liên quan. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 1, 2, 3 và 5 năm lần lượt là 88,1%, 83,2%, 80,2% và 75,2%; tỷ lệ sống thêm không bệnh 5 năm đạt 76,0% ở nhóm phẫu thuật triệt căn. Phân tích đa biến xác định giai đoạn bệnh tiến triển, tuổi ≥ 60 và biến chứng sau phẫu thuật làm giảm thời gian sống thêm toàn bộ, trong khi tuân thủ điều trị bổ trợ giúp cải thiện sống thêm. Nghiên cứu góp phần làm rõ đặc điểm tiên lượng của bệnh nhân ung thư dạ dày sau phẫu thuật mở tại một trung tâm chuyên khoa lớn.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4731Một số yếu tố liên quan tới suy hô hấp ở trẻ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm2026-02-11T08:31:59+00:00Mai Kiều Anhmaikieuanh76@gmail.comĐào Thị Ngoankhoaitaychien94at@gmail.comHoàng Quỳnh Lanv.lanhq@vinmec.comNguyễn Thuý Hàv.hant256@vinmec.comNgô Văn Dầnv.dannv@vinmec.comDương Thị Dungv.dungdt1@vinmec.comĐàm Thị Quỳnhv.quynhdt12@vinmec.comĐặng Thu Thuỷv.thuydt6@vinmec.com<p class="p1"><em>Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm là tình trạng nặng, tiến triển nhanh, trong đó suy hô hấp là biểu hiện thường gặp và có thể đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của suy hô hấp ở nhóm trẻ này thường không đặc hiệu, gây khó khăn cho việc phát hiện sớm. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City nhằm xác định các yếu tố liên quan đến suy hô hấp ở trẻ sơ sinh mắc nhiễm khuẩn sơ sinh sớm. Kết quả cho thấy tỷ lệ suy hô hấp là 61,3%; trong đó 34,2% trẻ cần hỗ trợ oxy; 55,3% thở CPAP và 10,5% thở máy xâm nhập. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với suy hô hấp gồm: đẻ non, cân nặng thấp và điểm Apgar 1 phút dưới 7, trong khi các xét nghiệm thường quy không cho thấy mối liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy đẻ non, cân nặng thấp và điểm Apgar thấp là những yếu tố nguy cơ chính của suy hô hấp ở trẻ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sát hô hấp ngay từ giai đoạn sớm ở nhóm trẻ nguy cơ cao nhằm cải thiện tiên lượng và chất lượng chăm sóc.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4786Các yếu tố liên quan đến quyết định can thiệp nội mạch lấy huyết khối ở người bệnh từ 80 tuổi trở lên bị đột quỵ thiếu máu não cấp: Nghiên cứu thuần tập tiến cứu mô tả đa trung tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh2026-02-26T08:26:04+00:00Ngô Thị Kim Trinhntktrinh@ntt.edu.vnTrần Công Thắngtrancongthang@ump.edu.vnNguyễn Huy Thắngnguyenhuythang@gmail.comnguyenhuy<p class="p1"><em>Lựa chọn can thiệp nội mạch ở bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên bị đột quỵ do tắc mạch lớn vẫn là thách thức trong thực hành lâm sàng. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu mô tả, đa trung tâm được thực hiện từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025 trên 370 người bệnh ≥ 80 tuổi điều trị tại các trung tâm đột quỵ lớn ở TP. Hồ Chí Minh nhằm xác định các yếu tố liên quan đến quyết định can thiệp. Các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và yếu tố thời gian được thu thập và phân tích. Kết quả cho thấy 190/370 người bệnh (51,4%) được chỉ định can thiệp nội mạch. Tuần hoàn bàng hệ trung bình - tốt làm tăng đáng kể khả năng can thiệp (aOR = 5,0; p < 0,001), trong khi thời gian từ khởi phát đến nhập viện kéo dài làm giảm khả năng can thiệp (aOR = 0,89/giờ trì hoãn; p < 0,001). Tắc mạch gần (động mạch cảnh trong hoặc M1) cũng liên quan độc lập. Kết luận, ở người bệnh ≥ 80 tuổi, các yếu tố liên quan đến quyết định can thiệp nội mạch trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam chủ yếu bao gồm tình trạng tuần hoàn bàng hệ, yếu tố thời gian và vị trí tắc mạch.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4798Hệ thống tính điểm phân nhánh trên cộng hưởng từ đa thông số trong phân biệt u nguyên bào thần kinh đệm, u não di căn, u lympho não nguyên phát đơn ổ2026-02-23T03:50:34+00:00Lê Thị Hồng Phươnglethihongphuong1989@gmail.comLê Thanh Dũngdrdung74@gmail.comNguyễn Sỹ Lánhnguyensylanhbvvd@gmail.comNguyễn Duy HùngDuyhung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xây dựng và đánh giá hiệu năng của hệ thống tính điểm trong phân biệt u nguyên bào thần kinh đệm, u não di căn (DCN) và u lympho não nguyên phát (LN) trên CHT đa thông số. Nghiên cứu hồi cứu 140 bệnh nhân u não đơn ổ được chụp CHT 3.0 Teslatại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và có kết quả giải phẫu bệnh là một trong ba nhóm u trên. Các đặc điểm định tính, định lượng trên CHT thường quy, phổ, tưới máu được phân tích; từ đó xây dựng hệ thống tính điểm phân biệt u nguyên bào thần kinh đệm, DCN, LN. Hệ thống tính điểm gồm 2 bước: bước 1 sử dụng đặc điểm hoại tử, thông số ADC nhỏ nhất trong u (minADCt) và rCBV trong u (rCBVt) giúp phân biệt LN với nhóm u nguyên bào thần kinh đệm và DCN, AUC = 0,965. Bước 2 các thông số định lượng: rCBF trong u (rCBFt), rCBV quanh u (rCBVe), tỷ lệ Cho/NAA trong u (Cho/NAAt), Cho/Cr quanh u (Cho/Cre) giúp phân biệt u nguyên bào thần kinh đệm với DCN, AUC = 0,959. Hệ thống tính điểm phân nhánh dựa trên CHT đa thông số có giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt u nguyên bào thần kinh đệm, DCN và LN với độ chính xác 81,4%.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4683Kết quả tạo phôi từ noãn trữ đông bằng phương pháp thuỷ tinh hoá tại Bệnh viện Đa khoa Hà Nội2026-02-03T09:44:01+00:00Đoàn Phương Thảodoanthaompk42@gmail.comNguyễn Thị Thuýthuynt150294@gmail.comNguyễn Tiên PhongNguyenungphong@gmail.comBùi Thị Khánh Linhkhanhlinhlvt99@gmail.comNguyễn Khang Sơnkhangson@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện trên 203 phụ nữ có noãn được trữ đông bằng phương pháp thủy tinh hóa, rã đông và thụ tinh trong ống nghiệm với tổng số 1.623 noãn (gồm 573 noãn tươi và 1.050 noãn trữ đông) tại Trung tâm Hiếm muộn và Y học giới tính, Bệnh viện Đa khoa Hà Nội từ tháng 7/2023 đến tháng 7/2025. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết qủa tạo phôi từ noãn trữ đông và mối liên quan giữa tuổi người phụ nữ cũng như thời gian bảo quản noãn trong nitơ lỏng với hiệu quả và tính an toàn của noãn trữ đông. Kết quả cho thấy tỷ lệ noãn sống sau rã đông, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi phân cắt ngày 3, tỷ lệ phôi nang và tỷ lệ phôi nang hữu hiệu lần lượt là 96,31%, 85,39%, 85,58%, 56,27% và 35,75%. Ở nhóm bệnh nhân gom noãn, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi nang và tỷ lệ phôi nang hữu hiệu giữa noãn tươi và noãn trữ đông (p > 0,05); tuy nhiên, tỷ lệ tạo phôi phân cắt ngày 3 ở nhóm noãn tươi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm noãn trữ đông (p = 0,031). Không ghi nhận mối liên quan giữa tuổi người phụ nữ và thời gian bảo quản với tỷ lệ sống, tỷ lệ thụ tinh và khả năng tạo phôi của noãn sau đông – rã (p > 0,05). Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy trữ đông noãn bằng phương pháp thủy tinh hóa là kỹ thuật an toàn và hiệu quả.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4758Đặc điểm lâm sàng nếp quạt da mi góc trong của nhóm bệnh nhân phẫu thuật tại Bệnh viện Mắt Trung ương2026-02-13T03:22:42+00:00Nguyễn Ngân Hànguyennganha@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thanh Hảinguyenhaihmu125@gmail.comPhạm Hồng Vânvanaesthetic@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng của nếp quạt góc mắt trong ở 31 bệnh nhân (62 mắt) tại Bệnh viện Mắt Trung ương giai đoạn 10/2023 - 7/2025. Các bệnh nhân được đánh giá mức độ nếp quạt theo phân loại Taylor, đo độ dài khe mi, khoảng cách hai góc mắt trong, chức năng cơ nâng mi và ghi nhận các tổn thương phối hợp. Kết quả cho thấy nếp quạt mức độ trung bình và nặng chiếm đa số, trong đó nếp quạt độ 3 gặp nhiều nhất (51,6%). Độ dài khe mi trung bình giảm so với giá trị bình thường, trong khi khoảng cách hai góc mắt trong tăng, với tỷ lệ khoảng cách hai góc mắt trong/độ dài khe mi ≥ 1,4 chiếm ưu thế (77,4%). Các bất thường phối hợp thường gặp là nếp mí không đều hoặc không có, quặm mi và sụp mi. Mức độ nếp quạt có mối liên quan có ý nghĩa với độ dài khe mi và khoảng cách hai góc mắt trong. Kết quả góp phần cung cấp cơ sở cho đánh giá hình thái và định hướng điều trị nếp quạt góc mắt trong.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4760Đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình góc mắt trong bằng kỹ thuật Y-V điều trị nếp quạt da mi góc trong2026-02-11T03:15:52+00:00Nguyễn Ngân Hànguyennganha@hmu.edu.vnNguyễn Thị Thanh Hảinguyenhaihmu125@gmail.comPhạm Hồng Vânvanaesthetic@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng không có nhóm chứng được thực hiện trên 62 mắt được phẫu thuật tạo hình góc mắt trong bằng kỹ thuật Y-V trong điều trị nếp quạt da mi góc trong tại Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 10/2023 đến tháng 7/2025. Các chỉ số lâm sàng được đánh giá trước và sau phẫu thuật gồm mức độ nếp quạt, độ dài khe mi, khoảng cách hai góc mắt trong, tỷ lệ khoảng cách hai góc mắt trong/độ dài khe mi, độ lệch hai góc mắt. Kết quả cho thấy 96,8% số mắt hết nếp quạt ngay sau phẫu thuật và duy trì ổn định trong tháng đầu; sau 3 tháng, chỉ còn 12,9% tồn tại nếp quạt mức độ nhẹ. Độ dài khe mi tăng và khoảng cách hai góc mắt trong giảm có ý nghĩa thống kê, đồng thời tỷ lệ khoảng cách hai góc mắt trong/độ dài khe mi cải thiện rõ rệt. Phẫu thuật tạo hình góc mắt trong bằng kỹ thuật Y-V là phương pháp hiệu quả, mang lại cải thiện rõ rệt về chức năng và thẩm mỹ trong điều trị nếp quạt góc trong.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4810Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan đến thời gian chẩn đoán ở người bệnh viêm khớp dạng thấp chưa điều trị DMARDs năm 2024 - 20252026-02-06T06:42:42+00:00Nguyễn Ngọc Bíchnguyenngocbichnt36bm@gmail.comNguyễn Thị Ngọc Lanlannguyen@hmu.edu.vnTrịnh Thị Mỹ Địnhtrinhmydinh99@gmail.comĐỗ Thị Huyền Tranghuyentranghmu1016@gmail.comLê Trần Ngoanletranngoan@yahoo.comTrần Thị Thanh Tâmtran-thi-thanh.tam@usth.edu.vn<p class="p1"><em>Chẩn đoán sớm viêm khớp dạng thấp trước khi điều trị thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARDs) có vai trò quan trọng trong cải thiện tiên lượng và hiệu quả điều trị. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả trên 97 người bệnh viêm khớp dạng thấp được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2010, chưa điều trị DMARDs, nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến thời gian chẩn đoán. Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Cơ xương khớp - Bệnh viện Bạch Mai và Khoa Cơ Xương Khớp - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2025. Tuổi trung bình của người bệnh là 54,2 ± 13,2 (tuổi); nhóm tuổi 40 - 60 chiếm 49,5%, với tỷ lệ nữ/nam là 2,3/1. Tất cả người bệnh đều có biểu hiện đau và sưng khớp; trung vị số khớp đau là 6 (IQR: 2 - 12) và số khớp sưng là 12 (IQR: 6 - 18). Tỷ lệ RF và anti-CCP dương tính lần lượt là 91,8% và 83,5%. Nồng độ CRP trung bình đạt 29,5 ± 42,4 mg/L; 51,5% người bệnh có mức độ hoạt động bệnh cao theo DAS28-CRP. Thời gian chẩn đoán có trung vị 8 tháng và liên quan đến chỉ số khối cơ thể, trong đó người bệnh thừa cân có thời gian chẩn đoán dài hơn.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4669Đáp ứng điều trị thiếu máu bằng erythropoietin alfa và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đồng Nai 22026-02-02T02:00:09+00:00Đoàn Thị Hoàhoadoan200485@gmail.comNguyễn Như Nghĩannnghia@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Thiếu máu là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân thận mạn giai đoạn 5 lọc máu chu kỳ (BTMGĐ5). Nghiên cứu theo dõi trước-sau trên 120 người BTMGĐ5 lọc máu chu kỳ điều trị bằng erythropoietin alfa nhằm đánh giá thay đổi các chỉ số huyết học và các yếu tố liên quan đến đạt mục tiêu hemoglobin sau 3 tháng. Sau điều trị, hemoglobin tăng từ 9,90 ± 1,25 lên 10,80 ± 1,28 g/dL (p < 0,001), tỷ lệ đạt Hb ≥ 11 g/dL tăng từ 16,7% lên 45,8%. CRP trước điều trị có giá trị là 3,00 (5,00) mg/L, ferritin và độ bão hòa Transferrin lần lượt là 474,50 (336,77) ng/mL và TSAT 22,60 (14,30) %. Trong phân tích đa biến, albumin trước điều trị, đạt Kt/V ≥1,2 trước và sau 3 tháng liên quan độc lập với khả năng đạt mục tiêu Hb. Trong khi đó, ferritin và CRP không cho thấy mối liên quan độc lập rõ ràng với đáp ứng điều trị. Kết quả cho thấy hiệu quả lọc máu và tình trạng dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong kiểm soát thiếu máu ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4704Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đợt bùng phát viêm gan vi rút B tại khoa Bệnh nhiệt đới & can thiệp giảm hại, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội2026-03-06T03:38:11+00:00Nguyễn Quang Huyngquanghuy921@gmail.comTạ Thị Diệu Ngântapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Đợt bùng phát cấp tính nặng của viêm gan vi rút B có thể tiến triển tới suy gan dẫn tới tăng nguy cơ tử vong cho người bệnh. Nghiên cứu trên 50 bệnh nhân đợt bùng phát viêm gan vi rút B nhập viện tại khoa Bệnh nhiệt đới & Can thiệp giảm hại, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2022 tới tháng 6/2024, chúng tôi nhận thấy: tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 44,3 ± 11,4 tuổi, nam giới chiếm ưu thế với 84%. 18 bệnh nhân chiếm 36% lần đầu phát hiện vi rút viêm gan B, 14 bệnh nhân (43,75%) đã điều trị nhưng tự ý dừng thuốc. Mệt mỏi, chán ăn là 2 triệu chứng thường gặp nhất khi người bệnh nhập viện, chiếm tỷ lệ lần lượt là 92% và 82%. Giá trị GOT, GPT trung vị tại thời điểm nhập viện lần lượt là 641 U/l; 960 U/l. Nồng độ Bilirubin toàn phần ban đầu và mức độ giảm GPT sau 1 tuần điều trị có liên quan tới thời gian nằm viện. Đa số bệnh nhân có kết quả điều trị tốt và ra viện với 44 bệnh nhân chiếm 88%; 6 bệnh nhân tiến triển nặng trong quá trình điều trị và được chuyển viện, trong đó 2 bệnh nhân cần thay huyết tương.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4762Khảo sát một số biến chứng đường vào mạch máu ở người bệnh thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức2026-02-23T04:31:19+00:00Đào Thị Thùy Dươngduongdtn@gmail.comNguyễn Thế Cườngcuongicu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu trên 160 người bệnh thận nhân tạo chu kỳ ngoại trú tại Khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 3/2023 đến tháng 9/2023, nhằm khảo sát một số biến chứng đường vào mạch máu. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 51,2 ± 15,5; nam giới chiếm 53,8%, thời gian lọc máu trung vị là 59 tháng (dao động từ 2 đến 324 tháng). 90,6% sử dụng thông động - tĩnh mạch tự thân (AVF). Biến chứng ghi nhận gồm phình/giả phình đường vào mạch máu chiếm 24,4%; huyết khối chiếm 19,4%, viêm tại chỗ chiếm 13,1%, hẹp đường vào mạch máu là 7,3%, và hội chứng cướp máu động mạch chiếm 5,0%. Biến chứng gặp nhiều ở nhóm bệnh nhân sử dụng cầu nối động tĩnh mạch nhân tạo (AVG) và catheter. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa biến chứng viêm tại chỗ, hẹp mạch và huyết khối với loại đường vào mạch máu; đồng thời biến chứng phình/giả phình đường vào mạch máu có liên quan đến thời gian lọc máu trên 120 tháng (p < 0,01).</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4766Đặc điểm biến thể gen ATP7B ở người bệnh Wilson có biểu hiện suy gan cấp 2026-02-11T08:20:12+00:00Nguyễn Thị Mai Hươngnguyenmaihuong@nch.gov.vnNguyễn Phạm Anh Hoadranhhoa@nch.gov.vnHoàng Thị Vân Anhdrhunganh@gmail.comNguyễn Thị Phương Mainguyenphuongmai@nch.gov.vnNgô Diễm Ngọcngodiemngoc@nch.gov.vnNguyễn Thuỳ Trangthuytrangnguyen@nch.gov.vnNgô Mạnh Tiếnmanhtien181@gmail.comTrịnh Thị Thuỷbsthuya7@gmail.comNguyễn Tiến Dũngdunga9bm@gmail.comNguyễn Mạnh Chiếnchiennguyenbk@gmail.comLê Quang Thuậnlequanthuanbm@gmail.comTrần Minh Điểndientm@nch.gov.vn<p class="p1"><span class="s1"><em>Suy gan cấp trên nền bệnh Wilson (ALF-WD) là biểu hiện hiếm gặp nhưng có tỷ lệ tử vong cao. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm các biến thể gen ATP7B ở người bệnh Wilson có biểu hiện suy gan cấp. Nghiên cứu được thực hiện trên 46 trường hợp ALF-WD, sử dụng phương pháp giải trình tự gen Sanger; các biến thể được phân tích theo tiêu chuẩn ACMG/AMP. Kết quả cho thấy 67,39% người bệnh mang kiểu gen dị hợp tử phức và 32,61% mang kiểu gen đồng hợp tử; tổng cộng phát hiện 29 biến thể gen ATP7B. Biến thể p.Ser105Ter là biến thể thường gặp nhất, tiếp đến là các biến thể p.Leu1371Pro, p.Ile1148Thr, p.Thr850Ile và p.Arg778Leu. Exon 2 và exon 20 được xác định là các vùng “hot spot”, đặc biệt ở người bệnh dưới 18 tuổi. Việc nhận diện các biến thể thường gặp và vùng “hot spot” góp phần định hướng xây dựng chiến lược sàng lọc biến thể gen ATP7B nhanh chóng và hiệu quả trong bối cảnh cấp cứu suy gan cấp, hỗ trợ chẩn đoán sớm, lựa chọn điều trị phù hợp và cải thiện tiên lượng cho người bệnh.</em></span></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4849Đánh giá ảnh hưởng của thuỷ tinh hoá noãn đến kết quả phôi tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh2026-02-23T08:10:06+00:00Nguyễn Thị Liên HươngHuongntl@tamanhhospital.vnPhí Thị Tú AnhAnhptt@tamanhhospital.vnNguyễn Thị Mếnmennguyenhmu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên 5181 chu kỳ IVF-ICSI tự thân tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản - Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2025 nhằm đánh giá ảnh hưởng của thuỷ tinh hoá noãn tự thân đến kết quả thụ tinh và phát triển phôi. Sau ghép cặp theo điểm xu hướng, quần thể phân tích gồm 285 chu kỳ (57 chu kỳ noãn đông thuỷ tinh hoá, 228 chu kỳ noãn tươi) với các đặc điểm nền tương đồng. Tỷ lệ thụ tinh không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Tuy nhiên, noãn đông thuỷ tinh hoá có liên quan đến giảm khả năng hình thành phôi ngày 3, phôi tốt ngày 3, phôi nang và phôi nang ngày 5. Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phôi nang chất lượng tốt và phôi nang ngày 6 - 7. Thuỷ tinh hoá noãn không làm giảm tỷ lệ thụ tinh sau ICSI, nhưng liên quan đến giảm khả năng phát triển phôi giai đoạn sớm và hình thành phôi nang ngày 5, trong khi chất lượng phôi nang tương đương với noãn tươi.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4771Mô tả thành phần cơ thể bằng phương pháp điện trở kháng sinh học ở người bệnh ICU nuôi dưỡng qua ống thông tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 20252026-01-23T09:52:12+00:00Nguyễn Thùy Linhlinhngthuy@hmu.edu.vnPhạm Thị Tuyết Chinhphamchinh0708@gmail.comTạ Thanh Ngathanhngahmuh@gmail.comNguyễn Thị Minh Tâmminhtamhmu@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang mô tả thành phần cơ thể bằng phương pháp điện trở kháng sinh học của người bệnh tại khoa ICU ngày thứ 8 nuôi dưỡng qua ống thông. Kết quả nghiên cứu trên 36 người bệnh ICU cho thấy: Góc pha trung bình là 4,2 ± 1,2, lượng nước nội bào trung bình đạt 16,8 ± 2,9 L; protein trung bình là 7,3 ± 1,2 kg, khối nạc mềm không xương đạt 35,8 ± 6,1 kg, trong khi đó, khối không chứa mỡ là 37,9 ± 6,4 kg. Nam giới thường sở hữu khối cơ, khối nạc và thể tích dịch lớn hơn, trong khi nữ giới lại ghi nhận giá trị góc pha trung bình cao hơn (p > 0,05). Hiện tượng mất cơ ở ngày điều trị thứ 8 gặp cả ở nhóm người bệnh đáp ứng đầy đủ năng lượng và protein cũng như ở nhóm chưa được nuôi dưỡng đầy đủ theo nhu cầu khuyến nghị của ESPEN. Tuy nhiên, việc theo dõi các chỉ số BIA là cần thiết để cá thể hóa chế độ dinh dưỡng và tối ưu hóa quá trình điều trị lâm sàng.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4909Khoảng cách từ chóp chân răng cối lớn đến sàn xoang hàm trên trên phim CBCT (cone-beam computed tomography) và mối liên quan với tuổi, giới2026-03-11T03:24:42+00:00Trần Nguyên Minhtrannguyenminh142@gmail.comNguyễn Thị Nguyệtnguyetthptmda@gmail.comNguyễn Thị Tuyết Nhungtuyetnhung123.ptbs@gmail.comNguyễn Thị Thu Hươngthuhuongnguyen@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu xác định khoảng cách từ chóp chân răng cối lớn hàm trên đến sàn xoang hàm trên trên phim CBCT và đánh giá mối liên quan với tuổi và giới. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 40 bệnh nhân (nam 55,0%; nữ 45,0%) có đủ bốn răng cối lớn hàm trên (16, 17, 26, 27), thu từ 69 hồ sơ, sau loại trừ còn 40 đủ tiêu chuẩn. Theo dữ liệu, nhóm < 35 tuổi gồm 21 bệnh nhân (52,5%) và nhóm ≥ 35 tuổi gồm 19 bệnh nhân (47,5%). Tổng cộng 480 phép đo (12 phép đo/bệnh nhân: chân MB, DB, P của các răng 16, 17, 26, 27). Khoảng cách vuông góc từ chóp chân răng đến điểm gần nhất của sàn xoang được đo trên CBCT bằng InVivo5/Romexis. Phân tích bằng mô hình hỗn hợp tuyến tính (hiệu chỉnh theo giới/tuổi; bệnh nhân là hiệu ứng ngẫu nhiên), ngưỡng ý nghĩa p < 0,05. Kết quả: Khoảng cách chóp-sàn xoang thay đổi theo vị trí chân răng. Ở cả R6 và R7, chân MB gần sàn xoang nhất (R6: 0,33 ± 1,52 mm; R7: 0,52 ± 1,23 mm), trong khi chân P xa nhất (R6: 1,75 ± 1,11 mm; R7: 1,99 ± 1,15 mm). So sánh theo tuổi cho thấy nhóm ≥ 35 tuổi có khoảng cách ngắn hơn có ý nghĩa tại chân MB của răng cối lớn thứ hai (R7) (β = −0,71 mm; 95% CI: −1,27 đến −0,15; p = 0,013); các vị trí khác không khác biệt có ý nghĩa. Không ghi nhận khác biệt theo giới ở tất cả các vị trí (p > 0,05). Như vậy, khoảng cách chóp chân răng-sàn xoang phụ thuộc vị trí chân răng, trong đó chân MB là vị trí gần sàn xoang nhất. Tuổi liên quan đến giảm khoảng cách tại chân MB răng cối lớn thứ hai, còn giới tính không ảnh hưởng đáng kể. CBCT có giá trị trong đánh giá nguy cơ và lập kế hoạch can thiệp vùng răng sau hàm trên.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4727Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn sử dụng tinh trùng thu từ mào tinh và mô tinh hoàn2026-02-23T08:25:45+00:00Nguyễn Vũ Hàmr.nguyenvuha@gmail.comVũ Văn Thànhmikemuoi25@gmail.comNguyễn Thị Thu Thủynguyenchi87211@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa tinh trùng thu từ mào tinh (PESA) ở bệnh nhân vô tinh do tắc nghẽn và vi phẫu tinh hoàn (micro-TESE) ở bệnh nhân vô tinh không do tắc nghẽn trong thụ tinh ống nghiệm. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 69 chu kỳ ICSI tại Bệnh viện ĐKQT Vinmec Times City từ 01/2021 đến 12/2024. Đối tượng gồm hai nhóm: PESA (n = 49) và micro-TESE (n = 20). Các chỉ số chính gồm tỷ lệ thụ tinh (FR), tỷ lệ phôi tốt ngày 3 và tỷ lệ trẻ sinh sống (LBR). Tỷ lệ thụ tinh ở nhóm PESA cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm micro-TESE (88,2% so với 79,8%, p < 0,05). Tuy nhiên, chất lượng phôi tốt ngày 3 tương đương giữa hai nhóm (54,6% so với 51,7%, p > 0,05). Kết quả lâm sàng cho thấy tỷ lệ trẻ sinh sống ở nhóm micro-TESE đạt 30,0%, không khác biệt có ý nghĩa so với nhóm PESA (34,7%, p > 0,05). Mặc dù tinh trùng từ micro-TESE có tỷ lệ thụ tinh thấp hơn, nhưng chất lượng phôi và tỷ lệ trẻ sinh sống sau cùng tương đương với nhóm PESA. Micro-TESE là phương pháp hiệu quả, mang lại tiên lượng tốt cho bệnh nhân vô tinh không do tắc nghẽn. </em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4752Lựa chọn hình dạng răng trước hàm trên của người trưởng thành trẻ tuổi khi thiết kế thẩm mỹ tại Hà Nội năm 20252026-01-30T01:14:58+00:00Trương Đình Khởibskhoirhm@gmail.comPhan Thị Bích Hạnhphanbichhanh91@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định quan điểm lựa chọn hình dạng răng trước hàm trên khi thiết kế thẩm mỹ ở người trưởng thành trẻ tuổi tại Hà Nội. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 535 sinh viên Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2025, chia thành hai nhóm sinh viên: năm 1 - 2 và năm 5 - 6. Chấm điểm từng ảnh thiết kế theo thang đo VAS0-10, bằng khảo sát trực tuyến có hình ảnh từ thư viện thiết kế phần mềm Exocad. Kết quả cho thấy lựa chọn hình dạng răng trước hàm trên khi thiết kế thẩm mỹ nụ cười có sự khác biệt giữa nam và nữ, giữa nhóm sinh viên với kiến thức nền về thẩm mỹ khác nhau. Hình dạng răng cửa giữa và độ nhô, độ cao của đỉnh răng nanh hàm trên có vai trò quyết định đến lựa chọn thẩm mỹ khung nhìn tổng thể khi thiết kế nụ cười. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học làm cơ sở, tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu về quan điểm thẩm mỹ, từ đó ứng dụng trong việc thiết kế nụ cười mang lại hiệu quả tối đa thẩm mỹ.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4871Đánh giá giá trị chẩn đoán của hsa-miR-1203 lưu hành trong ung thư tuyến tiền liệt bằng các phương pháp học máy2026-03-10T01:40:57+00:00Nguyễn Tú Anhnguyentuanh@ump.edu.vnDương Thị Kim Chidtkchi.d21@ump.edu.vnLê Thị Thanh Thảolethithanhthao@ump.edu.vnĐỗ Mai Xuân Diệudmxdieu@ump.edu.vnQuang Trọng Minhqtminh@ump.edu.vn<p class="p1"><em>Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở nam giới, trong đó việc tìm kiếm dấu ấn sinh học tuần hoàn có giá trị chẩn đoán vẫn là nhu cầu cấp thiết. Nghiên cứu này nhằm đánh giá giá trị của hsa-miR-1203 trong việc hỗ trợ phân biệt bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt và nhóm không ung thư bằng mô hình học máy. Dữ liệu biểu hiện microRNA được khai thác từ bộ GSE211692 trên cơ sở dữ liệu Gene Expression Omnibus, gồm 1027 mẫu huyết thanh bệnh nhân ung thư và 5893 mẫu không ung thư. Sau tiền xử lý và chuyển đổi log<sub>2</sub>, dữ liệu được chia thành tập huấn luyện (70%) và tập kiểm định nội bộ (30%) theo phương pháp phân tầng. Hsa-miR-1203 giảm biểu hiện rõ rệt ở nhóm ung thư (log<sub>2</sub>FC = −3,77; p < 0,001). Các mô hình Extra Trees, Support Vector Machine, AdaBoost và Gaussian Naive Bayes cho hiệu năng phân loại cao trên tập kiểm định với diện tích dưới đường cong ROC xấp xỉ 0,98. Kết quả gợi ý hsa-miR-1203 có tiềm năng trở thành dấu ấn sinh học tuần hoàn hỗ trợ chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4625Thẩm định quy trình giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) nhắm đích gen CPT1A trên mẫu máu khô của bệnh nhi nghi ngờ thiếu hụt carnitine palmitoyltransferase 1A tại Việt Nam2026-01-16T02:09:56+00:00Tạ Văn Thạotavanthao@hmu.edu.vnTrần Thị Chi Maitranchimai@hmu.edu.vnĐặng Thị Thanh Maithanhmaibvcc@gmail.com<p class="p1"><em>Thiếu hụt carnitine palmitoyltransferase 1A (CPT1A deficiency) là rối loạn oxy hóa acid béo bẩm sinh hiếm gặp, đặc trưng bởi tăng carnitine tự do (C0) và giảm acylcarnitine chuỗi dài (C16, C18). Nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) nhắm đích trên gen CPT1A và xác định đột biến gây bệnh ở bệnh nhi có kết quả sàng lọc sơ sinh nghi ngờ. Hai mươi mốt cặp mồi bao phủ toàn bộ vùng mã hóa của gen CPT1A được thiết kế và thẩm định. Phản ứng PCR được thực hiện trên mẫu máu khô và mẫu chứng, sau đó tiến hành giải trình tự trên nền tảng DNBSEQ-G200. Kết quả NGS đạt chất lượng vượt chuẩn lâm sàng với %Q30 = 84,5%, tổng số đọc 14,65 triệu, tỷ lệ trùng lặp 9,8%, độ sâu trung bình 127,77 - 6.932,05× và độ bao phủ ≥ 20× đạt 100%. Trên mẫu bệnh nhi nghi ngờ phát hiện 9 biến thể dị hợp tử, tất cả đều được phân loại là lành tính theo ClinVar và gnomAD. Mặc dù hồ sơ acylcarnitine gợi ý mạnh thiếu hụt CPT1A, nghiên cứu chưa ghi nhận biến thể gây bệnh, cho thấy sự cần thiết phải kết hợp đa phương pháp và mở rộng nghiên cứu trên quần thể lớn hơn.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4809Đặc điểm rối loạn chức năng tuyến giáp và kết cục thai kỳ ở thai phụ nhập viện sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương2026-01-30T08:07:18+00:00Huỳnh Thị ThuỷBshuynhthuy@gmail.comTrần Khánh Ngatknga@ctump.edu.vn<p class="p1"><em>Rối loạn chức năng tuyến giáp là vấn đề nội tiết thường gặp thứ hai ở phụ nữ mang thai, có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến mẹ và thai nhi đặc biệt là trong tam cá nguyệt thứ ba nói chung và trước chuyển dạ nói riêng. Do đó, nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 53 thai phụ được chẩn đoán rối loạn chức năng tuyến giáp nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, nồng độ hormone giáp, thể lâm sàng và đánh giá kết cục thai kỳ ở thai phụ nhập viện sinh có rối loạn chức năng tuyến giáp. Kết quả cho thấy cường giáp chiếm ưu thế với thể lâm sàng (49,1%) và thể dưới lâm sàng (30,2%). Suy giáp lâm sàng và dưới lâm sàng lần lượt chiếm 5,7% và 3,8%, trong khi 11,3% có giảm FT4 đơn độc. Triệu chứng cường giáp thường gặp nhất là mạch nhanh (71,4%) và run tay (59,5%). Suy giáp ít biểu hiện hơn, chủ yếu là táo bón (63,6%). Không ghi nhận băng huyết sau sinh hay tử vong mẹ và trẻ. Tuy nhiên, nhóm cường giáp có xu hướng gặp sinh non và biến chứng hậu sản cao hơn. Tóm lại, rối loạn chức năng tuyến giáp thai kỳ chủ yếu ở dạng cường giáp, cần tăng cường tầm soát dựa trên lâm sàng kết hợp xét nghiệm để điều trị kịp thời.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4790Học thuyết comfort của kolcaba trong chăm sóc giảm nhẹ người bệnh ung thư: Phân tích và tích hợp với hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam2026-02-04T02:13:57+00:00Đỗ Thị Hàdohabhv@gmail.comTrần Thị Hồng Gấmhonggam130491@gmail.com<p class="p1"><em>Chăm sóc giảm nhẹ có vai trò quan trọng trong chăm sóc toàn diện người bệnh ung thư, nhằm giảm nhẹ đau khổ và nâng cao chất lượng sống trong suốt quá trình diễn tiến của bệnh. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư, định hướng thực hành chăm sóc toàn diện và nhấn mạnh vai trò của điều dưỡng. Bài viết nhằm phân tích và đối sánh học thuyết Comfort của Kolcaba với Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ của Bộ Y tế Việt Nam, qua đó làm rõ sự phù hợp và khả năng tích hợp học thuyết này trong thực hành điều dưỡng. Phương pháp nghiên cứu là tổng quan và phân tích tài liệu liên quan đến học thuyết Comfort, các hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ của Bộ Y tế và các khuyến nghị quốc tế; nội dung được đối sánh theo các lĩnh vực chăm sóc chính. Kết quả cho thấy học thuyết Comfort có sự tương thích với định hướng chăm sóc giảm nhẹ tại Việt Nam, hỗ trợ điều dưỡng hệ thống hóa các hoạt động chăm sóc, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và mở ra triển vọng ứng dụng trong đào tạo và nghiên cứu điều dưỡng.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4791Phân bố type HPV và yếu tố liên quan ở phụ nữ có xét nghiệm HPV-DNA dương tính tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2 năm 20252026-03-10T02:06:48+00:00Nguyễn Hữu Trungtrung.nh2@umc.edu.vnNguyễn Thị Minh Hiếuhieu.ntm1@umc.edu.vnNguyễn Thị Nhật Phượngphuong.ntn1@umc.edu.vnHứa Kim Tuyếntuyen.hk@umc.edu.vnBùi Thị Kim Thảothao.btk@umc.edu.vnLê Hữu Thuỳ Trangtrang.lht@umc.edu.vnHồ Trần Lộc Hoàakirasatou25678@gmail.comNguyễn Thanh Trầmnguyenthanhtram@ump.edu.vnNguyễn Thiện Minhminhnt@ump.edu.vnTrần Thị Thanh LoanTtthanhloan@ump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu tiến hành trên 390 phụ nữ dương tính HPV-DNA tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - Cơ sở 2 năm 2025 nhằm khảo sát phân bố các type HPV và các yếu tố có liên quan. Tỷ lệ nhiễm type HPV-52 (39,0%), HPV-16 (22,3%) và HPV-58 (21,3%). Nhiễm đồng thời từ 2 chủng virus trở lên là 35,1%. Tỷ lệ chưa được tiêm phòng HPV là 77,2%. Tỷ lệ chưa được tiêm phòng HPV trong quần thể nghiên cứu chiếm mức cao (77,2%), trong khi các yếu tố nhân khẩu học và tiền sử tiêm chủng chưa thể hiện mối liên quan bảo vệ có ý nghĩa thống kê do giới hạn về cỡ mẫu. Các yếu tố khác như tình trạng hôn nhân hay việc hoàn tất 3 mũi vaccine chưa thể hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này. Tần suất cao của các type HPV khác ngoài 16/18, từ đó đề xuất xem xét áp dụng phương pháp sàng lọc xác định type HPV đa dạng hơn phù hợp với đặc điểm dịch tễ địa phương.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4856Hiệu quả hỗ trợ điều trị của viên nén bổ khí thông huyết BVP trên người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới2026-03-04T06:37:11+00:00Cung Minh Thiêncungthien99@gmail.comNguyễn Thị Thanh Túthanhtu@hmu.edu.vnTạ Đăng Quangtadangquang@hmu.edu.vnVũ Thị Ánh TuyếtVuanhtuyet269@gmail.comNgô Thị Lan HươngNgolanhuong150282@gmail.comTrần Thị Thu Trangtranthithutrangyhcthn@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của viên nén “Bổ khí thông huyết BVP” trên người bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, so sánh trước - sau có đối chứng. 60 bệnh nhân có phân độ CEAP từ C1 đến C3, được chia làm 2 nhóm. Nhóm nghiên cứu được dùng Bổ khí thông huyết BVP và Venokern 500 mg (Diosmin 450 mg; Hesperidin 50 mg); nhóm chứng dùng Venokern 500 mg. Sau 30 ngày điều trị, nhóm nghiên cứu cải thiện triệu chứng tức nặng chi, rối loạn cảm giác (p < 0,05) và chuột rút (p < 0,01), giảm cảm giác đau theo thang điểm VAS (p < 0,01). Đồng thời, phân độ CEAP được cải thiện, điểm VCSS và CIVIQ - 20 giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị (p < 0,01). Thời gian trào ngược trung bình tại tĩnh mạch đùi và tĩnh mạch hiển lớn trên siêu âm Doppler giảm so với trước điều trị (p < 0,05). </em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4834Hiệu quả điều trị bước một ung thư biểu mô tế bào gan bằng phác đồ Atezolizumab-bevacizumab2026-02-23T08:12:47+00:00Nguyễn Thị Dùngdungnt@bvubhn.vnBùi Vinh Quangquangbv@bvubhn.vnVũ Hồng Thăngvuhongthang@hmu.edu.vnNguyễn Huy Bìnhnguyenhuybinh@hmu.edu.vnTrương Thu Hiềndrhienqy@gmail.com<p class="p1"><em>Ung thư biểu mô tế bào gan là một loại ung thư phổ biến với nhiều cơ hội điều trị ở giai đoạn tiến triển trong những năm gần đây. Phác đồ Atezolizumab-Bevacizumab đã được FDA phê duyệt và được sử dụng tại Việt Nam từ năm 2020. Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 115 bệnh nhân HCC tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện K từ tháng 5/2020 đến tháng 8/2024. Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng khách quan là 27,7%; tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) là 67,8%. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ đáp ứng lâm sàng (DCR): ECOG, phân loại Child-Pugh, nồng độ AFP, vị trí khối u gan, phân loại huyết khối tĩnh mạch cửa, tình trạng di căn xa. Do đó, phác đồ Atezolizumab-Bevacizumab được sử dụng làm phương pháp điều trị bước một cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan không thể phẫu thuật với tỷ lệ đáp ứng và tỷ lệ kiểm soát bệnh cao trong thực tiễn lâm sàng.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4799Thực trạng mổ lấy thai lần đầu tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông2026-02-09T03:56:55+00:00Vũ Đình Namnambmsandhydtn@gmail.comĐặng Thị Minh NguyệtDr.dangminhnguyet@gmail.comĐào Thị Hoadrdaothihoapstw@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sản khoa trên 572 thai phụ mổ lấy thai lần đầu tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông trong năm 2024. Kết quả cho thấy nhóm tuổi 20 - 35 chiếm chủ yếu (80,6%). Thể trạng sản phụ có chiều cao trung bình 156,5 ± 4,2 cm, BMI trung bình 25,4 ± 2,8 kg/m<sup>2</sup>, với 75,1% thuộc nhóm thừa cân và béo phì. Tỷ lệ con so chiếm 61,8%, đơn thai 98,3%. Đa số sản phụ trước mổ đã chuyển dạ (95,1%), trong đó ối vỡ xanh chiếm ưu thế (57,7%). Đặc điểm thai phụ mổ lấy thai lần đầu nổi bật gồm thai to ≥ 3500g (31,5%), ngôi bất thường (9,6%) và thiểu ối (4,5%). Về kết quả sản khoa, tai biến mẹ thường gặp là chảy máu (3,7%) và tai biến phẫu thuật (2,1%), nhiễm trùng (1,9%). Đối với sơ sinh, 98,5% trẻ có chỉ số Apgar 5 phút ≥ 7 điểm; tỷ lệ suy hô hấp chiếm 2,6%, trẻ nhẹ cân 4,1% và trẻ ngạt 1,5%. Nghiên cứu kết luận mổ lấy thai lần đầu liên quan mật thiết đến tình trạng ối vỡ xanh, BMI cao và thai to. Kết quả khẳng định tính an toàn của can thiệp phẫu thuật, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát cân nặng thai kỳ và giám sát chỉ định bằng phân loại Robson.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4778Một số yếu tố liên quan đến Sarcopenia ở người bệnh cao tuổi thoái hóa khớp gối nguyên phát2026-01-27T02:50:43+00:00Vũ Thị Huyềnhuyenvu27996@gmail.comNguyễn Ngọc Tâmngoctam@hmu.edu.vnĐinh Thị Hườngthocong3beast@gmail.comNguyễn Trung Anhtrunganhvlk@gmail.com<p class="p1"><em>Sarcopenia và thoái hóa khớp gối là hai rối loạn thường gặp hệ cơ xương khớp, liên quan đến nhiều biến cố bất lợi về sức khỏe, suy giảm chức năng thể chất, tàn phế, tăng tỉ lệ nhập viện và tử vong. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên 221 người bệnh cao tuổi thoái hóa khớp gối nguyên phát nhằm tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sarcopenia ở nhóm đối tượng trên. Tiêu chuẩn chẩn đoán thoái hóa khớp gối áp dụng theo Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (1987) và sarcopenia được xác định theo hướng dẫn của Hiệp hội Sarcopenia châu Á (2019). Nhóm đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 72,80 ± 8,13 (năm), trong đó tỉ lệ nam/nữ là xấp xỉ 1/6. Kết quả cho thấy tuổi, loãng xương, suy dinh dưỡng là các yếu tố liên quan độc lập của sarcopenia (p < 0,05). Kết luận: tuổi cao, loãng xương và suy dinh dưỡng có liên quan đến sự xuất hiện của sarcopenia ở nhóm người bệnh cao tuổi thoái hóa khớp gối nguyên phát. Do đó, cần thực hiện sàng lọc sớm sarcopenia cho nhóm đối tượng có các đặc điểm trên.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4783Ảnh hưởng của Domuvar (Bacillus subtilis THC1I) lên nhu động ruột trên động vật thực nghiệm2026-02-02T02:15:36+00:00Đinh Thị Thu Hằngdinhthuhang@hmu.edu.vnPhạm Thị Vân Anhphamvananh@hmu.edu.vnHồ Thị Thanh Xuânthanhxuan.exp@cpc1hn.vnĐàm Đình Tranhdamdinhtranh@hmu.edu.vnĐậu Thùy Dươngdauthuyduong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Domuvar là một sản phẩm probiotic với thành phần chính là Bacillus subtilis THC1I. Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác động của Domuvar lên nhu động ruột trong mô hình ruột thỏ cô lập và mô hình đánh giá độ di động của than hoạt trên chuột nhắt trắng. Ruột thỏ cô lập được chia thành 3 lô dùng Enterogermina, Domuvar nồng độ 4 x 10<sup>7</sup> CFU/mL Tyrod và Domuvar nồng độ 8 x 10<sup>7</sup> CFU/mL Tyrod, tiến hành đánh giá tần số và biên độ co bóp ruột thỏ cô lập. Trên chuột nhắt trắng, độ di động của than hoạt được so sánh giữa các lô sau khi uống nước cất, Enterogermina, Domuvar liều 0,82 x 10<sup>9</sup> CFU/kg hoặc 1,64 x 10<sup>9</sup> CFU/kg. Kết quả nghiên cứu cho thấy Domuvar có tác dụng làm giảm nhu động ruột trên cả 2 mô hình thực nghiệm với tác dụng phụ thuộc liều. Do vậy, Domuvar (Bacillus subtilis THC1I) có thể trở thành một liệu pháp tiềm năng trong hỗ trợ điều trị các tình trạng làm tăng nhu động ruột như tiêu chảy trên lâm sàng. </em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4807Nghiên cứu độc tính cấp, bán trường diễn của dạ dày Phương Đông trên thực nghiệm2026-01-30T07:43:20+00:00Nguyễn Việt Tiếnnguyenviettien@hmu.edu.vnVũ Phương Ngọcngock19476@gmail.comTrần Quỳnh Trangtranquynhtrang@hmu.edu.vnPhạm Thị Vân Anhphamvananh@hmu.edu.vnLê Thị PhươngBs.yhct.Lephuong@gmail.comĐậu Thuỳ Dươngdauthuyduong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Dạ dày Phương Đông là một sản phẩm phối hợp các dược liệu với mục đích điều trị các bệnh lý viêm loét dạ dày, trào ngược dạ dày thực quản. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của Dạ dày Phương Đông trên thực nghiệm. Độc tính cấp được đánh giá trên chuột nhắt trắng chủng Swiss bằng cách cho chuột uống liều tăng dần để xác định liều thấp nhất gây chết 100% chuột và liều cao nhất không gây chết chuột. Độc tính bán trường diễn được đánh giá trên chuột cống trắng chủng Wistar với liều 0,48 viên (liều tương đương liều dự kiến trên lâm sàng) và 1,44 viên/kg/ngày (liều gấp 3 lần liều tương đương liều dự kiến lâm sàng) trong 4 tuần liên tục. Kết quả cho thấy Dạ dày Phương Đông ở liều 50 viên/kg không gây chết và không gây bất kỳ dấu hiệu bất thường nào trên chuột nhắt trắng; ở liều 0,48 viên và 1,44 viên/kg không ảnh hưởng đến tình trạng chung, cân nặng của chuột, các chỉ số huyết học, sinh hóa và hình thái vi thể gan, thận chuột cống trắng. Như vậy, Dạ dày Phương Đông không gây độc tính cấp và bán trường diễn khi dùng theo đường uống ở các liều thử nghiệm.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4748Tác dụng phục hồi của S- men trên chuột nhắt gây suy giảm sinh sản bằng Natri Valproat2026-02-05T07:46:30+00:00Trần Thanh Tùngtranthanhtung@hmu.edu.vnNguyễn Chí Dũngnguyenchidung@hmu.edu.vnMai Phương Thanhmaiphuongthanh.ump@vnu.edu.vnNguyễn Thành Trítringuyen.221200@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng phục hồi chức năng sinh sản của chế phẩm S-Men trên chuột nhắt đực trưởng thành bị gây suy giảm sinh sản bằng natri valproat (NVP) đường uống liều 500 mg/kg/ngày trong 5 tuần liên tiếp. Sau khi gây mô hình, chuột được cho uống S-Men liều 1096 mg/kg/ngày và 2192 mg/kg/ngày trong 14 ngày liên tục. Các chỉ tiêu đánh giá gồm trọng lượng cơ quan sinh dục đực, nồng độ testosteron huyết thanh, số lượng và chất lượng tinh trùng, chỉ số stress oxy hóa và hình thái mô học tinh hoàn. Kết quả cho thấy S-Men ở liều 2192 mg/kg/ngày có tác dụng phục hồi rõ rệt các rối loạn sinh sản do natri valproat gây ra, thể hiện qua việc phục hồi trọng lượng các cơ quan sinh dục, tăng nồng độ testosteron, cải thiện số lượng và hình thái tinh trùng, tăng khả năng chống oxy hóa và giảm mức độ tổn thương trên hình ảnh mô học tinh hoàn. Ở chuột cái ghép cặp, tỷ lệ mang thai và sự phát triển của chuột con không khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm. Qua đây, S-Men cho thấy tác dụng phục hồi chức năng sinh sản rõ rệt ở chuột nhắt đực bị suy giảm do natri valproat, với hiệu quả tốt hơn ở liều 2192 mg/kg/ngày.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4862Mô hình bệnh tật của người bệnh dị ứng điều trị nội trú tại khoa dị ứng, miễn dịch và da liễu, Bệnh viện E từ năm 2020 - 20252026-03-02T04:31:58+00:00Bùi Văn Dânbuivandan@hmu.edu.vnNguyễn Lê Hàdoctorha1990@gmail.comPhạm Thị Huyềnphamhuyen.hmu.qn@gmail.com<p class="p1"><em>Khảo sát mô hình bệnh tật đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh giá năng lực thu dung và định hướng chiến lược phát triển chuyên môn. Nghiên cứu hồi cứu mô tả được tiến hành trên 3.029 hồ sơ bệnh án nhằm phân tích đặc điểm và cơ cấu các bệnh lý dị ứng ở nhóm đối tượng điều trị nội trú tại Khoa Dị ứng, Miễn dịch và Da liễu, Bệnh viện E trong 5 năm (06/2020 - 05/2025). Kết quả cho thấy nữ giới chiếm ưu thế với tỷ lệ 58,57%. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 47,36 ± 22,06 trong đó nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (35,99%). Xu hướng nhập viện và tổng số ngày giường điều trị gia tăng qua các năm (đặc biệt sau đại dịch COVID-19), đi kèm với sự gia tăng tỷ trọng người bệnh ngoại tỉnh từ 11,61% lên 31,25% (p < 0,001). Về cơ cấu bệnh tật, mày đay và phù mạch là chẩn đoán phổ biến nhất (40,31%), tiếp theo là dị ứng chậm (16,21%). Kết quả điều trị cho thấy 99,77% người bệnh thuyên giảm khi ra viện. Số lượng người bệnh mày đay, phù mạch nội trú gia tăng vào mùa hè và thu trong khi đối với hen phế quản và dị ứng kháng sinh, mùa xuân là thời điểm nhập viện cao điểm (p < 0,05). Phân tích hồi quy đa biến ghi nhận tuổi, dị ứng chậm (IRR = 1,84), dị ứng kháng sinh (IRR = 1,71), hen phế quản (IRR = 1,40) và viêm da cơ địa (IRR = 1,35) là các yếu tố độc lập làm kéo dài thời gian nằm viện (p < 0,05).</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4801Nhận định môi trường học tập của sinh viên điều dưỡng phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2023 - 2024 và một số yếu tố liên quan2026-02-03T06:36:45+00:00Đoàn Hoàng AnhDoanhoanganh@hmu.edu.vnTrương Quang Trungtruongtrung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Hiện nay, trên toàn thế giới thiếu hụt đến 5,9 triệu Điều dưỡng trong đó có khu vực Đông Nam Á, các quốc gia đang thiếu hụt cần đặt mục tiêu sinh viên điều dưỡng tốt nghiệp hướng tới duy trì lực lượng điều dưỡng chuyên nghiệp để tránh thiếu hụt nhân lực. Môi trường học tập của sinh viên Điều dưỡng đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong tương lai. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 193 sinh viên Điều dưỡng tại Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội thông qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nhằm nhận định môi trường học tập. Kết quả cho thấy đối tượng nghiên cứu nhận định môi trường học tập ở mức độ cao. Lĩnh vực giảng viên được đánh giá cao nhất cùng với các lĩnh vực giảng dạy, việc học và hoạt động xã hội đều đạt kết quả tích cực cho thấy mô hình đào tạo lấy sinh viên làm trung tâm hiệu quả. Nhận định môi trường học tập cũng cho kết quả có sự khác biệt theo năm học, sinh viên năm thứ tư có nhận định thấp hơn sinh viên năm thứ hai và năm thứ ba, phản ánh tác động của chương trình đào tạo theo từng giai đoạn. </em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4802Nhận định sự hài lòng trong học tập của sinh viên điều dưỡng phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2023 - 2024 và một số yếu tố liên quan2026-02-03T06:39:28+00:00Đoàn Hoàng AnhDoanhoanganh@hmu.edu.vnTrương Quang Trungtruongtrung@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Sự hài lòng trong học tập của sinh viên Điều dưỡng là một thành phần quan trọng đảm bảo chất lượng học tập và quyết định sự thành công của khóa học. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 193 sinh viên Điều dưỡng năm thứ hai đến năm thứ tư tại Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội, thông qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nhằm nhận định sự hài lòng trong học tập của sinh viên Điều dưỡng. Kết quả cho thấy sinh viên nhận định sự hài lòng ở mức độ cao với giá trị trung bình là 141,71 ± 15,60 (chiếm 73,80% điểm tối đa) theo thang điểm UNSASS, đặc biệt cao nhất trong lĩnh vực thiết kế và phân phối chương trình. Năm học được xác định là yếu tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Điều dưỡng, trong đó sinh viên năm thứ tư có sự hài lòng thấp hơn năm thứ hai và năm thứ ba.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4788Kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống lao của người dân tại một số xã ở huyện Đại Từ, Thái Nguyên năm 20252026-03-02T03:40:26+00:00Hoàng Ngọc Tố Linhhntl1109@gmail.comTrần Khánh LinhTrankhanhlinh1752002@gmail.comNguyễn Thị Tố Uyên nguyenthitouyen@tnmc.edu.vnBùi Thị Việt Hàbuivietha87@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống lao của người dân tại một số xã ở huyện Đại Từ, Thái Nguyên năm 2025 và phân tích một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu được thu thập dữ liệu bằng cách phỏng vấn trực tiếp sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn ngẫu nhiên 500 người dân trên địa bàn 2 xã Tân Linh và Hà Thượng. Kết quả ghi nhận tỷ lệ người dân có kiến thức tốt về lao còn rất thấp, chỉ chiếm 19,2%, thái độ tốt đạt 90,8%,. tỷ lệ thực hành tốt về phòng chống lao còn thấp (29,2%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực hành với tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kiến thức và thái độ (p < 0,05). Cụ thể, ở nhóm đối tượng trẻ tuổi, có trình độ học vấn từ THCS trở lên, nghề nghiệp ổn định, có kiến thức tốt và thái độ tích cực có tỷ lệ thực hành phòng chống lao tốt. Kết quả này cho thấy kiến thức và thực hành về phòng chống lao còn kém cần được quan tâm cấp thiết trong các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe để cải thiện hiệu quả phòng chống lao tại cộng đồng.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4818Tỉ lệ stress ở học sinh trung học phổ thông Lê Thánh Tôn thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan2026-02-12T02:13:31+00:00Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnhhhnquynhytcc@ump.edu.vnNguyễn Thị Ngọc Quỳnhngocquynh261201@gmail.comNguyễn Đoàn Kim LiNguyenkimli002@gmail.comLê Trường Vĩnh Phúcltvphucytcc@ump.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ stress và các yếu tố liên quan ở học sinh Trường Trung học phổ thông Lê Thánh Tôn, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023. Nhóm nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang trên 494 học sinh, với dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền. Mối liên quan giữa stress và các yếu tố liên quan được phân tích bằng mô hình hồi quy Poisson đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy 31,2% học sinh có stress, và tỉ lệ stress có xu hướng tăng theo khối lớp, cao hơn ở học sinh lớp 12 so với lớp 10 (PR = 1,47; KTC 95%: 1,06 - 2,02). Bên cạnh đó, học sinh thường xuyên lo lắng về tài chính hoặc có mối quan hệ với các thành viên trong gia đình không tốt, không tham gia hoạt động ngoại khóa có khuynh hướng biểu hiện stress cao hơn. Việc đa dạng hóa, khuyến khích tham gia hoạt động ngoại khóa và duy trì môi trường hỗ trợ tích cực từ gia đình và nhà trường sẽ góp phần giảm tỉ lệ biểu hiện stress ở học sinh.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4850Hiệu quả can thiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật số trong thay đổi hành vi tự chăm sóc và kiểm soát đường huyết ở thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ2026-02-24T06:41:53+00:00Lê Minh Hiếudrhieuytb@gmail.comNguyễn Đức Thanhbsthanh@hotmail.comNguyễn Quang Bảyquangbay70@yahoo.comTine Mette Gammeltofttine.gammeltoft@anthro.ku.dkNguyễn Đăng Kiênnguyendangkien5191@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả cải thiện hành vi tự chăm sóc và kiểm soát đường huyết của can thiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật số ở thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ. Nghiên cứu can thiệp trên 342 thai phụ thực hiện từ tháng 1/2023 đến 2/2025 tại phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên. Trong đó, 163 thai phụ thuộc nhóm can thiệp và 179 thai phụ thuộc nhóm chứng. Kết quả: Nhóm can thiệp có tổng điểm hành vi tự chăm sóc (3,8 ± 1,0), điểm hoạt động thể chất (3,7 ± 2,4) và điểm tự theo dõi đường máu (1,5 ± 2,0) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (lần lượt là 3,3 ± 1,1; 2,8 ± 2,3; 1,0 ± 1,9) với p = 0,001. Thai phụ ở nhóm can thiệp có khả năng đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết (HbA1c < 6,0%) cao hơn so với nhóm chứng; sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê sau khi hiệu chỉnh theo chỉ số khối cơ thể trước mang thai và nồng độ HbA1c tại thời điểm chẩn đoán (OR = 1,94, 95%CI: 0,76 - 4,95).</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4664Mối tương quan giữa chiều cao cơ thể và kích thước bàn chân ở sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Y Dược Huế2026-02-26T07:37:56+00:00Lê Văn Dậulvdau@huemed-univ.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mối tương quan giữa chiều cao cơ thể với chiều dài và chiều rộng bàn chân ở sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Y Dược Huế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 346 sinh viên (108 nam, 238 nữ) độ tuổi 19 - 20, với tổng cộng 692 bàn chân được đo hai bên. Kết quả cho thấy chiều cao cơ thể trung bình là 160,34 ± 7,82 cm; chiều dài và chiều rộng bàn chân lần lượt là 23,16 - 23,21 cm và 9,26 - 9,28 cm. Chiều cao cơ thể có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê với cả chiều dài và chiều rộng bàn chân ở hai bên (p < 0,01), trong đó mối tương quan với chiều dài bàn chân mạnh hơn so với chiều rộng, đặc biệt ở nam giới. Các phương trình hồi quy tuyến tính được xây dựng cho phép ước tính chiều cao cơ thể từ các chỉ số bàn chân với độ tin cậy chấp nhận được. Kết quả nghiên cứu khẳng định kích thước bàn chân, nhất là chiều dài bàn chân, là chỉ số nhân trắc có giá trị trong ước tính chiều cao cơ thể, góp phần mở rộng khả năng ứng dụng trong nhân trắc học, y học và pháp y.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4846Niềm tin sức khỏe và mối liên quan với sức khỏe răng miệng ở học sinh tiểu học người Mông tỉnh Lào Cai, năm 20252026-03-09T01:19:58+00:00Chu Thị Quỳnh HươngQuynhhuong1234@gmail.comPhạm Lê Hương Linhlinh240102@gmail.comLưu Văn Tườngtuongdentist@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 251 học sinh tiểu học người Mông (7 - 11 tuổi) tại Trường Tiểu học San Sả Hồ, Sa Pa, Lào Cai năm 2025 nhằm phân tích mối liên quan giữa các cấu phần của mô hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) với hành vi chăm sóc răng miệng và tình trạng viêm lợi. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn theo thang đo HBM và khám lâm sàng đánh giá viêm lợi theo chỉ số Gingival Index (GI). Kết quả cho thấy học sinh có mức nhận thức tương đối cao về nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của bệnh răng miệng, trong khi rào cản cảm nhận cao và mức tự hiệu quả thấp chiếm tỷ lệ đáng kể. Các cấu phần này liên quan có ý nghĩa thống kê với hành vi chăm sóc răng miệng không phù hợp và tình trạng viêm lợi (p < 0,05). Phát hiện này nhấn mạnh vai trò trung tâm của các yếu tố thực thi hành vi trong cơ chế chuyển hóa niềm tin thành hành động, gợi ý ưu tiên các can thiệp giảm rào cản và củng cố tự hiệu quả tại cộng đồng vùng cao.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4679Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới xử lý vật sắc nhọn y tế tại nhà của người bệnh đái tháo đường điều trị insulin ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai2026-02-09T02:28:02+00:00Nguyễn Đình Đứcducnguyendinh1812@gmail.comLê Bá Đức Minhlebaducminh22@gmail.comHuỳnh Thị Nhungdrnhung.v.n@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ thực hành xử lý vật sắc nhọn y tế ở nhà đúng cách và mô tả một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường sử dụng insulin. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 130 người bệnh đái tháo đường điều trị insulin ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai. Bộ công cụ khảo sát được xây dựng dựa trên khuyến cáo của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ về xử lý vật sắc nhọn y tế tại nhà.</em> <em>Nghiên cứu cho thấy chỉ 11,5% đối tượng xử lý vật sắc nhọn y tế đúng quy trình an toàn. Thực hành xử lý đúng vật sắc nhọn y tế có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với một số yếu tố: người bệnh có tiền sử chấn thương do vật sắc nhọn có khả năng thực hành đúng cao hơn 4,25 lần so với nhóm không có tiền sử chấn thương; người bệnh được giáo dục về cách xử lý vật sắc nhọn y tế cho thấy xử lý đúng cách cao hơn 61,7 lần so với nhóm chưa được giáo dục. </em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4900Tuân thủ điều trị thuốc và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại Trung tâm Y tế Lục Yên, tỉnh Lào Cai2026-03-09T01:29:23+00:00Trần Trung Thànhbsthanhbvdk@gmail.comHoàng Anh Tuấnhoangtuanbvly@gmail.comLê Thị Hạnhbshanh77@gmail.comNguyễn Văn Hoàhoa.duocly@gmail.comNguyễn Văn Huânbshuanbvly@gmail.comĐỗ Nam Khánhdonamkhanh@hmu.edu.vnTrần Văn Lưutranvanluu1176@gmail.comNguyễn Ngọc Minh Hảiminhhaidhyhn@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Khu vực Lục Yên, tỉnh Lào Cai. Phân bố giới tính trong nghiên cứu tương đối cân bằng (nam 52%, nữ 48%) và nhóm tuổi 45 - 60 chiếm tỷ lệ cao nhất (52,5%). Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc theo thang điểm MMAS-8 đạt 86%. Phần lớn người bệnh không quên uống thuốc và ít gặp khó khăn liên quan đến tác dụng phụ; tuy nhiên, hơn một nửa không mang theo thuốc khi ra ngoài. Phân tích các yếu tố liên quan cho thấy nhóm tuổi ≥ 60 có nguy cơ không tuân thủ cao hơn so với nhóm dưới 60 tuổi (p < 0,05), trong khi thời gian mắc đái tháo đường ≥ 5 năm liên quan đến khả năng tuân thủ tốt hơn (OR > 1; p < 0,05). Dân tộc cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ điều trị. Tuân thủ dùng thuốc ở người bệnh đái tháo đường đạt mức cao, song cần chú trọng nhóm tuổi cao và các yếu tố xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4821Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan trước và sau phẫu thuật tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2024 - 20252026-02-04T02:53:32+00:00Trần Thị Lệ Thutranlethu2005@gmail.comNguyễn Thị Liên Hànguyenlienha@hmu.edu.vnNguyễn Minh Trọngdrtrong81@gmail.comNguyễn Đắc Danhdacdanh2000@gmail.comNguyễn Ngọc Tuyềnngoctuyen2202@gmail.comNguyễn Thị Hương Lanhuonglandd@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 85 người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương năm 2024 - 2025 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trước và sau phẫu thuật cắt gan. Kết quả cho thấy: Tình trạng dinh dưỡng theo BMI, tỷ lệ người bệnh thiếu năng lượng trường diễn trước và sau phẫu thuật lần lượt là 14,1% và 23,5%. Đánh giá bằng công cụ PG-SGA, tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng (SDD) trước phẫu thuật là 63,5% và sau phẫu thuật là 89,4%; trong đó tỷ lệ SDD nặng (PG-SGA C) tăng từ 12,9% lên 24,7% (p < 0,001). Sau phẫu thuật 7 ngày, 97,7% người bệnh có sụt cân so với trước phẫu thuật. Cân nặng trung bình giảm từ 57,7 ± 7,6 kg xuống 53,9 ± 7,2 kg, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Kết luận: SDD ở người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan phẫu thuật phổ biến và nặng hơn sau phẫu thuật. Cần đánh giá dinh dưỡng toàn diện và can thiệp sớm để nâng cao chất lượng điều trị.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4756Tình trạng dinh dưỡng và sức mạnh cơ của người bệnh trước phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày do ung thư tại Bệnh viện K năm 2023 - 20242026-02-05T06:52:58+00:00Nguyễn Thị Thanh Hoàdr.peace2801@gmail.comPhạm Văn Bìnhbinhva@yahoo.frHoàng Việt Báchhoangvietbach90@gmail.comNguyễn Thị Đính dinhhy15@gmail.comNguyễn Thị Dungnguyendung.ytb90@gmail.comNguyễn Thị Hồng Tiếnhongtien95.dd@gmail.comLê Thị Hươnglethihuong@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng và sức mạnh cơ của người bệnh trước phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày do ung thư tại Bệnh viện K. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành trên 143 người bệnh ung thư dạ dày có chỉ định cắt toàn bộ dạ dày tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều, từ tháng 4/2023 - 4/2024. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh có tình trạng suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì theo BMI lần lượt là 22,4% và 4,9%. Khi sử dụng máy đo lực bóp tay điện tử CAMRY EH101 (handgrip), phần lớn người bệnh trong nghiên cứu bị giảm sức mạnh cơ cánh tay chiếm 71,3%. Theo bộ công cụ chẩn đoán suy dinh dưỡng GLIM, tỷ lệ người bệnh có tình trạng suy dinh dưỡng là 70,6%. Theo một số chỉ số hoá sinh, số bệnh nhân bị SDD theo nồng độ albumin là 21%; theo số lượng tế bào lympho đếm là 30,8%. Có 43,4% người bệnh ung thư dạ dày có tình trạng thiếu máu. Như vậy, người bệnh phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày do ung thư có tình trạng dinh dưỡng kém trước phẫu thuật. Cần sàng lọc và đánh giá tình trạng dinh dưỡng người bệnh sớm để có kế hoạch can thiệp dinh dưỡng kịp thời.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4718Thực trạng nuôi dưỡng trẻ mắc Lupus ban đỏ hệ thống tại Bệnh viện Nhi Trung ương2026-02-23T08:26:06+00:00Nguyễn Thị Thuý Hồngbshong@hmu.edu.vnNguyễn Thu Hươngnguyenthuhuong@nch.gov.vnTrần Tiến Đạttrantiendat@hmu.edu.vnCao Hương NhungCaonhung.hmu89@gmail.com<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 123 trẻ mắc lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 10/2024 đến tháng 7/2025 nhằm đánh giá thực trạng nuôi dưỡng. Dữ liệu về khẩu phần ăn 24 giờ và thói quen ăn uống được thu thập và so sánh với khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2016). Tuổi trung bình của trẻ là 12,7 ± 2,3; nữ chiếm 84,6%. Phần lớn trẻ có BMI bình thường, tuy nhiên tỷ lệ thừa cân là 17,2% và béo phì 6,0%. Sau chẩn đoán, 88,1% trẻ có thay đổi chế độ ăn, chủ yếu theo hướng giảm muối và giảm chất béo. Khẩu phần năng lượng và vi chất thấp hơn khuyến nghị, song tỷ lệ thừa cân và béo phì vẫn cao (17,2% và 6,0%), có thể do ảnh hưởng của glucocorticoid, và thay đổi chuyển hóa của bệnh. Kết quả nhấn mạnh nhu cầu tư vấn dinh dưỡng cá thể hóa, chú trọng chất lượng khẩu phần và điều chỉnh lối sống.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4757Tiếp cận truyền thông và kiến thức về tác hại thuốc lá của người dân Việt Nam năm 20252026-02-09T03:04:51+00:00Kim Bảo Giangkimbaogiang@hmu.edu.vnLại Thị Minh Hằnglaithiminhhang@hmu.edu.vnPhan Thị Hảihaivinacosh@gmail.comDương Tú Anhtuanhvinacosh@gmail.comNguyễn Thị Diễm Hươngdiemhuong@hmu.edu.vnPhạm Bích Diệpphambichdiep@hmu.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu phân tích mối liên quan giữa tiếp cận truyền thông và kiến thức về tác hại thuốc lá của người dân tại một số tỉnh Việt Nam năm 2025. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 2.381 người dân từ 15 đến 70 tuổi tại 8 tỉnh/thành phố. Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xác định mối liên quan giữa tiếp cận truyền thông và điểm kiến thức về tác hại thuốc lá. Tần suất tiếp cận truyền thông có mối liên quan thuận chiều với điểm kiến thức; nhóm tiếp cận thường xuyên có điểm trung bình cao hơn 0,462 so với nhóm tiếp cận hạn chế (p < 0,001). Trong các kênh truyền thông, tiếp cận truyền thông tại cơ sở y tế cao nhất với hệ số β hiệu chỉnh = 1,215 (p < 0,001). Truyền thông đa kênh, đặc biệt là thông qua cơ sở y tế đóng vai trò quyết định nâng cao kiến thức về tác hại thuốc lá. Cần ưu tiên nguồn lực cho tư vấn trực tiếp tại bệnh viện và thiết kế các thông điệp chuyên biệt cho nhóm đối tượng lao động sản xuất và học vấn chưa tốt nghiệp tiểu học.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4742Khảo sát nhận thức về giá trị nghề nghiệp của sinh viên điều dưỡng tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế năm 20252026-02-26T02:35:51+00:00Nguyễn Thị Nguyệtttnguyet@huemed-univ.edu.vnHồ Duy Bínhhdbinh@huemed-univ.edu.vnTrần Thị Nguyệttranthinguyet@hueuni.edu.vn<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả nhận thức về giá trị nghề nghiệp và xác định các yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng năm 3 và năm 4 tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 271 sinh viên, sử dụng thang đo Nurses Professional Values Scale-3 (NPVS-3). Kết quả cho thấy nhận thức về giá trị nghề nghiệp của sinh viên điều dưỡng đạt mức trung bình khá; trong đó lĩnh vực chăm sóc được đánh giá cao nhất, còn lĩnh vực tính chuyên nghiệp có mức thấp nhất. Các yếu tố học lực, mức độ tự tin về kỹ năng lâm sàng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nhận thức về giá trị nghề nghiệp. Trong đó, sinh viên có học lực từ giỏi trở lên và sinh viên tự tin về kỹ năng lâm sàng của bản thân có điểm nhận thức về giá trị nghề nghiệp cao hơn. Kết quả nhấn mạnh vai trò của năng lực học tập và trải nghiệm thực hành lâm sàng trong quá trình hình thành giá trị nghề nghiệp của sinh viên. Từ đó, nghiên cứu có thể kiến nghị cơ sở đào tạo điều dưỡng chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo học thuật và hỗ trợ thực hành lâm sàng nhằm tăng cường sự tự tin về kỹ năng và thúc đẩy nhận thức về giá trị nghề nghiệp của sinh viên.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4656Thực trạng quản lý bệnh không lây nhiễm ở bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị arv tại Trung tâm Y tế quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh năm 20252026-02-02T04:00:26+00:00Nguyễn Thị Kim Anhlilliankim90@gmail.comNguyễn Trung Hòabstrunghoa@yahoo.com.vnĐoàn Văn Hậudvhau@tvu.edu.vnTrương Thị Thùy Dungtruongthuydung29@gmail.com<p class="p1"><em>Trong bối cảnh điều trị kháng vi rút giúp kéo dài tuổi thọ người nhiễm HIV/AIDS và gánh nặng bệnh tật chuyển dần sang bệnh không lây nhiễm (BKLN), nghiên cứu này đánh giá thực trạng quản lý bệnh tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ), và các yếu tố liên quan ở người nhiễm HIV. Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính trên 380 bệnh nhân đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú năm 2025. Tỷ lệ THA và ĐTĐ lần lượt là 10,8% và 40,3%; tình trạng mắc tập trung ở người ≥ 40 tuổi, BMI ≥ 25 kg/m², có tiền sử gia đình THA và ĐTĐ, hút thuốc, uống rượu bia, ít vận động, và ĐTĐ phổ biến hơn ở nam giới. Đa số bệnh nhân THA/ĐTĐ đã được điều trị nhưng sàng lọc chưa thường quy, hồ sơ quản lý mạn tính còn hạn chế. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng mô hình phối hợp quản lý HIV – BKLN ở tuyến cơ sở, thông qua liên kết chuyển tuyến, chuẩn hóa năng lực nhân sự và ứng dụng công nghệ thông tin.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4770Giá trị bổ sung của giải trình tự toàn bộ hệ gen trong chẩn đoán trước sinh khi KARYOTYPE, CMA và WES âm tính: Báo cáo ca bệnh2026-02-23T03:37:54+00:00Bùi Thị Phương Hoahoabtp@afhanoi.comNguyễn Thế Hùngradiologue77@gmail.comNguyễn Ngọc TúNgoctu6119@yahoo.com.vn<p class="p1"><em>Báo cáo trình bày 2 ca lâm sàng minh họa giá trị bổ sung của WGS trong chẩn đoán trước sinh khi xét nghiệm trước đó âm tính. Ca 1: Thai nam với não úng thủy tái diễn trong gia đình; WGS phát hiện mất đoạn bán hợp tử bao phủ exon 6, một phần exon 7 của gen L1CAM, phân loại có thể gây bệnh, phù hợp hội chứng L1 liên kết nhiễm sắc thể X; xác định mẹ là người mang gen, làm thay đổi tư vấn nguy cơ tái phát và định hướng PGT-M. Ca 2: Thai đa dị tật não; trio-WGS phát hiện mất đoạn dị hợp tử gen CREBBP (exon 29-31), phân loại gây bệnh, đột biến mới phát sinh, phù hợp hội chứng Rubinstein-Taybi; kết quả làm thay đổi tiên lượng và giảm đáng kể nguy cơ tái phát cho lần mang thai sau. WGS cho phép mở rộng phổ phát hiện các biến thể di truyền như SNV/indel ngoài vùng exon, CNV nhỏ, SV phức tạp, ROH/UPD và một phần bất thường ty thể hoặc khảm mức thấp, nâng cao giá trị chẩn đoán và tác động lâm sàng sau khi karyotype, CMA và WES âm tính. </em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4730Bệnh mô bào tế bào Langerhans phổi ở trẻ em: Báo cáo một ca bệnh hiếm2026-03-03T09:44:03+00:00Đặng Mai Liênliendangmai1986@gmail.comLê Thị Hồng Hanhtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnLê Thanh Chươngtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnNguyễn Hoàng Namtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnHoàng Ngọc Thạchtapchinghiencuuyhoc@hmu.edu.vnPhan Tuấn Hưnghungpt@nch.gov.vn<p class="p1"><em>Bệnh mô bào tế bào Langerhans phổi (Pulmonary Langerhans Cell Histiocytosis - pLCH) là một bệnh lý hiếm gặp ở trẻ em, thuộc nhóm bệnh mô bào có nguồn gốc từ tế bào Langerhans. Bệnh thường khó chẩn đoán do biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học không đặc hiệu, dễ nhầm lẫn với viêm phổi kéo dài hoặc bệnh phổi kẽ do nhiễm trùng. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ nam 34 tháng tuổi, nhập viện vì ho kéo dài và suy hô hấp tiến triển trong 3 tháng, điều trị kháng sinh kéo dài không đáp ứng. Sinh thiết phổi kết hợp xét nghiệm gen phát hiện đột biến BRAF-V600, giúp chẩn đoán xác định LCH phổi và định hướng điều trị thuốc đích, mang lại kết quả khả quan.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y họchttps://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4740Viêm phúc mạc ruột thừa trẻ sơ sinh: Báo cáo một ca bệnh2026-02-03T06:46:51+00:00Trần Minh Longlongdr115@gmail.comĐậu Việt Hungbsdauhung@yahoo.comNguyễn Ngọc Hoànguyen.ngochoa.47s@kyoto.comĐỗ Văn Lợiloidv74@gmail.com<p class="p1"><em>Báo cáo một trường hợp trẻ sơ sinh nam là một trong hai bé sinh đôi, đẻ mổ của sản phụ làm thụ tinh trong ống nghiệm, mổ đẻ lúc 36 tuần tuổi, mẹ vỡ ối trước đó 20 giờ; sau mổ trẻ được nhập khoa sơ sinh vì nhiễm khuẩn sơ sinh, chẩn đoán viêm màng não. Quá trình điều trị xuất hiện viêm phúc mạc do ruột thừa vỡ. Trẻ được điều trị bằng phẫu thuật và hồi sức tích cực, kết quả hồi phục tốt ra viện. Ca bệnh này cho thấy vai trò quan trọng của theo dõi sát triệu chứng tiêu hóa ở trẻ sơ sinh nhiễm khuẩn kéo dài nhằm chẩn đoán sớm viêm ruột thừa. Viêm ruột thừa cấp ở trẻ sơ sinh là bệnh lý rất hiếm gặp, việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn do biểu hiện lâm sàng không điển hình. Vì vậy, bệnh thường được phát hiện muộn và dễ diễn tiến thành viêm phúc mạc, làm nặng thêm tình trạng toàn thân của trẻ.</em></p>2026-03-31T00:00:00+00:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học