Tạp chí Nghiên cứu Y học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh
Trường Đại Học Y Hà Nộivi-VNTạp chí Nghiên cứu Y học2354-080XBước đầu khảo sát đặc điểm biến thể xoang tĩnh mạch sọ não trên MRI ở bệnh nhân đau đầu mạn tính
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5295
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm bước đầu mô tả đặc điểm lâm sàng, các bất thường phát hiện trên MRI sọ não và kiểu phân bố các biến thể xoang tĩnh mạch sọ não trên cộng hưởng từ (MRI) và cộng hưởng từ tĩnh mạch (MR venography, MRV) ở bệnh nhân đau đầu mạn tính được chỉ định chụp có tiêm thuốc đối quang từ vì mục đích chẩn đoán lâm sàng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 37 bệnh nhân ≥ 18 tuổi tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng từ 01/2025 đến 01/2026. Tuổi trung bình 55,19 ± 15,61; nữ chiếm 64,9%. Chóng mặt gặp ở 32,4%; buồn nôn và nôn 18,9%. MRI sọ não không ghi nhận bất thường nội sọ có ý nghĩa ở 59,5% trường hợp; viêm xoang cạnh mũi chiếm 16,2%; u não và xuất huyết não cùng chiếm 8,1%. Thiểu sản xoang ngang trái và xoang sigma trái là các biến thể gặp nhiều nhất, cùng chiếm 59,5%; đối xứng hai bên của xoang ngang và xoang sigma lần lượt là 21,6% và 27,0%; type IB là hình thái thường gặp nhất (29,7%). Kết quả này phản ánh một quần thể lâm sàng được chọn chụp CE-MRI/MRV tại một trung tâm; giá trị chính của nghiên cứu là hỗ trợ nhận diện biến thể giải phẫu và tránh chẩn đoán nhầm huyết khối hoặc hẹp xoang tĩnh mạch, không nhằm suy luận quan hệ nhân quả với đau đầu mạn tính.</p>Nguyễn Hồng PhúcPhạm Hồng Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-0620361910.52852/tcncyh.v203i6.5295Độ sâu xâm lấn trên cộng hưởng từ và tình trạng di căn hạch cổ ở ung thư lưỡi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5296
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa độ sâu xâm lấn trên hình ảnh cộng hưởng từ (rDOI) và tình trạng di căn hạch cổ xác định bằng mô bệnh học sau phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư lưỡi, đồng thời khảo sát giá trị của ngưỡng rDOI > 10 mm trên bộ số liệu nghiên cứu. Nghiên cứu mô tả quan sát, đơn trung tâm, kết hợp hồi cứu - tiến cứu trên 32 bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ trước điều trị, phẫu thuật và có kết quả mô bệnh học tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương giai đoạn 01/2022 - 01/2026. rDOI trung bình là 10,41 ± 4,52 mm. Không ghi nhận trường hợp di căn hạch cổ ở nhóm rDOI ≤ 10 mm; toàn bộ 6 trường hợp di căn hạch đều thuộc nhóm rDOI > 10 mm (p = 0,03). Đường cong ROC của rDOI liên tục trong dự đoán di căn hạch cổ cho AUC = 0,66. Tại ngưỡng rDOI > 10 mm, độ nhạy, độ đặc hiệu, PPV, NPV và độ chính xác lần lượt là 100%, 50%, 31,6%, 100% và 59,4%. rDOI trên MRI có thể hỗ trợ phân tầng nguy cơ di căn hạch cổ trước phẫu thuật, nhưng cần được diễn giải thận trọng do cỡ mẫu nhỏ, khoảng tin cậy còn rộng và giá trị nổi trội hơn trong loại trừ hơn là khẳng định di căn hạch.</p>Vũ Tiến AnhPhạm Hồng Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036101710.52852/tcncyh.v203i6.5296U thận chứa mỡ ở trẻ em: Báo cáo ca bệnh u quái thận nguyên phát và u nguyên bào thận dạng quái
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5298
<p class="p1">Mặc dù thành phần mỡ đại thể trên chẩn đoán hình ảnh thường gợi ý các tổn thương lành tính, đặc điểm này ở khối u thận trẻ em có thể đại diện cho những bệnh lý phức tạp. Báo cáo này trình bày đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và điều trị của hai ca bệnh u thận chứa mỡ hiếm gặp. Trường hợp thứ nhất là bệnh nhi nam 3 tháng tuổi mắc u quái trưởng thành nguyên phát tại thận, được điều trị bằng phẫu thuật bóc u bảo tồn nhu mô. Trường hợp thứ hai là bệnh nhi nữ 13 tháng tuổi mắc u nguyên bào thận dạng quái, được phẫu thuật cắt thận triệt căn. Cả hai trường hợp đều diễn biến hậu phẫu thuận lợi và không ghi nhận tái phát sau điều trị. Sự hiện diện của tổ chức mỡ trên chẩn đoán hình ảnh không loại trừ bản chất ác tính của khối u thận. Chẩn đoán xác định cần dựa vào mô bệnh học, lựa chọn phương pháp phẫu thuật nên được cá thể hóa theo thương tổn.</p>Nguyễn Thị Mai ThủyĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036182510.52852/tcncyh.v203i6.5298Đánh giá độ dày xương và mô mềm khẩu cái trên phim CBCT (Cone-Beam Computed Tomography)
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5335
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá độ dày xương và mô mềm khẩu cái theo vị trí giải phẫu trên CBCT. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 50 phim CBCT của các bệnh nhân (BN) có độ tuổi từ 18 – 50 tuổi. Độ dày xương và mô mềm được đo tại 32 vị trí theo hệ lưới chuẩn hóa. Số liệu trình bày dưới dạng trung vị (Q1–Q3) và so sánh bằng kiểm định Friedman. Kết quả: Xương dày nhất ở vùng trước gần đường giữa và giảm dần ra sau – bên (p < 0,001). Mô mềm tăng dần từ trước ra sau và giảm nhẹ từ trung tâm ra ngoài (p < 0,001). Như vậy, độ dày xương và mô mềm khẩu cái thay đổi theo vị trí, có ý nghĩa định hướng trong lựa chọn vị trí đặt mini-implant và lấy mô ghép.</p>Trần Nguyên MinhBùi Quang HưngNguyễn Vũ Thái LiênNguyễn Thị Thu Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036263210.52852/tcncyh.v203i6.5335Nhận thức về vi-rút HPV của sinh viên y dược: Từ những hiểu lầm về phòng bệnh đến sự thiếu hụt kiến thức ở nam giới
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5365
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 727 sinh viên tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội từ 03/2025 đến 03/2026, sử dụng bộ câu hỏi hiệu chỉnh từ thang đo KAPPAS nhằm đánh giá mức độ hiểu biết, khoảng trống kiến thức về HPV và mối liên quan giữa kiến thức với thực hành tiêm chủng. Dữ liệu được thu thập trực tiếp/trực tuyến, phân tích bằng thống kê mô tả, Chi-bình phương và hồi quy logistic đa biến. Điểm kiến thức trung vị: 26 (IQR: 23 - 28) trên thang 35. Tuy nhiên, 70,0% sinh viên cho rằng vệ sinh cá nhân phòng được HPV. Ung thư cổ tử cung là bệnh lý liên quan HPV được nhận biết nhiều nhất (79,1%), trong khi tỷ lệ nhận biết ung thư dương vật chỉ đạt 44,0%. Tỷ lệ đã tiêm vắc-xin ít nhất một mũi vắc-xin HPV đạt 33,3%. Điểm kiến thức có mối liên quan độc lập, thuận chiều với thực hành tiêm chủng (aOR = 1,07; 95% CI: 1,02 – 1,13; p = 0,004). Cần tăng cường truyền thông HPV toàn diện và trung lập về giới.</p>Lương Hoàng ThànhNguyễn Trung Kiên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036334110.52852/tcncyh.v203i6.5365Đánh giá độ sát khít của onlay được chế tạo bằng công nghệ CAD/CAM và in 3D trên thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5368
<p class="p1"><span class="s1">Mức độ sát khít của phục hình so với xoang sửa soạn là một trong những tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả điều trị và tiên lượng chức năng lâu dài. Nghiên cứu in-vitro được thực hiện nhằm đánh giá độ sát khít của phục hình onlay được chế tạo bằng công nghệ in 3D và CAD/CAM, khảo sát độ sát khít tại 100 điểm đánh dấu ở nội phần và đường hoàn tất bằng phương pháp chồng hình kỹ thuật số (RPM) và sao chép silicone kỹ thuật số (SRG). Kết quả nghiên cứu cho thấy onlay được chế tạo bằng CAD/CAM có độ sát khít cao hơn so với nhóm in 3D tại hầu hết các điểm, (p < 0,05). Tuy nhiên, giá trị sai lệch khảo sát bằng RPM và SRG đều nhỏ hơn 120 μm, có thể chấp nhận được trên lâm sàng.</span></p>Nghiêm Tuấn AnhTống Minh SơnPhạm Thái ThôngVõ Trương Như NgọcNguyễn Thu TràVõ Nhật MinhTrịnh Khánh LinhLâm Khánh DuyTrần Lê Quỳnh PhươngPhan Thành LợiPhạm Ngọc Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036424910.52852/tcncyh.v203i6.5368Khảo sát vai trò đo đáp ứng thính giác trạng thái ổn định ở người bệnh nghe kém
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5373
<p class="p1">Đo đáp ứng thính giác trạng thái ổn định (ASSR) là phương pháp điện sinh lý khách quan giúp xác định ngưỡng nghe đặc hiệu theo tần số, hữu ích khi không thực hiện được thính lực đồ đơn âm (PTA) hoặc khi đáp ứng thính giác thân não (ABR) bị hạn chế ở người bệnh nghe kém nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu trên 56 người bệnh với 97 tai nghe kém tại Khoa Thính học, Bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh từ 11/2020 đến 12/2021. Tất cả các tai được đo đồng thời PTA, ABR và ASSR. Tỷ lệ xác định được ngưỡng ASSR đạt 100%, cao hơn ABR (93,8%); cả 6 tai không ghi nhận đáp ứng ABR vẫn xác định được ngưỡng ASSR ở cả 4 tần số. ASSR tương quan chặt với PTA tại 500 Hz (r = 0,89 - 0,94) và 1000 Hz (r = 0,70 - 0,77), nhưng giảm ở 2000 Hz và 4000 Hz. Độ phù hợp theo phân loại ASHA đạt mức tốt (kappa có trọng số = 0,62). ASSR là phương pháp bổ trợ có giá trị trong đánh giá khách quan ngưỡng nghe.</p>Lê Thiện HiệpNguyễn Hữu DũngPhạm Kiều Anh Thơ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036506010.52852/tcncyh.v203i6.5373Các yếu tố liên quan và thang điểm dự báo nguy cơ u túi noãn hoàng tinh hoàn ở trẻ em dựa trên AFP huyết thanh và siêu âm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5376
<p class="p1">Mặc dù AFP huyết thanh là chất chỉ điểm quan trọng trong đánh giá u tinh hoàn trẻ em, giá trị phân biệt trước phẫu thuật còn hạn chế ở một số trường hợp. Nghiên cứu hồi cứu phân tích các yếu tố liên quan và xây dựng thang điểm hỗ trợ dự báo nguy cơ u túi noãn hoàng tinh hoàn ở trẻ em trước phẫu thuật, thực hiện trên 70 bệnh nhi phẫu thuật u tinh hoàn tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/2021 đến 12/2025, gồm 35 trường hợp u túi noãn hoàng và 35 trường hợp u lành tính. AFP trung vị ở nhóm u túi noãn hoàng cao hơn nhóm u lành tính (1632,0 so với 1,6 ng/mL; p < 0,001). Tăng sinh mạch trên Doppler gặp nhiều hơn ở nhóm u túi noãn hoàng (71,4% so với 5,7%; p < 0,001), trong khi hồi âm hỗn hợp thường gặp hơn ở nhóm u lành tính (77,1% so với 31,4%; p < 0,001). Thang điểm phối hợp AFP, tăng sinh mạch và tính chất hồi âm có thể hỗ trợ phân tầng nguy cơ u túi noãn hoàng trước phẫu thuật.</p>Nguyễn Thị Mai ThủyĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036616910.52852/tcncyh.v203i6.5376Kết quả điều trị bước một cetuximab kết hợp hóa trị nền tảng oxaliplatin trên ung thư đại tràng giai đoạn IV
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5380
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của phác đồ Cetuximab kết hợp hóa trị nền Oxaliplatin bước một trên 51 bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn IV, có gen RAS tự nhiên (từ 01/2021 đến 05/2026). Phân tích so sánh giữa nhóm dùng hóa trị bộ đôi (mFOLFOX6/CAPEOX, n = 36) và bộ ba (mFOLFIRINOX, n = 15) cho thấy tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt 82,4%, kiểm soát bệnh 90,2% và chuyển đổi phẫu thuật R0 đạt 25,5%. Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) là 13,7 tháng và sống thêm toàn bộ (OS) là 35,9 tháng. Không có sự khác biệt thống kê về hiệu quả (ORR, R0, PFS, OS) giữa hai nhóm. Phẫu thuật u nguyên phát trước hóa trị làm tăng thời gian sống thêm PFS. Phác đồ mang lại tỷ lệ đáp ứng cao, tăng cơ hội phẫu thuật triệt căn và kéo dài thời gian sống thêm cá thể hóa điều trị.</p>Nguyễn Xuân ĐạiTrịnh Lê HuyPhạm Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036707710.52852/tcncyh.v203i6.5380Nồng độ Lipoprotein(a) và liên quan với mức độ tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5385
<p class="p1">Nghiên cứu tiến hành với mục tiêu mô tả nồng độ lipoprotein(a), các yếu tố liên quan và đánh giá vai trò của Lp(a) ở trong phân biệt mức độ tổn thương động mạch vành theo điểm Gensini. Thiết kế mô tả cắt ngang trên 80 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận trong thời gian từ 7/2025 - 2/2026. Kết quả ghi nhận nồng độ Lp(a) trung vị 121,7 mg/dL. Nhóm bệnh nhân hạn chế vận động thể lực (154,4 so với 80,8 mg/dL), đái tháo đường (184,8 so với 91,7 mg/dL) và tiền sử nhồi máu cơ tim cũ (199,1 so với 105,0 mg/dL) có nồng độ Lp(a) cao hơn (p < 0,05). Phân tích ROC cho thấy Lp(a) giá trị tốt trong xác định tổn thương động mạch vành nặng, với diện tích dưới đường cong đạt 0,87 (KTC 95%: 0,79 - 0,96), phản ánh khả năng phân biệt cao với điểm cắt là 187,3 mg/dL, độ nhạy 72,0% và độ đặc hiệu 94,5%. Từ đó cho thấy Lp(a) càng cao gợi ý tổn thương động mạch vành càng nặng và có giá trị trong xác định tổn thương nặng động mạch vành.</p>Từ HuyếnMai Long ThủyNguyễn Duy Khương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036788710.52852/tcncyh.v203i6.5385Phẫu thuật nội soi qua mũi mở rộng kẹp cổ túi phình động mạch thông trước: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5402
<p class="p1">Phẫu thuật nội soi qua mũi mở rộng kẹp túi phình động mạch thông trước vẫn là chỉ định chọn lọc cao do hành lang tiếp cận hẹp và thách thức kiểm soát mạch máu. Chúng tôi báo cáo một ca túi phình động mạch thông trước chưa vỡ điều trị bằng kỹ thuật này tại Bệnh viện Bạch Mai. Bệnh nhân nam 59 tuổi, túi phình 5,86 × 5,02 × 4,47 mm, cổ rộng (tỷ lệ đáy/cổ 0,85), thiểu sản A1 phải; phức hợp thông trước xoay 90° khiến hai nhánh A2 thẳng trục hướng tiếp cận nội soi. Lập kế hoạch 3D từ CTA và DSA mô phỏng hành lang phẫu thuật và định hướng đặt clip. Trong mổ, kẹp tạm thời A1 trái và đặt thành công clip ngang cổ túi phình. CTA và DSA sau mổ xác nhận loại trừ hoàn toàn túi phình, bảo tồn các nhánh mạch. Bệnh nhân xuất hiện rò dịch não tủy thoáng qua và viêm màng não vi khuẩn, ổn định sau điều trị bảo tồn. Tái khám 3 tháng đạt mRS = 0, khứu giác phục hồi hoàn toàn. Kỹ thuật khả thi với túi phình động mạch thông trước có giải phẫu thuận lợi được chọn lọc kỹ; lập kế hoạch 3D trước mổ là yếu tố then chốt.</p>Nguyễn Thế HàoPhạm Quỳnh TrangPhạm Văn Thành CôngVũ Tân LộcKhổng Ngọc MinhDương Văn ThăngNguyễn Tất ĐặngLê Ngọc HuyNguyễn Văn Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-062036889610.52852/tcncyh.v203i6.5402Tương quan và khác biệt giữa PEEP theo cắt lớp phổi điện kháng và PEEP giả định theo bảng PEEP thấp/FiO2 trong ARDS ngoại khoa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5441
<p class="p1">Chọn PEEP trong ARDS cần cân bằng huy động phế nang với hạn chế quá căng phổi. Nghiên cứu tiến cứu so sánh phương pháp trên 42 bệnh nhân ARDS liên quan chấn thương hoặc hậu phẫu, nhằm đánh giá tương quan, độ phù hợp giữa PEEP khuyến nghị theo cắt lớp phổi điện kháng (PEEP<sub>EIT</sub>) và PEEP giả định theo bảng PEEP thấp/FiO<sub>2</sub> của ARDS Network (PEEP<sub>bảng</sub>). Mỗi bệnh nhân có một cặp giá trị sau lần chuẩn độ EIT đầu tiên. PEEP<sub>EIT</sub> xác định tại điểm cân bằng giữa xẹp phổi và quá căng phổi; PEEP<sub>bảng</sub> suy ra từ FiO<sub>2</sub> tương ứng. Phân tích gồm Wilcoxon signed-rank, Pearson, Spearman, Bland–Altman. Trung vị PEEP<sub>EIT</sub> là 9,0 (8,0 – 11,0) cmH<sub>2</sub>O; PEEP<sub>bảng</sub> là 10,0 (8,0 – 10,0) cmH<sub>2</sub>O; p = 0,198. Bland–Altman cho thấy độ lệch trung bình 0,69 cmH<sub>2</sub>O, giới hạn đồng thuận 95% từ -5,16 đến 6,54 cmH<sub>2</sub>O. Chênh lệch tuyệt đối ≥ 4 cmH<sub>2</sub>O gặp ở 26,2% bệnh nhân. PEEP<sub>EIT</sub> và PEEP<sub>bảng</sub> có tương quan yếu và khác biệt đáng kể ở mức cá thể, không nên xem là hai giá trị thay thế trực tiếp.</p>Nguyễn Việt MinhLưu Quang ThuỳTrịnh Văn ĐồngNguyễn Thị Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-0620369710510.52852/tcncyh.v203i6.5441Đặc điểm hình ảnh FDG PET/CT và mức độ phù hợp với MRI/ EEG ở trẻ động kinh cục bộ kháng thuốc
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5190
<p class="p1">Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh chuyển hoá <sup>18</sup>F-FDG (<sup>18</sup>F-Fluorodeoxyglucose) ở não bằng PET/CT (Positron Emission Tomography/ Computed Tomography) và đánh giá mức độ phù hợp giữa FDG PET/CT với lâm sàng, cộng hưởng từ (MRI), Điện não đồ video (EEG) ở trẻ động kinh cục bộ kháng thuốc. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 42 bệnh nhi động kinh cục bộ kháng thuốc tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 01/2017 – 1/2026. Quy trình chụp FDG PET/CT, chuẩn bị bệnh nhân và gây mê/ an thần được thực hiện nghiêm ngặt theo hướng dẫn (SNMMI/EANM) và hướng dẫn của Bộ Y tế ban hành. Hình ảnh được đánh giá trực quan kết hợp chỉ số bán định lượng. Kết quả cho thấy FDG PET/CT phát hiện tổn thương ở 35/42 trường hợp (83,3%; 95% CI: 69,8 - 92,5%). Các tổn thương chủ yếu mang đặc điểm giảm chuyển hóa (94,3%), dạng khu trú (80%) và phân bố đa ổ (51,4%). Thùy trán là vị trí đơn lẻ thường gặp nhất (25,7%). Chỉ số bất đối xứng (AI%) trung bình tại vùng tổn thương đạt 17,66 ± 6,16%. Khi đối chiếu đa mô thức, tỷ lệ phù hợp hoàn toàn của FDG PET/CT với EEG là 62,9% và với MRI là 28,6%. Đáng chú ý, ở nhóm bệnh nhi có MRI sọ não âm tính, FDG PET/CT vẫn ghi nhận 25 trường hợp (chiếm 71,4% tổng số ca bất thường trên PET). Có thể thấy FDG PET/CT cho thấy khả năng phát hiện các vùng rối loạn chuyển hoá não với nhiều kiểu hình đa dạng ở bệnh nhi động kinh cục bộ kháng thuốc. Dù chưa phải là tiêu chuẩn vàng để xác định vùng sinh động kinh, FDG PET/CT đóng vai trò là một phương tiện chẩn đoán bổ trợ quan trọng trong hội chẩn tiền phẫu đa mô thức, đặc biệt có giá trị cung cấp thông tin chỉ điểm ở nhóm bệnh nhi có MRI âm tính.</p>Đồng Thị Hải ChâuNguyễn Thị ThảoNguyễn Thị Bích VânLê Quang HiểnThiều Thị HằngMai Thị ChungPhạm Văn TháiMai Hồng Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203610611710.52852/tcncyh.v203i6.5190Giá trị của procalcitonin huyết tương trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5307
<p class="p1">Ở bệnh nhân ung thư, nguy cơ nhiễm khuẩn huyết tăng cao do suy giảm miễn dịch và các biện pháp can thiệp điều trị. Procalcitonin (PCT) là một dấu ấn sinh học đóng vai trò quan trọng trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 57 bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết có cấy máu dương tính và 65 bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết có cấy máu âm tính tại Bệnh viện K, nhằm xác định giá trị của PCT huyết tương trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết. Nồng độ PCT huyết tương được xác định bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang (ECLIA). Kết quả cho thấy giá trị trung vị của PCT trong nhóm cấy máu dương tính là 2,29 (95% CI: 1,02 – 5,98) so với 0,457 (95% CI: 0,368 – 0,635) trong nhóm cấy máu âm tính có ý nghĩa thống kê (p = 0,0001 < 0,05). Phân tích đường cong ROC cho thấy AUC của PCT là 0,7507. Giá trị khả năng dự đoán cấy máu dương tính.ở PCT tại ngưỡng 2 ng/mL có độ nhạy 52,6% (KTC 95%: 39,0 – 66,0); độ đặc hiệu 93,8% (KTC 95%: 85,0 – 98,3); giá trị tiên đoán dương tính là 88,2% và giá trị tiên đoán âm tính là 69,3%. Như vậy, tại ngưỡng cắt PCT 2 ng/mL, procalcitonin huyết tương cho thấy giá trị hữu ích trong dự đoán cấy máu dương tính ở bệnh nhân ung thư nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết. Việc sử dụng PCT có thể hỗ trợ nhận diện tình trạng nhiễm trùng máu, góp phần định hướng sử dụng kháng sinh hợp lý và hạn chế chậm trễ trong quá trình điều trị.</p>Hồ Quang HuyNguyễn Hải LinhBùi Trang ThơNguyễn Thị Oanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203611812510.52852/tcncyh.v203i6.5307Giá trị của chỉ số tưới máu thận bán định lượng trên siêu âm doppler trong tiên lượng tình trạng tổn thương thận cấp kéo dài ở người bệnh sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5403
<p class="p1">Nghiên cứu theo dõi dọc 58 người bệnh sốc nhiễm trùng do viêm phúc mạc tại Đơn vị Hồi sức Tích cực Ngoại khoa, Bệnh viện Bạch Mai. Mục tiêu nghiên cứu đánh giá giá trị của chỉ số tưới máu thận bán định lượng (PDU score) trong tiên lượng tổn thương thận cấp kéo dài. Kết quả ghi nhận tỷ lệ tổn thương thận cấp kéo dài là 34,5%. Kết quả cho thấy nhóm có PDU độ 0-1 có nguy cơ mắc tổn thương thận cấp kéo dài cao gấp 2,56 lần so với nhóm có PDU độ 2-3 (PR = 2,56; 95% CI: 1,24 – 5,37). Giá trị tiên lượng của PDU score với tổn thương thận cấp kéo dài đạt AUC = 0,82, với độ đặc hiệu 90%, độ nhạy 55% tại điểm cutoff PDU score ≤ 1. PDU score là công cụ tiềm năng để nhận diện nhóm nguy cơ cao với tổn thương thận cấp kéo dài, tuy nhiên cần phối hợp với các chỉ số khác để nâng cao tối ưu hiệu quả tiên lượng.</p>Lê Đại MinhNguyễn Toàn ThắngVũ Đăng LưuVũ Văn KhâmNguyễn Hữu Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203612613610.52852/tcncyh.v203i6.5403Giá trị thang điểm P-POSSUM trong tiên lượng viêm phổi sau phẫu thuật ổ bụng tại Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5080
<p class="p1">Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ viêm phổi sau phẫu thuật ổ bụng và đánh giá giá trị của thang điểm P-POSSUM trong tiên lượng biến chứng này. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 503 người bệnh phẫu thuật ổ bụng tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026. Biến cố chính là viêm phổi sau phẫu thuật trong vòng 30 ngày. Giá trị tiên lượng của P-POSSUM được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong ROC (AUROC), xác định ngưỡng cắt theo chỉ số Youden và phân tích hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Tỷ lệ viêm phổi sau phẫu thuật là 8,5%. Tổng điểm P-POSSUM có khả năng phân biệt tốt đối với viêm phổi sau phẫu thuật với AUROC = 0,84 (KTC 95%: 0,76 – 0,90). Ngưỡng cắt tối ưu là 34,5, với độ nhạy 81% và độ đặc hiệu 77%. Ở phân tích đa biến, P-POSSUM > 34,5 liên quan độc lập với viêm phổi sau phẫu thuật (OR = 13,67; KTC 95%: 6,10 – 30,64). Tình trạng gầy cũng là yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Thang điểm P-POSSUM có giá trị tốt trong phân tầng nguy cơ viêm phổi sau phẫu thuật ổ bụng và có thể hỗ trợ nhận diện sớm người bệnh nguy cơ cao trong thực hành lâm sàng.</p>Nguyễn Minh TuệLê Đại MinhNguyễn Toàn Thắng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203613714510.52852/tcncyh.v203i6.5080Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến suy tim phân suất tống máu giảm ở bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị ARV
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5144
<p class="p1">Tuổi thọ của bệnh nhân nhiễm HIV ngày càng được cải thiện nhờ điều trị kháng retrovirus (ARV), kéo theo sự gia tăng các biến chứng tim mạch, trong đó có suy tim phân suất tống máu giảm. Nghiên cứu này nhằm xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến suy tim phân suất tống máu giảm ở bệnh nhân nhiễm HIV. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 177 bệnh nhân ≥ 18 tuổi, đang điều trị ARV ít nhất 6 tháng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ từ tháng 5/2025 đến tháng 5/2026. Kết quả ghi nhận tỷ lệ suy tim phân suất tống máu giảm là 30,5%. suy tim phân suất tống máu giảm có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và bệnh mạch vành (p < 0,05), trong khi không ghi nhận sự khác biệt về giới tính, hút thuốc, uống rượu, thời gian phát hiện nhiễm HIV và thời gian điều trị ARV (p > 0,05). Nghiên cứu cho thấy suy tim phân suất tống máu giảm là tình trạng khá phổ biến ở bệnh nhân nhiễm HIV và có liên quan chủ yếu đến tuổi cao và các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống, nhấn mạnh sự cần thiết của việc sàng lọc và quản lý toàn diện nguy cơ tim mạch ở nhóm bệnh nhân này.</p>Huỳnh Phe RíchTrần Diệu HiềnTrần Kim Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203614615410.52852/tcncyh.v203i6.5144Hiệu quả của tập luyện thân mình đa mặt phẳng với bài tập nhiệm vụ kép trong việc giảm sự bất cân xứng trọng lượng ở người bệnh đột quỵ nhồi máu não
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5213
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá sự bất đối xứng trong việc chịu trọng lượng chi dưới (Percentage weight bearing asymmetry – PWBA), khả năng chịu trọng lượng bên liệt (Percentage weight on affected leg – PWA). Nghiên cứu tiến hành trên 66 bệnh nhân (BN) gồm nhóm thử nghiệm (N1) với 32 BN và nhóm chứng (N2) với 34 BN. BN được tập 8 tuần theo 2 chương trình khác nhau được đánh giá tại thời điểm bắt đầu (L0), 2 tuần (L1), 1 tháng (L2), 2 tháng (L3). Các chỉ số PWBA, PWA, FAC tại L2 và L3 có sự cải thiện ở cả 2 nhóm nhưng nhóm N1 cải thiện tốt hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy người bệnh nhồi máu não chịu trọng lượng không cân xứng và giảm khả năng khả năng dồn trọng lượng bên liệt. Chương trình tập luyện thân mình đa mặt phẳng kết hợp bài tập nhiệm vụ kép đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện PWBA, PWA và FAC.</p>Nguyễn Thị HuệNguyễn Thị ThắmPhạm Văn Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203615516310.52852/tcncyh.v203i6.5213Đặc điểm suy giảm nhận thức ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội bằng thang MoCA
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5233
<p class="p1">Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực trạng suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội bằng thang MoCA, theo thiết kế mô tả cắt ngang trên 763 người từ 60 tuổi trở lên trong thời gian từ tháng 01/2024 đến tháng 01/2025. Tỷ lệ suy giảm nhận thức là 70,4%, trong đó suy giảm nhận thức mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (46,1%). Điểm trung bình thang MoCA là 21,3 ± 6,3. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy nguy cơ suy giảm nhận thức cao hơn ở nữ giới, tăng rõ theo tuổi và cao hơn ở nhóm sống tại khu vực nông thôn. Trình độ học vấn cao có vai trò bảo vệ đối với suy giảm nhận thức. Các lĩnh vực nhận thức bị ảnh hưởng nhiều nhất là ghi nhớ có trì hoãn (90,8%) và thị giác không gian (81,9%), tiếp theo là khả năng tập trung chú ý, ngôn ngữ lưu loát và trừu tượng hóa. Trong khi đó, khả năng định hướng và gọi tên đồ vật là các lĩnh vực ít bị ảnh hưởng nhất.</p>Đoàn Thị HuệLê Thị Mỹ LinhNguyễn Văn TuấnLê Thị Thu Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203616417210.52852/tcncyh.v203i6.5233Đặc điểm khớp cắn trên hệ thống T-Scan Novus ở nhóm sinh viên có dấu hiệu nghiến răng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4957
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 45 sinh viên lớp Y2RHM và Y3RHM tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 nhằm mô tả đặc điểm khớp cắn ở nhóm có dấu hiệu nghiến răng bằng hệ thống T-Scan Novus. Tỷ lệ sinh viên nam chiếm 42,2% và nữ chiếm 57,8%. Ở nhóm nghiến răng khi thức, hình thức siết chặt răng chiếm 68,4%; ở nhóm nghiến răng khi ngủ, cọ xát răng chiếm 96,0% và siết chặt răng chiếm 4,0%. Tại vị trí lồng múi tối đa, lực cắn phân bố chủ yếu ở vùng răng sau, trong đó trung vị lực cắn vùng răng hàm lớn hàm dưới và hàm trên lần lượt đạt 37,75% và 34,15%, trong khi vùng răng trước có giá trị thấp nhất. Răng hàm lớn thứ hai là răng được ghi nhận chịu lực cắn mạnh nhất ở tỷ lệ cao nhất (60,0% số trường hợp), tiếp theo là răng hàm lớn thứ nhất (35,56%) và răng hàm lớn thứ ba (4,44%). Thời gian ăn khớp trung bình là 0,93 ± 0,34 giây và thời gian nhả khớp trung bình là 0,78 giây. Kết quả cho thấy hệ thống T-Scan Novus cung cấp các thông số định lượng về phân bố lực cắn và thời gian tiếp xúc khớp cắn ở nhóm sinh viên có dấu hiệu nghiến răng. Các kết quả này mang tính mô tả ban đầu, góp phần cung cấp thêm dữ liệu về đặc điểm tiếp xúc khớp cắn ở nhóm đối tượng này.</p>Đinh Quang ChiếnChử Tiến MạnhNguyễn Thị ChâuPhạm Thùy LinhNguyễn Thị Thanh HuyềnVũ Thị Quỳnh HàHoàng Thị Thu TrangTạ Thị TươiĐinh Thị Minh ThúyNguyễn Ngọc Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203617318110.52852/tcncyh.v203i6.4957Đánh giá đau lan tỏa, khuyết tật chức năng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân gút
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5262
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 81 bệnh nhân gút cấp và mạn tính được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2015, điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 4/2026. Kết quả cho thấy, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 53,7 ± 15,3; 91,4% nam giới, chỉ số khuyết tật chức năng trung vị là 0,875 (IQR: 0,375 – 1,25). Có 20/81 bệnh nhân xuất hiện tình trạng tăng nhạy cảm đau lan tỏa theo bộ câu hỏi Generalized Pain Questionnaire, chiếm tỷ lệ 24,7%. Trong nhóm bệnh nhân có đau lan tỏa, các triệu chứng gặp phổ biến nhất gồm đau khi có kích thích nhẹ trên bề mặt da (100%), đau sau ma sát (95%), đau kéo dài sau khi kích thích đã chấm dứt (100%) và cảm giác đau dữ dội hơn bình thường khi tiếp xúc với kích thích (100%). Phân tích hồi quy logistic đa biến, mô hình đạt chỉ số AUC là 0,943; p < 0,001; 95% CI: 0,892 – 0,995, mức độ đau khớp theo VAS và nồng độ acid uric trong huyết thanh được xác định là các yếu tố dự báo độc lập với tình trạng đau lan tỏa, trong đó điểm đau khớp theo VAS có vai trò nổi bật (p = 0,006), OR = 8,132 (95% CI: 1,818 – 36,37).</p>Trần Thị Thu PhươngNguyễn Thị Phương Thủy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203618219010.52852/tcncyh.v203i6.5262Đánh giá độc tính của siro Liver Zen trên động vật thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5186
<p class="p1">Siro Liver Zen là sản phẩm được bào chế từ các dược liệu, với mục đích sử dụng dự kiến để hỗ trợ điều trị các bệnh lý gan như viêm gan và rối loạn chức năng gan. Nghiên cứu này nhằm đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của siro Liver Zen trên chuột nhắt trắng chủng <em>Swiss</em>. Trong thử nghiệm độc tính cấp, chuột được cho uống siro với các mức liều tăng dần để xác định giới hạn an toàn. Kết quả cho thấy ở liều tối đa cho uống được 100 mL/kg, không xuất hiện biểu hiện độc tính và không ghi nhận trường hợp chuột chết. Trong nghiên cứu độc tính bán trường diễn, chuột được chia thành nhóm chứng và hai nhóm dùng siro với liều 9,6 và 28,8 mL/kg/ngày trong 4 tuần. Các chỉ tiêu được theo dõi bao gồm tình trạng chung, khối lượng cơ thể, huyết học, sinh hóa và đánh giá đại thể, vi thể gan – thận. Kết quả cho thấy hoạt độ AST và ALT ở các nhóm dùng siro Liver Zen giảm so với lô chứng sinh học, trong khi các chỉ số còn lại không có sự khác biệt đáng kể. Như vậy, siro Liver Zen không gây độc tính cấp và không gây độc tính bán trường diễn trên chuột nhắt trắng ở các mức liều nghiên cứu.</p>Đậu Thùy DươngPhạm Thị Vân AnhLê Quốc Kỳ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203619119910.52852/tcncyh.v203i6.5186Quá trình ra quyết định lâm sàng và một số yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Hà Nội - Phân hiệu Thanh Hóa năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5245
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 194 sinh viên điều dưỡng chính quy tại Trường Đại học Y Hà Nội – Phân hiệu Thanh Hóa năm 2025 nhằm mô tả quá trình ra quyết định lâm sàng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Kết quả: Điểm trung vị quá trình ra quyết định lâm sàng đạt 73 (IQR: 69 – 75), trong đó mức Bán phân tích – Trực giác chiếm ưu thế (75,3%). Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), giải thích 37,1% biến thiên của quá trình ra quyết định lâm sàng. Học lực, sự tự tin và điểm rèn luyện tốt là các yếu tố liên quan độc lập, trong đó học lực là yếu tố dự báo mạnh nhất trong mô hình.</p>Nguyễn Thu HàLê Khắc MạnhNguyễn Thành ChungNgọ Diệu LinhNguyễn Thị Kim OanhNguyễn Thị Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203620020810.52852/tcncyh.v203i6.5245Kết quả sống thêm sau phẫu thuật nội soi điều trị ung thư biểu mô tuyến dạ dày tại Bệnh viện K giai đoạn 2019 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5259
<p class="p1">Phẫu thuật nội soi ngày càng được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư dạ dày, đặc biệt ở các trường hợp giai đoạn sớm. Nghiên cứu hồi cứu trên 199 người bệnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày được phẫu thuật nội soi triệt căn tại Bệnh viện K, giai đoạn 2019 – 2025 nhằm đánh giá kết quả sống thêm và các yếu tố tiên lượng. 71,3% người bệnh thuộc giai đoạn 0–I. Tỷ lệ sống thêm toàn bộ sau 1, 3 và 5 năm lần lượt là 99,4%, 95,3% và 92,6%; tỷ lệ sống thêm không bệnh tương ứng là 95,6%, 89,7% và 81,2%. Phân tích đa biến cho thấy giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng độc lập ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sống thêm thuận lợi ở nhóm người bệnh ung thư dạ dày giai đoạn sớm được phẫu thuật nội soi triệt căn; trong đó giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng độc lập ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ.</p>Phạm Văn BinhLê Văn Thành
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203620921810.52852/tcncyh.v203i6.5259Can thiệp sớm trong viêm cân mạc hoại tử chi trên: Một loạt ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5277
<p class="p1">Viêm cân mạc hoại tử (Necrotizing Fasciitis – NF) là nhiễm trùng mô mềm tiến triển nhanh với tỷ lệ tử vong và mất chi cao; trì hoãn phẫu thuật làm tăng nguy cơ sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng. Nghiên cứu báo cáo 2 trường hợp NF chi trên nặng điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 nhằm đánh giá vai trò của phẫu thuật kiểm soát ổ nhiễm khuẩn sớm kết hợp điều trị đa mô thức. Cả hai bệnh nhân đều được hồi sức tích cực, dùng kháng sinh phổ rộng, lọc máu liên tục khi cần và cắt lọc sớm song song với hồi sức. Sau kiểm soát nhiễm khuẩn, VAC, ghép da và chuyển vạt tự do được áp dụng để tái tạo tổn khuyết. Trường hợp 1 là NF type I sau rắn hổ mang cắn với nhiễm khuẩn đa vi khuẩn và hội chứng chèn ép khoang; trường hợp 2 là NF type III do Vibrio vulnificus trên nền suy giảm miễn dịch. Cả hai bệnh nhân được phẫu thuật trước khi huyết động ổn định hoàn toàn, sau đó cải thiện toàn thân rõ rệt và bảo tồn được chi thể. Kết quả cho thấy phẫu thuật kiểm soát ổ nhiễm khuẩn sớm kết hợp hồi sức tích cực và tái tạo theo thì có vai trò quan trọng trong cải thiện sống còn và tăng khả năng bảo tồn chi thể ở bệnh nhân NF chi trên nặng.</p>Hoàng Tuấn AnhNguyễn Tiến Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203621922510.52852/tcncyh.v203i6.5277Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ tái phát cao
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5278
<p class="p1">Ung thư tuyến giáp thể biệt hóanguy cơ tái phát cao thường có đặc điểm xâm lấn rộng ngoài tuyến giáp, di căn hạch lớn và di căn xa, làm tăng tỷ lệ tái phát và tử vong. Nghiên cứu hồi cứu trên 79 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa nguy cơ tái phát cao được phẫu thuật tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội (01/2022 - 12/2023) cho thấy tỷ lệ xâm lấn thần kinh thanh quản quặt ngược, khí quản, thực quản lần lượt là 54,4%, 27,8% và 10,1%. Biến chứng sau mổ chủ yếu là khàn tiếng (25,3%) và tê bì tay chân (29,2%), với tỷ lệ biến chứng kéo dài > 6 tháng tương ứng là 10,1% và 12,7%. Nhóm xâm lấn rộng ngoài tuyến giáp (pT4a) có xu hướng biến chứng cao hơn (OR = 1,57), sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,519). Sau 6 tháng điều trị ban đầu, 39,2% đạt đáp ứng xuất sắc . Kết quả nhấn mạnh vai trò phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và vét hạch cổ trong kiểm soát tại chỗ và hỗ trợ điều trị I-131 ở nhóm nguy cơ cao.</p>Nguyễn Văn HoàngNguyễn Xuân HiềnPhạm Thái DươngNguyễn Xuân Hậu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203622623510.52852/tcncyh.v203i6.5278Kết cục thai kỳ xấu và yếu tố liên quan ở sản phụ tiền sản giật tại Hải Phòng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5024
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kết cục thai kỳ xấu ở 230 sản phụ mắc tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 01/2021 đến 12/2022 dựa vào thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Kết cục thai kỳ xấu được xác định khi có ít nhất một biến cố ở mẹ (tử vong, sản giật, HELLP, nhau bong non, tổn thương thận, phù phổi, xuất huyết não) hoặc ở con (thai nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung, tử vong chu sinh). Tỷ lệ kết cục thai kỳ xấu là 48,7% (KTC95%: 42,2 – 55,2). Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: nghề nghiệp công nhân (OR = 2,65; KTC95%: 1,21 – 5,8), huyết áp tâm thu ≥ 160 mmHg (OR = 2,04; KTC95%: 1,14 – 3,64), huyết áp tâm trương ≥ 110 mmHg (OR = 3,53; KTC95%: 1,42 – 8,75) và tiền sản giật có dấu hiệu tăng nặng (OR = 2,61; KTC95%: 1,44 – 4,74). Tỷ lệ kết cục thai kỳ xấu còn cao ở sản phụ tiền sản giật. Cần tăng cường sàng lọc, phát hiện sớm và quản lý phù hợp để giảm nguy cơ bất lợi cho mẹ và thai.</p>Nguyễn Thanh HảiBùi Văn Hiếu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203623624310.52852/tcncyh.v203i6.5024Tác dụng liền vết thương của Medicell Plus Premium trên mô hình gây tổn thương da thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5185
<p class="p1">Medicell Plus Premium là một chế phẩm dùng ngoài da chứa 11% dịch chiết nuôi cấy tế bào gốc tủy xương, kết hợp với chiết xuất từ tế bào hoa nhung tuyết (<em>Leontopodium alpinum</em>), cùng nhiều peptid và collagen thủy phân. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng liền vết thương và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium trên chuột nhắt trắng chủng <em>Swiss</em> bị gây tổn thương da. Chuột nhắt trắng được gây tổn thương da ở vùng gáy, sau đó điều trị tại chỗ bằng gel Contractubex (0,1 g/lần, 2 lần/ngày) hoặc Medicell Plus Premium (0,15 mL/lần, 1 hoặc 2 lần/ngày) trong 14 ngày liên tục. Kết quả nghiên cứu cho thấy Medicell Plus Premium có tác dụng thúc đẩy quá trình liền vết thương trên da chuột thông qua việc giảm diện tích tổn thương, tăng nồng độ hydroxyprolin trong da và cải thiện đặc điểm mô bệnh học tại vùng tổn thương so với lô mô hình. Ngoài ra, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số huyết học, chức năng gan, thận và cấu trúc vi thể của gan và thận giữa các lô điều trị bằng Medicell Plus Premium và lô chứng sinh học sau 14 ngày bôi thuốc. Như vậy, Medicell Plus Premium có tác dụng thúc đẩy liền vết thương và không gây độc tính toàn thân khi sử dụng tại chỗ trên chuột nhắt trắng bị gây tổn thương da.</p>Nguyễn Thị Thanh LoanTrần Thanh TùngTrần Sách Việt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203624425610.52852/tcncyh.v203i6.5185Dấu ấn miễn dịch dòng tủy và một số chỉ số tế bào máu ở bệnh nhi lơ xê mi cấp dòng lympho T
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5216
<p class="p1">Dấu ấn miễn dịch dòng tủy là biểu hiện bất thường ở bệnh nhi lơ xê mi cấp dòng lympho (ALL). Phân tích trên 265 bệnh nhi T-ALL cho thấy 56/265 trường hợp (21,1%) đồng biểu hiện ít nhất một dấu ấn dòng tủy; kiểu hình thường gặp nhất là CD13−CD33+CD117− (67,9%), trong đó CD33 là dấu ấn biểu hiện mạnh nhất (44,6% có biểu hiện dương tính mạnh). Tỷ lệ thiếu máu nặng gặp ở 30,2%. Số lượng Bạch cầu (BC) tăng cao (trung vị BC 116,71). Nhóm có dấu ấn dòng tuỷ (My+T-ALL) có số lượng tiểu cầu cao hơn (108 G/L so với 49 G/L, p < 0,0001), số lượng BC thấp hơn (35,7 G/L so với 131,7 G/L, p < 0,0001). Như vậy, T-ALL trẻ em có tỷ lệ đáng kể đồng biểu hiện dấu ấn dòng tủy, đồng thời có đặc điểm huyết học ngoại vi khác biệt theo hướng số lượng BC thấp hơn, số lượng tiểu cầu cao hơn ở (My+T-ALL).</p>Hoàng Thị HồngĐặng Hoàng HảiMai LanNguyễn Quang Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203625726310.52852/tcncyh.v203i6.5216Điều trị rò thực quản bằng kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi: Báo cáo loạt ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5243
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca bệnh, đánh giá độ an toàn và kết quả bước đầu điều trị rò thực quản bằng kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi. Tổng 11 trường hợp rò thực quản được điều trị bằng kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi (EVAC) tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (08/2023 - 03/2026). Tuổi trung vị là 61 tuổi (khoảng tứ phân vị 40 – 67,5 tuổi), tỷ lệ nam/nữ là 8/3. Rò miệng nối chiếm 36,4%, rò sau can thiệp 45,4% và rò tự phát 18,2%. Thời gian trung vị từ khi phẫu thuật đến khi chẩn đoán rò là 7 ngày; từ khi chẩn đoán rò đến khi đặt E-VAC là 7 ngày. Thời gian điều trị EVAC trung vị là 17 ngày với số lần thay EVAC trung vị 2 lần. Tỷ lệ đóng rò hoàn toàn đạt 72,7%. Thời gian nằm viện trung vị là 27 ngày (20 – 88 ngày). Kỹ thuật hút áp lực âm qua nội soi là phương pháp ít xâm lấn, an toàn và có kết quả tốt trong điều trị rò thực quản.</p>Nguyễn Trung ĐứcĐỗ Quang KhánhLê Quang HưngNguyễn Thị Thanh TâmLê Tuấn AnhHà Lương Duy KhánhNguyễn Đức AnhĐào Việt Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203626427010.52852/tcncyh.v203i6.5243Giá trị chỉ số Hounsfield trên cắt lớp vi tính trong phân biệt viêm xoang do nấm không xâm lấn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5286
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá giá trị của các chỉ số Hounsfield (HU) trên cắt lớp vi tính (CLVT) trong phân biệt viêm xoang do nấm không xâm lấn và viêm xoang mạn tính không do nấm. Đây là nghiên cứu hồi cứu trên 340 bệnh nhân có giải phẫu bệnh sau phẫu thuật, gồm 170 trường hợp fungus ball và 170 trường hợp không do nấm. Bốn chỉ số HU được đo trên vùng quan tâm của đám mờ xoang. Tất cả các chỉ số HU ở nhóm có nấm đều cao hơn có ý nghĩa thống kê. HU trung bình cho hiệu quả chẩn đoán tốt nhất với AUC 0,901; ngưỡng 42,4 HU đạt độ nhạy 90,0% và độ đặc hiệu 78,2%. HU tối đa có độ đặc hiệu cao hơn với ngưỡng 143,25 HU. Trong hồi quy đa biến, HU trung bình, HU tối đa và tuổi là yếu tố dự đoán độc lập. Phối hợp HU với dấu hiệu hình ảnh định tính làm tăng hiệu quả chẩn đoán, nhất là ở nhóm không có vôi hóa. Như vậy, HU là thông số định lượng hữu ích trong chẩn đoán trước phẫu thuật fungus ball xoang.</p>Lành Huyền DiệuNguyễn Thị Ngọc ÁnhLê Duy ChungPhạm Hồng Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203627127910.52852/tcncyh.v203i6.5286Kết cục thai kỳ và các yếu tố liên quan đến mức độ nặng ở thai phụ tiền sản giật khởi phát sớm tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5125
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả kết cục thai kỳ ở thai phụ tiền sản giật khởi phát sớm và phân tích một số yếu tố liên quan đến tiền sản giật có dấu hiệu nặng ở nhóm thai phụ này. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 216 bệnh nhân tiền sản giật khởi phát sớm (< 34 tuần) điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giai đoạn 2021 – 2025. Kết quả cho thấy tuổi mẹ trung bình là 32,5 ± 5,2 tuổi, tuổi thai nhập viện trung bình 30,4 ± 2,6 tuần, tỷ lệ thai chậm phát triển trong tử cung là 37,0%. Tỷ lệ mổ lấy thai cao (94,4%), đa số trường hợp sinh trước 34 tuần (81,9%), cân nặng sơ sinh trung vị là 1400g. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy protein niệu ≥ 3 g/l là yếu tố liên quan độc lập với tiền sản giật có dấu hiệu nặng (aOR = 1,86; KTC 95%: 1,04 – 3,31). Tiền sản giật khởi phát sớm liên quan đến tỷ lệ cao sinh non và biến chứng mẹ, protein niệu có thể là yếu tố gợi ý mức độ nặng trong thực hành lâm sàng.</p>Đặng Văn TốtVũ Văn DuMai Trọng HưngHồ Thị TrangNguyễn Thị Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203628028810.52852/tcncyh.v203i6.5125Ảnh hưởng của thở oxy lưu lượng cao, an thần tỉnh lên tần số thở, tần số tim và huyết áp trong đặt nội khí quản tỉnh bằng ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe hàm mặt
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5225
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của thở oxy lưu lượng cao qua ống thông mũi, an thần tỉnh lên tần số thở, tần số tim và huyết áp trong đặt nội khí quản tỉnh bằng ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên, có đối chứng ở 102 người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. So sánh hai nhóm: Nhóm 1 (n = 51) tiền oxy hóa bằng thở oxy lưu lượng cao qua ống thông mũi, an thần tỉnh, gây tê bề mặt đường hô hấp trên; nhóm 2 (n = 51) tiền oxy hóa bằng thở oxy lưu lượng thấp qua ống thông mũi, gây tê bề mặt đường hô hấp trên, không an thần. Kết quả: Các thời điểm ngay trước đặt nội khí quản, khi ống nội soi mềm qua thanh môn và ngay sau đặt nội khí quản, nhóm 1 có tần số thở, tần số tim, huyết áp tâm thu, huyết áp trung bình thấp hơn có ý nghĩa (p < 0,05) so với nhóm 2. Kết luận: Tiền oxy hóa bằng thở oxy lưu lượng cao qua ống thông mũi, an thần tỉnh giúp ổn định tần số thở, tần số tim, huyết áp trong đặt nội khí quản tỉnh qua ống nội soi mềm ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt.</p>Nguyễn Ngọc ThạchNguyễn Quang BìnhVõ Văn HiểnNguyễn Đăng ThứPhạm Quốc KhánhNguyễn Văn Luân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203628929910.52852/tcncyh.v203i6.5225Kết quả bước đầu hóa chất cảm ứng và hóa xạ đồng thời kĩ thuật IMRT/VMAT ung thư vòm mũi họng N3 tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5256
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả hồi cứu thực hiện trên 114 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng (UTVMH) giai đoạn di căn hạch N3 (giai đoạn IVA theo AJCC 8th) được điều trị tại Bệnh viện K giai đoạn năm 2019 - 2024. Phác đồ điều trị gồm hóa chất cảm ứng (IC) theo sau bởi hóa xạ đồng thời (HXĐT) kỹ thuật cao IMRT/VMAT. Mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả bước đầu của nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Nghiên cứu ghi nhận độ tuổi trung bình là 46,4, với tỷ lệ nam/nữ 2,08 và vị trí hạch cổ dưới mức bờ dưới sụn nhẫn thường gặp hơn hạch kích thước > 6 cm. Hạch phá vỡ vỏ có liên quan đến đáp ứng hoàn toàn bước đầu. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ sau IC đạt 97,3% và sau khi kết thúc điều trị đạt 94,7% (với 71,9% đáp ứng hoàn toàn). Việc phối hợp phác đồ IC và hóa xạ đồng thời kỹ thuật cao IMRT/VMAT giúp đạt được hiệu quả kiểm soát bệnh bước đầu khả quan.</p>Đỗ Xuân HàoNguyễn Văn Đăng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203630030910.52852/tcncyh.v203i6.5256Bất sản động mạch cảnh trong trái liên quan đến phình động mạch thông trước vỡ: Báo cáo ca bệnh hiếm gặp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5293
<p class="p1">Bất sản động mạch cảnh trong là một dị tật mạch máu bẩm sinh rất hiếm gặp, có thể làm thay đổi huyết động não và liên quan đến sự hình thành cũng như vỡ phình mạch nội sọ. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 35 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, vào viện vì xuất huyết dưới nhện do vỡ phình động mạch thông trước. Khảo sát hình ảnh mạch não cho thấy sự vắng mặt động mạch cảnh trong trái, kèm theo không có ống động mạch cảnh trái trên phim cắt lớp vi tính nền sọ và dựng hình mạch. Hệ tuần hoàn não được bù trừ theo kiểu kết hợp type A và B theo phân loại Lie, trong đó động mạch não trước trái được cấp máu qua động mạch thông trước, còn động mạch não giữa trái nhận máu chủ yếu từ hệ tuần hoàn sau qua động mạch thông sau và một phần từ động mạch thông trước. Bệnh nhân được chỉ định nút mạch. Sau 1 tháng theo dõi, tình trạng lâm sàng ổn định và không ghi nhận túi phình tồn dư trên hình ảnh học.</p>Phạm DuyNgô Mạnh Hùng Trần Sơn TùngNguyễn Lê Minh TiếnNguyễn Trọng Hiệp
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203631031710.52852/tcncyh.v203i6.5293Đánh giá mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống và mức độ lo âu ở người bệnh điều trị lo âu ngoại trú
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5005
<p class="p1">Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất, gây ra sự suy giảm chức năng xã hội và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 214 người bệnh khám và điều trị rối loạn lo âu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ tháng 7/2025 đến tháng 12/2025 nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống và mối liên quan giữa điểm chất lượng cuộc sống và mức độ lo âu. Nghiên cứu được tiến hành thông qua thăm khám lâm sàng và bệnh án nghiên cứu, trong đó có thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống SF-36 và thang điểm đánh giá lo âu Zung. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 36,7 ± 12,2, với phần lớn là nữ giới, đã kết hôn và ở cùng gia đình. Chất lượng cuộc sống có mối quan hệ nghịch biến với mức độ lo âu theo phương trình: y = 108 – 1,11x. Tình trạng lo âu càng tăng thì chất lượng cuộc sống càng giảm, đặc biệt khi mức độ lo âu chuyển từ nhẹ-trung bình sang nặng, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và điều trị hiệu quả các triệu chứng lo âu nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.</p>Dương Khánh DuyĐỗ Thị HiênNguyễn Thảo VânPhạm Thị Thu HườngPhạm Thành Luân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203631832610.52852/tcncyh.v203i6.5005Can thiệp nội mạch lấy huyết khối ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp do tắc động mạch cảnh hai bên: Báo cáo ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5013
<p class="p1">Tắc cấp động mạch cảnh hai bên là một tình trạng đột quỵ rất hiếm gặp và có tiên lượng rất xấu nếu không được can thiệp kịp thời. Tái thông dòng chảy hai bên sớm nhất là lựa chọn duy nhất để bảo tồn chức năng thần kinh của bệnh nhân. Chúng tôi báo cáo ca lâm sàng bệnh nhân nữ 44 tuổi có tiền sử suy tim, rung nhĩ; sau khi đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn 6 giờ bệnh nhân đột ngột hôn mê với điểm Glasgow (GCS) 6 điểm. Cắt lớp vi tính sọ-mạch não ghi nhận tắc hoàn toàn động mạch cảnh chung phải và tắc hoàn toàn động mạch cảnh trong trái từ đoạn gốc. Bệnh nhân được can thiệp lấy huyết khối cơ học bằng phương pháp hút huyết khối đơn thuần tuần tự từng bên. Tái thông động mạch cảnh cả hai bên được ghi nhận tại thời điểm 46 phút tính từ khi chọc động mạch đùi và đạt tái thông hoàn toàn (TICI 3) cả hai bên. Sau 24 giờ bệnh nhân hồi phục tốt, tỉnh hoàn toàn (GCS 15 điểm), NIHSS 4 điểm. Qua ca lâm sàng này chúng tôi muốn mô tả một bệnh cảnh lâm sàng hiếm gặp tắc động mạch cảnh hai bên, khởi phát nặng nề, cần được can thiệp tái thông nhanh chóng.</p>Phan Nhân HiểnĐỗ Đặng KhánhBùi Văn ĐoàiLê Tuấn Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203632733410.52852/tcncyh.v203i6.5013Nhiễm Helicobacter pylori và yếu tố liên quan ở bệnh nhân loét dạ dày - tá tràng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5025
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện, trên 106 bệnh nhân viêm, loét dạ dày – tá tràng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp từ 01/01/2024 đến 31/03/2024 nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> (<em>HP</em>) ở bệnh nhân này. Nghiên cứu thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học, thói quen ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh, sử dụng thuốc và tiền sử bệnh. Thống kê mô tả với biến định lượng và định tính, test X<sup>2 </sup>hoặc Fisher’s exact test để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm <em>HP</em> là 29,25%. Yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê là tiền sử bệnh lý dạ dày – tá tràng (OR = 6,99; KTC 95%: 2,38 – 32,04; p < 0,0001). Cần tăng cường sàng lọc <em>HP</em> có trọng điểm, đặc biệt ở nhóm có tiền sử bệnh dạ dày – tá tràng. Nghiên cứu tiếp theo nên sử dụng thiết kế dọc để đánh giá nguy cơ tái nhiễm và vai trò của các yếu tố khác như kháng kháng sinh, hành vi sức khỏe và điều kiện sống.</p>Nguyễn Thanh HảiĐỗ Xuân BáchPhạm Chính Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203633534410.52852/tcncyh.v203i6.5025Kết quả 5 năm điều trị u tế bào mầm nội sọ biểu hiện 2 vị trí trên yên và tuyến tùng tại Bệnh viện K giai đoạn 2020 - 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5047
<p class="p1">U tế bào mầm nội sọ biểu hiện 2 vị trí (bifocal) là nhóm bệnh hiếm gặp với khối u biểu hiện đồng thời ở vùng tuyến tùng và trên yên. Nghiên cứu hồi cứu trên 15 BN “bifocal” được điều trị hóa chất cảm ứng theo sau là xạ trị dựa trên phân tầng nguy cơ tại Bệnh viện K giai đoạn 2020 – 2024. Về mô bệnh học, 60% là germinoma và 40% là non-germinoma. Các BN đều là nam giới, tuổi trung bình 17 ± 5,8. Tại thời điểm chẩn đoán, 53,3% BN có đái tháo nhạt và 53,3% có tổn thương di căn. Về chỉ điểm u, có sự không đồng nhất giữa máu và dịch não tủy: 6/15 bệnh nhân (40%) có tăng β-HCG dịch não tủy > 50 UI/mL trong khi chỉ 2/6 trường hợp có tăng trong máu; 1/15 bệnh nhân có tăng AFP máu 123,1 ng/mL trong khi AFP dịch não tủy không tăng. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ tăng từ 40% sau hóa chất lên 60% sau xạ trị. Sau thời gian theo dõi trung bình 44 ± 18 tháng, 93,3% bệnh nhân chưa xuất hiện tái phát, di căn.</p>Nguyễn Văn ĐăngNguyễn Thị Thu Nhung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203634535510.52852/tcncyh.v203i6.5047Nồng độ CA-125 huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5073
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 130 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 06/2025 đến tháng 02/2026 nhằm khảo sát nồng độ CA-125 huyết thanh và phân tích một số yếu tố liên quan. Kết quả ghi nhận nồng độ CA-125 trung vị là 29,95 (12,60 – 48,60) U/mL. Nồng độ CA-125 cao hơn ở nhóm Killip II–IV và nhóm LVEF < 40% so với các nhóm còn lại với p < 0,001. CA-125 tương quan thuận với NT-proBNP (r = 0,705; p < 0,001) và Troponin T-hs tại thời điểm 0 giờ (r = 0,200; p = 0,023), đồng thời tương quan nghịch với LVEF (r = -0,441; p < 0,001) và eGFR (r = -0,283; p = 0,001). Trong mô hình đa biến, Killip II–IV, LVEF <40% và eGFR giảm vẫn liên quan có ý nghĩa với nồng độ CA-125. Kết quả gợi ý CA-125 có thể là chỉ dấu bổ sung khi đánh giá tình trạng sung huyết và gánh nặng huyết động nhưng cần diễn giải thận trọng.</p>Trịnh Thanh SơnNguyễn Văn HoàngNguyễn Thị Diễm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203635636410.52852/tcncyh.v203i6.5073Giá trị thang điểm CLIF-C ACLF trong dự báo kết quả điều trị ở bệnh nhân suy gan cấp trên nền mạn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5084
<p class="p1">Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 132 bệnh nhân xơ gan mất bù cấp điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận từ 06/2025 đến 1/2026 ghi nhận tỷ lệ suy gan cấp trên nền mạn là 44,7%, không có trường hợp tử vong nội viện. So với nhóm không ACLF, nhóm ACLF có bilirubin toàn phần, creatinin, kali, AST, ALT, INR, điểm CLIF-C OF và điểm CLIF-C ACLF cao hơn, trong khi natri và albumin thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Ở nhóm bệnh nhân ACLF, các trường hợp không cải thiện sau điều trị có bạch cầu, INR, điểm CLIF-C OF và điểm CLIF-C ACLF cao hơn, đồng thời albumin thấp hơn so với nhóm cải thiện. Thang điểm CLIF-C ACLF có giá trị dự báo không cải thiện sau điều trị với điểm cắt tối ưu 58, độ nhạy 83,3% và độ đặc hiệu 68,3%. Kết quả gợi ý CLIF-C ACLF có thể hỗ trợ nhận diện sớm bệnh nhân ACLF có nguy cơ đáp ứng kém, qua đó góp phần phân tầng nguy cơ và định hướng theo dõi, xử trí phù hợp trong thực hành lâm sàng.</p>Hồ Thế DũngThái Thị Hồng NhungNguyễn Thanh Liêm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203637738610.52852/tcncyh.v203i6.5084Tổn thương thận cấp do thuốc điều trị ung thư: Tổng quan tường thuật
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5077
<p class="p1">Tổn thương thận cấp (AKI) là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư, có thể gây gián đoạn điều trị và tăng nguy cơ nhập viện, tử vong. Tổng quan tường thuật này nhằm làm rõ dịch tễ, cơ chế, kiểu hình tổn thương, yếu tố nguy cơ, dự phòng và xử trí AKI liên quan thuốc điều trị ung thư toàn thân. Độc tính thận thay đổi theo từng nhóm thuốc: cisplatin chủ yếu gây tổn thương ống thận phụ thuộc liều; methotrexate liều cao gây bệnh thận do kết tinh; ifosfamide liên quan độc tính ống lượn gần và hội chứng Fanconi. Thuốc nhắm trúng đích có thể gây protein niệu, vi huyết khối mạch máu hoặc tăng creatinin giả, trong khi liệu pháp miễn dịch thường liên quan viêm kẽ thận cấp. Các biện pháp dự phòng quan trọng gồm phân tầng nguy cơ, tối ưu dịch – điện giải, hạn chế thuốc độc thận không cần thiết và theo dõi sớm chức năng thận. Nhận diện sớm cơ chế và kiểu hình AKI giúp cá thể hóa xử trí, duy trì điều trị và cải thiện kết cục lâm sàng.</p>Trần Tuấn TúĐặng Thị Thanh PhươngNguyễn Đặng Chí HùngTrần Hoàng Yến
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203636537610.52852/tcncyh.v203i6.5077Nghiên cứu độc tính cấp và tác dụng hỗ trợ sinh sản của myo-inositol và các thành phần phối hợp trên mô hình động vật thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5087
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá độc tính cấp và tác dụng cải thiện khả năng sinh sản của chế phẩm phối hợp chứa myo-inositol (S-FEMME) trên động vật thực nghiệm. Độc tính cấp được xác định trên chuột cống <em>Wistar</em> theo OECD 423. Tác dụng cải thiện sinh sản được đánh giá trên chuột nhắt cái <em>Swiss</em> trong 30 ngày. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm tỷ lệ mang thai, số lượng phôi làm tổ và nồng độ estrogen huyết thanh. Kết quả cho thấy S-FEMME không gây độc tính cấp ở liều tới hạn 5000 mg/kg. Ở chuột nhắt, nồng độ estrogen ở các lô S-FEMME có xu hướng tăng so với lô chứng. Tổng số phôi làm tổ lần lượt là 52 và 65 phôi, cao hơn so với lô chứng (50 phôi), với số phôi trung bình là 8,50; 8,67 và 9,29. Như vậy, S-FEMME được phân loại vào nhóm không phân loại độc tính (unclassified) theo hệ thống GHS, với LD<sub>50</sub> ước tính lớn hơn 5000 mg/kg thể trọng và có xu hướng cải thiện khả năng sinh sản ở chuột nhắt thông qua việc tăng tỷ lệ mang thai, số lượng phôi làm tổ và nồng độ estrogen huyết thanh.</p>Trần Thanh TùngChâu Thành QuangĐặng Thị Thu Hiên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203638739510.52852/tcncyh.v203i6.5087Ảnh hưởng của S-Men lên thế hệ chuột F1 trên mô hình chuột nhắt đực bị gây suy giảm sinh sản do natri valproat
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5091
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm S-Men lên sự phát triển thế hệ chuột F1 sinh ra từ chuột nhắt đực bị suy giảm sinh sản bởi natri valproat (NVP). Chuột đực trưởng thành chủng <em>Swiss</em> được gây mô hình bằng NVP liều 500 mg/kg/ngày, sau đó cho uống S-Men liều 1096 mg/kg/ngày và 2192 mg/kg/ngày trước khi ghép cặp với chuột cái khỏe mạnh. Các chỉ tiêu đánh giá trên thế hệ F1 gồm: tỷ lệ mang thai, tổng số thai, tỷ lệ thai sống/chết, số lượng chuột con, tỷ lệ sống và sự thay đổi trọng lượng sau sinh. Kết quả cho thấy NVP ở chuột bố có xu hướng làm giảm khả năng sinh sản và gây ảnh hưởng bất lợi đến thế hệ con, thể hiện qua việc giảm tỷ lệ mang thai và tăng tỷ lệ tử vong chuột con. Việc điều trị bằng S-Men, đặc biệt ở liều 2192 mg/kg/ngày, có xu hướng cải thiện một số chỉ số sinh sản và sự phát triển của F1, dù một số chỉ tiêu chưa đạt ý nghĩa thống kê. Kết quả bước đầu cho thấy S-Men có tiềm năng hỗ trợ phục hồi chức năng sinh sản.</p>Trần Thanh TùngNguyễn Thành Trí
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203639640310.52852/tcncyh.v203i6.5091Thực trạng kiến thức của bà mẹ về viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa Nhi - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5096
<p class="p1">Viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó kiến thức của người chăm sóc đóng vai trò quan trọng trong phát hiện và xử trí bệnh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 119 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc viêm phổi tại khoa Nhi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ tháng 6 đến tháng 9/2025, nhằm mô tả kiến thức của bà mẹ về viêm phổi. Kết quả cho thấy 77,3% bà mẹ có kiến thức “ĐẠT”, cao nhất là kiến thức về bệnh viêm phổi (90,8%), tiếp đến là dự phòng (70,6%), và thấp nhất là chăm sóc trẻ mắc viêm phổi (52,9%). Tỷ lệ nhận biết đúng nguyên nhân, yếu tố nguy cơ, các dấu hiệu và triệu chứng thường gặp đều trên 90%, nhưng nhận biết dấu hiệu nặng như rút lõm lồng ngực còn thấp (69,7%). Khi trẻ có dấu hiệu bệnh, có 80,7% bà mẹ chọn đưa trẻ đến bệnh viện, 47,9% đến trạm y tế gần nhất và 28,6% đến phòng khám tư; trong khi 7,6% mua thuốc tại nhà thuốc và 0,8% để trẻ tự hết.</p>Phạm Hồng GấmNguyễn Trọng PhướcNguyễn Thị DungNguyễn Thị Hồng NhungNguyễn Thị Thu HiềnNguyễn Thị Diệu ThúyNguyễn Thị Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203640441210.52852/tcncyh.v203i6.5096Mức độ hợp tác ban đầu và kết quả quản lý hành vi không dùng thuốc trong điều trị nha khoa ở trẻ 3 – 6 tuổi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5134
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá tình trạng bệnh lý, mức độ hợp tác ban đầu và hiệu quả quản lý hành vi không dùng thuốc trong điều trị nha khoa ở trẻ 3 – 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Thiết kế tiến cứu mô tả trên 211 trẻ. Mức độ hợp tác ban đầu được đánh giá bằng thang Frankl, hành vi trong điều trị theo thang Houpt. Kết quả cho thấy đa số trẻ có hợp tác ban đầu thấp (Frankl 1–2: 80,6%), trong bối cảnh bệnh lý răng miệng nặng với chỉ số dmft trung bình cao (9,1 ± 3,5) và phần lớn thủ thuật gây đau, có tiêm tê (65,9%). Tuy nhiên, tỷ lệ hoàn tất điều trị vẫn cao (84,4%). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ hợp tác ban đầu theo Frankl và khả năng hoàn tất điều trị. Ngược lại, thang Houpt liên quan chặt chẽ hơn với diễn biến lâm sàng, đặc biệt với nhu cầu kìm giữ (p < 0,05). Kết quả cho thấy quản lý hành vi không dùng thuốc vẫn hiệu quả trong đa số trường hợp, kể cả ở trẻ hợp tác ban đầu thấp.</p>Phạm Quốc KhánhVõ Trương Như NgọcTrịnh Đỗ Vân NgàĐỗ Văn CẩnNguyễn Thị Phương HoaPhạm Phúc KhánhTrần Nguyên Hạnh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203641342210.52852/tcncyh.v203i6.5134Mối tương quan giữa kích thước khe niệu dục và mức độ sa tạng chậu trên cộng hưởng từ động sàn chậu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5153
<p class="p1">Đánh giá mối tương quan giữa kích thước khe niệu dục (urogenital hiatus – UGH) và mức độ sa tạng chậu ở phụ nữ trên cộng hưởng từ động sàn chậu, trên 80 bệnh nhân nữ được chẩn đoán sa tạng chậu và được thực hiện cộng hưởng từ động sàn chậu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 06/2023 đến 12/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 60,5 ± 14,1; 75,0% đã mãn kinh. Tỷ lệ sinh thường là 86,3% và 92,5% có từ hai lần sinh trở lên. Đường kính trước sau và diện tích khe niệu dục có mối tương quan mức độ từ yếu đến trung bình với sa tạng chậu (r<sub>s</sub> = 0,367 - 0,595; p < 0,05). Đường kính ngang có tương quan yếu với sa bàng quang, sa tử cung, sa túi cùng Douglas (r<sub>s</sub> = 0,257 - 0,398; p < 0,05), và không có ý nghĩa tương quang với sa trực tràng (r<sub>s</sub> = 0,066; p > 0,05). Kết luận: Kích thước khe niệu dục, đặc biệt là đường kính trước sau và diện tích, có mối tương quan với mức độ sa tạng chậu. Cộng hưởng từ động sàn chậu là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hữu ích giúp cung cấp rõ ràng các thông số của khe niệu dục. Cần có các nghiên cứu đối chiếu lâm sàng tiếp theo để thiết lập ngưỡng cắt và giá trị chẩn đoán.</p>Đinh Thị HảoHoàng Đình ÂuLê Tuấn LinhBùi Tuấn ĐạtĐỗ Tất Thành
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203642343010.52852/tcncyh.v203i6.5153Tác dụng điều trị bỏng của Medicell Plus Premium trên mô hình gây bỏng nhiệt thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5184
<p class="p1">Medicell Plus Premium là chế phẩm bôi ngoài da chứa 11% dịch chiết nuôi cấy của tế bào gốc tủy xương, kết hợp với chiết xuất từ tế bào hoa nhung tuyết (Leontopodium alpinum), cùng nhiều peptid và collagen thủy phân. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị bỏng của Medicell Plus Premium trên mô hình bỏng nhiệt ở chuột cống trắng. Chuột được gây bỏng nhiệt trên da lưng bằng dụng cụ kim loại. Dexpanthenol và Medicell Plus Premium được bôi ngay sau khi gây bỏng và duy trì trong 21 ngày. Các chỉ số đánh giá bao gồm đặc điểm tổn thương tại chỗ, diện tích vết bỏng theo thời gian, hàm lượng hydroxyprolin trong mô da và đặc điểm mô bệnh học tại vị trí tổn thương. Kết quả cho thấy Medicell Plus Premium liều 0,2 ml/lần, một lần/ngày hoặc hai lần/ngày, có tác dụng làm giảm diện tích vết bỏng và tăng nồng độ hydroxyprolin trong da có ý nghĩa thống kê so với lô mô hình. Ngoài ra, Medicell Plus Premium cải thiện cấu trúc vi thể da, với biểu hiện tái tạo biểu bì một phần và giảm mức độ viêm. Do đó, Medicell Plus Premium cho thấy hiệu quả trong điều trị bỏng nhiệt thực nghiệm trên chuột cống trắng.</p>Trần Thanh TùngNguyễn Thị Thanh Loan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203643144110.52852/tcncyh.v203i6.5184Kết quả bước đầu ghép gan trẻ em từ người hiến chết não: Báo cáo loạt ca bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5234
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu mô tả 5 ca ghép gan trẻ em từ người hiến chết não (DDLT) tại Bệnh viện Nhi Trung ương (độ tuổi 8 - 48 tháng). Quá trình điều phối tạng ghi nhận thời gian thiếu máu lạnh dao động từ 40 phút đến 7 giờ. Để xử lý các biến thể phức tạp, phẫu thuật viên đã áp dụng cá thể hóa nhiều kỹ thuật chuyên sâu: cắt giảm thể tích mảnh ghép, xẻ chéo hoặc nối ngã ba tĩnh mạch cửa, khâu tạo hình trùm đa ống mật có đặt stent, thắt động mạch lách và đóng thành bụng trì hoãn. Kết quả sớm sau thời gian theo dõi trung bình 3,6 tháng ghi nhận không có rò mật hay huyết khối tĩnh mạch cửa; 1 trường hợp hẹp động mạch và thải ghép cấp sau 3 tháng đã can thiệp nội mạch và đang áp dụng phác đồ ức chế miễn dịch. Nghiên cứu bước đầu cho thấy tính khả thi và an toàn về mặt ngoại khoa của DDLT nhi khoa trong theo dõi ngắn hạn, cần có nghiên cứu với cỡ mẫu lớn và thời gian theo dõi dài hơn.</p>Phạm Duy HiềnVũ Mạnh HoànTrần Anh QuỳnhNguyễn Lý Thịnh TrườngNguyễn Phạm Anh HoaĐặng Ánh DươngThiều Tăng ThắngDương Đức Hùng Ninh Việt KhảiTrần Minh ĐiểnTrần Đức TâmNguyễn Thọ AnhTrần Xuân NamNguyễn Công SơnHồ Tuấn HoàngĐỗ Văn KhangPhan Hồng Long
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203644245210.52852/tcncyh.v203i6.5234Giải phẫu động mạch tử cung trên phim chụp mạch và ứng dụng trong can thiệp nút mạch điều trị u xơ tử cung
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5260
<p class="p1">Động mạch tử cung là một nhánh của động mạch chậu trong, có đường đi đặc trưng trong dây chằng rộng, có sự phân nhánh phong phú và tiếp nối rộng với các mạch vùng chậu. U xơ tử cung là khối u lành tính thường gặp ở phụ nữ, được nuôi dưỡng bởi các nhánh của động mạch tử cung. Nút động mạch tử cung là một phương pháp điều trị ít xâm lấn và hiệu quả trong kiểm soát triệu chứng và làm giảm kích thước u xơ. Việc nắm vững giải phẫu động mạch tử cung trên hình ảnh chụp mạch giúp xác định chính xác các nhánh nuôi u, phát hiện các biến thể giải phẫu và các nguồn cấp máu phụ, từ đó nâng cao tỷ lệ thành công kỹ thuật đồng thời giảm thiểu biến chứng.</p>Trần Quốc HoàNguyễn Ngọc ÁnhLê Văn DũngNgô Xuân KhoaNguyễn Văn HuyChu Văn Tuệ BìnhNguyễn Thị ĐịnhNgô Thành ÝTrần Xuân Quang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203645346110.52852/tcncyh.v203i6.5260Khảo sát thái độ của bác sĩ răng hàm mặt về việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán viêm xương khớp khớp thái dương hàm trên phim panorama
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4912
<p class="p1">Trí tuệ nhân tạo (AI) đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực Răng Hàm Mặt, bao gồm phân tích phim X-quang và hỗ trợ chẩn đoán bệnh lý. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tính khả thi và mức độ chấp nhận của bác sĩ Răng Hàm Mặt đối với việc áp dụng AI trong chẩn đoán viêm xương khớp khớp thái dương hàm (TMJOA) trên phim Panorama. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 68 bác sĩ đang công tác tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi 20 mục, gồm bốn lĩnh vực: tính khả thi, lợi ích, rào cản và sự chấp thuận. Kết quả cho thấy điểm trung bình của các lĩnh vực đều ở ngưỡng 4,0 trở lên (trên thang điểm 5), với điểm trung bình tổng thể của bộ câu hỏi đạt 4,296 ± 0,559. Các rào cản chính bao gồm chi phí, hành lang pháp lý và bảo mật dữ liệu. Nhìn chung, bác sĩ có thái độ tích cực đối với ứng dụng AI trong chẩn đoán TMJOA.</p>Nguyễn Mạnh ThànhNguyễn Chí ThànhLê Thị Thu HồngPhùng Thị HuyềnĐặng Triệu HùngTrương Mạnh NguyênNguyễn Thị Thanh QuỳnhNguyễn Thị Thu PhươngBùi Mỹ HạnhLê Thị Ngọc AnhLê Tuấn NgọcPhạm Đắc Quân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203646247310.52852/tcncyh.v203i6.4912Nhận xét sự thay đổi chỉ số bạch cầu lympho bắt tín hiệu huỳnh quang cao (HFLC) trên bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5022
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả số lượng và tỷ lệ HFLC ở bệnh nhân SXH dengue tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang; Phân tích sự biến đổi HFLC theo giai đoạn bệnh và mức độ bệnh. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 190 bệnh nhân SXH dengue tại bệnh viện đa khoa Đức Giang (10/2024 – 10/2025). Nhóm chứng là 160 người khỏe mạnh. Chỉ số HFLC được đo bằng máy sysmex XN-1000. Phân tích thống kê bằng SPSS 20.0. Tuổi trung vị 32 (IQR 24 – 44), nam 62,6%; Không có dấu hiệu cảnh báo 38,9%, có dấu hiệu cảnh báo 51,1%, dengue nặng 10,0%. HFLC tăng liên tục từ nhập viện, đạt đỉnh ngày 5 (HFLC# 0,91 G/L; HFLC% 21,7%) trùng ngày PLT thấp nhất (29 G/L). Tại thời điểm chẩn đoán, HFLC# ≥ 0,11 G/L đạt AUC 0,941 (95%CI: 0,918 – 0,964), độ nhạy 84,2%, độ đặc hiệu 91,3%. Kết hợp HFLC# + PLT nâng AUC lên 0,963. Trong 97 bệnh nhân có dấu hiệu cảnh báo, 15 BN (15,5%) chuyển Dengue nặng trung vị ngày 6; ngưỡng HFLC# ≥ 0,56 G/L tại nhập viện (AUC 0,874; NPV 96,6%) và HFLC# ≥ 1,18 G/L ngày sát trước chuyển nặng (AUC 0,948; NPV 97,5%).</p>Nguyễn Hoài NamNguyễn Tuấn TùngNguyễn Phương Thúy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203647448210.52852/tcncyh.v203i6.5022Kết quả sớm của tiêm cồn tuyệt đối diệt nang vú lành tính dưới hướng dẫn siêu âm kết hợp băng ép
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5155
<p class="p1">Nang vú lành tính là tình trạng phổ biến ở phụ nữ, có thể gây đau và lo lắng, cần được điều trị khi có triệu chứng. Nghiên cứu can thiệp trước–sau, không có nhóm chứng, được thực hiện trên 30 bệnh nhân với 40 nang vú nhằm đánh giá kết quả sớm và yếu tố liên quan đến biến chứng của phương pháp tiêm cồn tuyệt đối dưới hướng dẫn siêu âm kết hợp băng ép. Kết quả được đánh giá bằng siêu âm sau 1 tuần. Trung vị thể tích nang giảm từ 5,85 mL xuống 0,00 mL sau điều trị, với trung vị tỷ lệ giảm thể tích đạt 100,0% với p < 0,001. Tỷ lệ xẹp hoàn toàn sau điều trị đạt 67,5%. Biến chứng sớm sau thủ thuật gặp với tỷ lệ thấp, gồm bầm tím da (7,5%), chảy máu trong nang (5,0%) và dò cồn khỏi nang (2,5%). Trong phân tích thăm dò, nhóm có biến chứng có thể tích nang trước điều trị và thể tích cồn tiêm cao hơn nhóm không biến chứng. Kết quả bước đầu cho thấy tiêm cồn tuyệt đối dưới hướng dẫn siêu âm kết hợp băng ép có hiệu quả trong giảm thể tích nang vú lành tính sau 1 tuần, với tỷ lệ biến chứng thấp. Cần có thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá hiệu quả lâu dài và tỷ lệ tái phát.</p>Phạm Ngọc ĐềTrương Thị LyNgô Hà Tú NhiTrần Văn ChâuHồ Xuân Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203648349010.52852/tcncyh.v203i6.5155Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối diễn tiến phức tạp, đáp ứng với rituximab: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5164
<p class="p1">Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (TTP) là bệnh lý huyết khối vi mạch hiếm gặp, đe dọa tính mạng. Mặc dù, các chiến lược điều trị hiện đại đã cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh, việc kiểm soát các trường hợp có diễn tiến phức tạp vẫn là một thách thức trong thực hành lâm sàng. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 64 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, nhập viện vì sốt và tiêu chảy. Diễn tiến lâm sàng nhanh chóng xấu đi với biểu hiện thần kinh khu trú, kèm giảm tiểu cầu nặng và bằng chứng thiếu máu tan máu vi mạch. Tình trạng giảm tiểu cầu tái diễn sau khi ban đầu phục hồi trên 150 × 10<sup>9</sup>/L và 5 lần trao đổi huyết tương (TPE) phản ánh một diễn tiến huyết học không ổn định và đáp ứng chưa đầy đủ với liệu pháp ban đầu; đồng thời, hoạt độ ADAMTS13 giảm nặng củng cố chẩn đoán TTP. Việc bổ sung rituximab kịp thời kết hợp tăng cường TPE mang lại cải thiện rõ rệt với sự phục hồi số lượng tiểu cầu và hồi phục hoàn toàn tình trạng thần kinh. Ca bệnh này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện sớm TTP và vai trò của rituximab trong các trường hợp có diễn tiến phức tạp.</p>Nguyễn Tiến ĐạtVõ Hoàng Long
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203649150110.52852/tcncyh.v203i6.5164Ảnh hưởng huyết động của chiến lược PEEP kết hợp huy động phế nang dưới hướng dẫn cắt lớp trở kháng điện trong gây mê cho phẫu thuật đại trực tràng nội soi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5203
<p class="p1">Đánh giá ảnh hưởng của chiến lược PEEP kết hợp huy động phế nang (RM) dưới hướng dẫn cắt lớp trở kháng điện (EIT) lên huyết động trong phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng. Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 93 người bệnh, gồm 48 trường hợp nhóm PEEP 5 và 45 trường hợp nhóm có RM và duy trì PEEP theo EIT. Các chỉ số phân tích gồm huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, huyết áp trung bình, nhịp tim, mức PEEP duy trì, số lần RM, tỷ lệ tụt huyết áp liên quan RM, nhu cầu dùng thuốc vận mạch và rối loạn nhịp. Kết quả cho thấy các chỉ số này không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm. Ở nhóm PEEP/RM theo EIT, mức PEEP duy trì trung bình là 10,25 ± 2,30 cmH<sub>2</sub>O, số lần RM trung bình là 3,69 ± 0,56. Ghi nhận 34 /169 lần RM có tụt huyết áp (20,11%), gặp nhiều nhất ở RM lần 4; đa số mức độ nhẹ đến trung bình (10 - 20%). Vì vậy, khi thực hiện RM vẫn cần theo dõi liên tục và sẵn sàng hỗ trợ tuần hoàn trong quá trình RM.</p>Phạm Thị Thanh HuyềnNguyễn Hữu TúNguyễn Đăng ThứNguyễn Toàn Thắng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203650251110.52852/tcncyh.v203i6.5203Đa hình C+3954T gen IL-1β và đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân viêm dạ dày tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2023 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4954
<p class="p1">Nghiên cứu trên 392 bệnh nhân viêm dạ dày, gồm 196 bệnh nhân nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> (<em>H. pylori</em>) và 196 bệnh nhân không nhiễm. Tỷ lệ nam và nữ tương đối tương đồng, nhóm tuổi 31 – 59 chiếm đa số. Đau thượng vị là triệu chứng thường gặp nhất. Bệnh nhân có ≥ 3 triệu chứng liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng nhiễm <em>H. pylori</em> (OR = 2,06; KTC (95%): 1,12 – 3,78). Đa hình C+3954T của gen IL-1β có kiểu gen CT chiếm tỷ lệ cao nhất (50,0%), trong khi CC và TT đều 25,0%; Tần suất alen C và T tương đương (50,0%). Theo mô hình trội, kiểu gen CC có liên quan đến tình hình nhiễm <em>H. pylori</em> so với nhóm mang ít nhất một alen T (OR = 1,73; KTC 95%: 1,08 – 2,76; p = 0,020). Tuy nhiên khi so sánh với số lượng triệu chứng lâm sàng, đa hình này chưa ghi nhận liên quan có ý nghĩa (p > 0,05).</p>Phạm Hùng PhongHồ Tấn PhátVõ Duy ThôngTrần Viết An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203651252110.52852/tcncyh.v203i6.4954Một số yếu tố liên quan đến kết cục tử vong của bệnh nhân COVID-19 được lọc máu oXiris
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4866
<div class="s4ext-lookup" style="display: none;"><img src="chrome-extension://jefmonmbihnpfebehladbckmmfjncabp/images/lookup.png" /></div> <div id="s4ext-window" class="s4ext-window"> <div id="s4ext-window-header" class="s4ext-window-header"> <p class="p1">Nghiên cứu nhằm khảo sát một số yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân COVID-19 nguy kịch được can thiệp lọc máu oXiris. Đây là nghiên cứu hồi cứu trên 306 bệnh nhân COVID-19 nguy kịch được lọc máu oXiris tại Khoa Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, từ tháng 3/2020 đến tháng 10/2023. Các yếu tố được khảo sát bao gồm đặc điểm của người bệnh khi nhập khoa, mức độ nặng, một số chỉ số xét nghiệm ngày vào và một số đặc điểm của quá trình lọc máu oXiris. Yếu tố liên quan đến tử vong được xác định bằng hồi quy logistic đa biến. Trong số 306 bệnh nhân nghiên cứu, 178 bệnh nhân sống (58,2%) và 128 bệnh nhân tử vong (41,8%). Kết quả phân tích ghi nhận tuổi và nồng độ D-dimer ngày vào khoa là hai yếu tố liên quan độc lập với tử vong, với aOR tương ứng là 1,04 và 1,03. Chưa ghi nhận mối liên quan độc lập giữa một số đặc điểm của quá trình lọc máu oXiris được khảo sát và kết cục tử vong của bệnh nhân.</p> </div> </div>Đồng Phú KhiêmĐào Xuân CơBùi Thị Hương GiangThân Mạnh HùngVũ Đình Phú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203652253010.52852/tcncyh.v203i6.4866Kết quả điều trị nhắm trúng đích ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến phức hợp trên gen EGFR tại Bệnh viện Phổi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5102
<p class="p1">Điều trị nhắm trúng đích trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) có đột biến phức hợp trên gen <em>EGFR</em> (2 đột biến trên cùng 1 gen <em>EGFR</em>) đang còn nhiều thách thức trong thời gian vừa qua. Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân UTPKTBN có đột biến phức hợp trên gen <em>EGFR</em> được điều trị thuốc nhắm trúng đích thế hệ 1 và 2. Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) là 64%, trong đó có 2 trường hợp (8%) đạt đáp ứng hoàn toàn và 14 trường hợp (56%) đáp ứng một phần. Tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 92%, với 7 bệnh nhân (28%) bệnh giữ nguyên và 2 bệnh nhân (8%) tiến triển. Thời gian sống thêm không tiến triển bệnh (PFS) trung bình là 9,6 ± 0,7 tháng, với trung vị PFS là 9,1 tháng (95% CI: 8,0 – 9,7 tháng). Thời gian sống thêm toàn bộ (OS) trung bình là 18,7 ± 1,6 tháng, với trung vị OS là 20,0 tháng (95% CI: 10,8 – 23,3 tháng). Kết quả bước đầu cho thấy đột biến phức hợp trên <em>EGFR</em> nhìn chung vẫn đáp ứng tốt với EGFR-TKIs, đặc biệt khi có ít nhất một đột biến kinh điển.</p>Đinh Văn LượngNguyễn Quốc ĐạtLê Tú Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203653153910.52852/tcncyh.v203i6.5102Kết quả bước đầu của phương pháp cắt tách dưới niêm mạc điều trị tổn thương ung thư sớm và tiền ung thư đường tiêu hóa tại Trung tâm Nội soi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5154
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên các người bệnh được chẩn đoán tổn thương ung thư sớm hoặc tiền ung thư đường tiêu hóa được điều trị bằng kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) tại Trung tâm nội soi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2025 đến tháng 12/2025 nhằm đánh giá kết quả bước đầu và tính an toàn của kỹ thuật trên. Kết quả: Độ tuổi trung bình của người bệnh là 63,67 ± 11,53. Tổn thương có kích thước trung bình 28,76 ± 14,31 mm. Vị trí tổn thương ở trực tràng chiếm 40,57%. Tỷ lệ cắt bỏ nguyên khối (en-bloc) đạt 94,34%, tỷ lệ cắt R0 đạt 88,68%. Thời gian thực hiện thủ thuật trung vị là 60 phút (IQR: 45 – 85 phút). Tỷ lệ biến chứng chảy máu và thủng lần lượt là 2,83% và 3,77%, phần lớn được xử trí qua nội soi và điều trị nội khoa ổn định. Kết luận: ESD là phương pháp can thiệp hiệu quả, an toàn cho phép cắt bỏ triệt để các tổn thương ung thư sớm và tiền ung thư đường tiêu hóa.</p>Phan Quốc HưngĐỗ Quang KhánhNguyễn Thị Thanh TâmLê Quang HưngNguyễn Phạm Tuấn ThànhHoàng Cẩm TúTrần Thanh QuỳnhĐào Việt Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203654054810.52852/tcncyh.v203i6.5154Một số yếu tố liên quan đến thời gian nằm viện của người bệnh rối loạn lo âu lan toả điều trị nội trú tại viện sức khoẻ tâm thần
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5177
<p class="p1">Rối loạn lo âu lan tỏa là một rối loạn lo âu đặc trưng bởi tình trạng lo lắng quá mức, kéo dài, khó kiểm soát và đi kèm nhiều triệu chứng cơ thể. Trong thực hành lâm sàng, người bệnh thường có các bệnh lý cơ thể đồng mắc, ảnh hưởng đến quá trình điều trị nội trú. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 77 người bệnh rối loạn lo âu lan toả điều trị nội trú tại viện sức khoẻ tâm thần từ tháng 12/2024 đến tháng 7/2025 khảo sát mối liên quan giữa bệnh đồng mắc và thời gian nằm viện. Kết quả cho thấy gần một nửa số người bệnh có thời gian điều trị ít nhất 14 ngày. Người bệnh có bệnh lý tiêu hóa và cơ xương khớp đồng mắc có nguy cơ kéo dài thời gian nằm viện. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc có hướng điều trị đa chuyên khoa ở người bệnh rối loạn lo âu lan toả có bệnh lý thực thể đồng mắc giúp giảm thời gian nằm viện, giảm chi phí và hạn chế các yếu tố nguy cơ bất lợi.</p>Nguyễn Phương LinhVũ Sơn TùngNguyễn Hồng NgaĐỗ Hoài Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203654955710.52852/tcncyh.v203i6.5177Đánh giá kết quả kết hợp xương bằng nẹp vít khoá điều trị gãy kín thân xương cánh tay tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4939
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng phương pháp kết hợp xương nẹp khóa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện trên 48 bệnh nhân gãy kín thân xương cánh tay, được phẫu thuật từ tháng 01/2023 đến tháng 09/2024. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 38,8 ± 14,3; tỷ lệ nam/nữ là 32/16. Nguyên nhân chấn thương chủ yếu là tai nạn giao thông, chiếm 54,2%. Vị trí gãy thường gặp nhất là 1/3 giữa thân xương cánh tay, chiếm 62,5%. Theo phân loại AO, gãy loại A chiếm 75,0%, loại B chiếm 22,9% và loại C chiếm 2,1%. Tất cả bệnh nhân đều liền vết mổ kỳ đầu, không ghi nhận trường hợp nhiễm khuẩn vết mổ. Liệt thần kinh quay sau mổ gặp ở 6,3% trường hợp và đều hồi phục hoàn toàn sau 6 tháng. Tỷ lệ liền xương tốt đạt 95,8%; chậm liền xương và khớp giả đều chiếm 2,1%. Kết quả điều trị chung theo thang điểm Neer cải biên cho thấy tỷ lệ tốt và rất tốt đạt 93,8%, trung bình chiếm 4,2% và kém chiếm 2,1%. Kết hợp xương bằng nẹp khóa là phương pháp điều trị hiệu quả đối với gãy kín thân xương cánh tay, cho tỷ lệ liền xương cao, ít biến chứng và kết quả phục hồi chức năng tốt.</p>Đặng Hoàng NamPhạm Ngọc ThắngBùi Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203655856510.52852/tcncyh.v203i6.4939Giá trị của Interleukin-6 huyết thanh trong dự báo biến cố nội viện ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5051
<p class="p1">Viêm hệ thống giữ vai trò trung tâm trong sinh lý bệnh suy tim mất bù cấp, trong đó Interleukin-6 là cytokine tiền viêm quan trọng, nhưng dữ liệu về giá trị tiên lượng ngắn hạn của dấu ấn này còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, theo dõi dọc trên 70 bệnh nhân suy tim mất bù cấp nhằm khảo sát giá trị của Interleukin-6 huyết thanh trong dự báo biến cố nội viện tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Kết quả ghi nhận có 12,9% bệnh nhân xảy ra biến cố nội viện, gồm 10,0% thở máy và 2,9% tử vong. Nồng độ Interleukin-6 ở nhóm có biến cố cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có biến cố, trung vị lần lượt là 303,80 pg/mL và 11,70 pg/mL (p < 0,001). Interleukin-6 cho thấy khả năng phân định biến cố nội viện ở mức tốt (AUC = 0,891), cao hơn NT-proBNP (AUC = 0,818). Tại điểm cắt 56,8 pg/mL, Interleukin-6 đạt độ nhạy 88,9%, độ đặc hiệu 80,3%, giá trị tiên đoán dương 40,0% và giá trị tiên đoán âm 98,0%. Kết quả này gợi ý Interleukin-6 huyết thanh có thể là dấu ấn sinh học hỗ trợ đánh giá nguy cơ biến cố nội viện ở bệnh nhân suy tim mất bù cấp.</p>Nhữ Vĩnh LiêmNguyễn Thị Diễm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203656657310.52852/tcncyh.v203i6.5051Tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động: Nghiên cứu cắt ngang trên 504 thai phụ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5052
<p class="p1">Chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động là một nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ can thiệp sản khoa cũng như biến chứng cho mẹ và con, vì vậy việc xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan có ý nghĩa thiết thực trong quản lý chuyển dạ và dự phòng kết cục bất lợi. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 504 thai phụ chuyển dạ giai đoạn hoạt động tại Bệnh viện Thuận Mỹ TDM từ tháng 05/2025 đến tháng 01/2026. Chuyển dạ kéo dài được xác định khi cổ tử cung mở từ 4 cm trở lên kèm tốc độ mở dưới 1 cm/giờ hoặc đường biểu diễn lệch phải so với đường báo động trên sản đồ WHO 2002. Kết quả cho thấy tỷ lệ chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động là 12,1% với 61/504 trường hợp. Phân tích đa biến ghi nhận tình trạng lo âu của mẹ, mật độ cổ tử cung và đặc tính cơn co tử cung, bao gồm tần số cơn co trong 10 phút và đơn vị Montevideo, có liên quan độc lập với chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động, với p < 0,05. Tỷ lệ chuyển dạ kéo dài giai đoạn hoạt động ở mức đáng lưu ý, và việc nhận diện sớm các yếu tố liên quan có thể giúp tối ưu hóa theo dõi và xử trí chuyển dạ.</p>Phạm Anh TuấnPhạm Thị Thu TrangVõ Huỳnh Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203657458210.52852/tcncyh.v203i6.5052Đặc điểm bước đầu đa hình rs13266634 gen SLC30A8 và mối liên quan với các chỉ số đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5074
<p class="p1">Một số dữ liệu di truyền học trên các quần thể khác nhau cho thấy đa hình rs13266634 gen <em>SLC30A8</em> có thể liên quan với nguy cơ mắc bệnh và đặc điểm kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường, tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh từ tháng 09/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen CT chiếm tỷ lệ cao nhất với 65,6%, tiếp theo là CC 26,7% và TT 7,8%; tần suất alen C và alen T lần lượt là 59,4% và 40,6%. Đường huyết lúc đói và HbA1c khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm kiểu gen (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến hiệu chỉnh theo tuổi, BMI, hút thuốc lá, sử dụng insulin và số thuốc phối hợp, mỗi alen T bổ sung liên quan với tăng đường huyết lúc đói trung bình 23,86 mg/dL và tăng HbA1c trung bình 0,45%. Nghiên cứu bước đầu cho thấy đa hình rs13266634 gen <em>SLC30A8</em> có thể liên quan với đường huyết lúc đói và HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam.</p>Đỗ Quang HiệuLưu Ngọc TrânNguyễn Tiến DũngPhạm Gia ThếĐoàn Thị Kim Châu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203658359110.52852/tcncyh.v203i6.5074Tỉ lệ và một số yếu tố liên quan tiền đái đường ở bệnh nhân tăng huyết áp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5083
<p class="p1">Tiền đái tháo đường là tình trạng rối loạn dung nạp glucose, làm tăng nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường type 2 và bệnh tim mạch, đặc biệt ở bệnh nhân tăng huyết áp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 135 bệnh nhân tăng huyết áp đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến tiền đái tháo đường. Thu thập thông tin qua phỏng vấn, đo các chỉ số nhân trắc học và xét nghiệm glucose máu lúc đói (FPG), HbA1c, bộ mỡ, siêu âm Doppler tim, protein niệu. Kết quả cho thấy tỉ lệ tiền đái tháo đường là 58,5%, liên quan đến BMI, vòng bụng, huyết áp và tiền sử gia đình đái tháo đường. Tỉ lệ này cao, cho thấy cần tăng cường tầm soát để can thiệp sớm và phòng ngừa biến chứng.</p>Lâm Thị Chư LángNgô Phúc ThảoA ĐamTrần Kim Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203659259810.52852/tcncyh.v203i6.5083Phản hồi về phương pháp giảng dạy lâm sàng one-minute preceptor của sinh viên Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa năm học 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5108
<p class="p1">Phân tích các phản hồi của sinh viên về phương pháp giảng dạy One-Minute Preceptor (OMP) là cơ sở quan trọng để hoàn thiện phương pháp này. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 232 sinh viên Y khoa năm thứ tư đến năm thứ sáu tại Phân hiệu Trường Đại học Y Hà Nội về phản hồi đối với phương pháp OMP. Nghiên cứu cho thấy sinh viên có phản hồi tích cực đối với phương pháp OMP, với tỷ lệ đồng ý và rất đồng ý từ 59,9% đến 70,7%. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của OMP mà sinh viên phản hồi gồm: thiếu thời gian học tập, cơ sở lâm sàng chưa đáp ứng đủ điều kiện, giảng viên tiếp cận chưa hoàn toàn đúng phương pháp và sự thụ động của người học. Sinh viên cũng đề xuất tăng số buổi học, thời gian học và số lượng ca bệnh trong mỗi buổi học. Phương pháp OMP được sinh viên đón nhận tích cực và có tính khả thi trong giảng dạy lâm sàng. Việc cải thiện điều kiện triển khai và chuẩn hóa cách áp dụng phương pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo lâm sàng.</p>Lê Thị Thùy DươngHoàng Thị Phương LinhNguyễn Diệp AnhTrần Ngọc AnhĐỗ Thanh HươngLê Đình TùngBùi Văn Dân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203659960610.52852/tcncyh.v203i6.5108Giá trị Galectin-3 kết hợp NT-proBNP trong tiên lượng hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5115
<p class="p1">Galectin-3 và NT-proBNP có vai trò quan trọng trong phân tầng nguy cơ và tiên lượng. Galectin-3 phản ánh quá trình xơ hóa cơ tim, NT-proBNP phản ánh sức căng thành cơ tim. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát giá trị của Galectin-3 kết hợp với NT-proBNP trong hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 92 bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp suy tim mạn tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Kết quả: Trung vị Galectin-3 là 32,05 ng/mL (24,13 – 46) và NT-proBNP là 8914 pg/mL (4210,6 – 22.352,3). Có 46,74% trường hợp có hội chứng tim thận type 1. Trong dự báo hội chứng tim thận type 1, Galectin-3 có giá trị AUC là 0,736 với độ nhạy 72,1% và độ đặc hiệu 67,3%. Khi kết hợp Galectin-3 và NT-proBNP, AUC tăng lên 0.745 với độ nhạy 76,7%, độ đặc hiệu 63,3%. Từ đó cho thấy, Galectin-3 kết hợp NT-proBNP có giá trị tiên lượng hội chứng tim thận type 1 ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn.</p>Từ Mỹ NhiBùi Thế DũngTrần Viết AnTrần Thị Thu Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203660761410.52852/tcncyh.v203i6.5115Sản xuất thử nghiệm mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng dạng lỏng cho xét nghiệm albumin niệu và protein niệu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5151
<p class="p1">Tại Việt Nam, mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu với chi phí cao và chưa phù hợp nhu cầu thực tế vốn chỉ tập trung chủ yếu vào albumin và protein niệu. Nghiên cứu này được thực hiện thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, sản xuất mẫu ngoại kiểm dạng lỏng cho xét nghiệm albumin và protein niệu, chất lượng mẫu được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 13528:2022. Kết quả: Ba lô mẫu được tạo ra với nồng độ albumin là 43; 180; 387 mg/L và protein là 0,08; 0,22; 0,42 g/L, bao phủ các mức quyết định lâm sàng. Các lô mẫu đạt độ đồng nhất, độ ổn định vận chuyển và ổn định dài hạn trong 8 tuần ở 2 - 8°C. Nghiên cứu chứng minh tính khả thi của việc sản xuất mẫu ngoại kiểm nước tiểu định lượng trong nước, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và có tiềm năng ứng dụng thực tế.</p>Lê Vũ Huyền TrangNguyễn Trần PhươngNguyễn Thị DinhNgô Diệu HoaNguyễn Quỳnh GiaoPhạm Thị Hương Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203661562410.52852/tcncyh.v203i6.5151Đánh giá sự phù hợp giữa các phương pháp xác định tình trạng mất nước ở người bệnh cao tuổi nội trú tại bệnh viện
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5168
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 451 người bệnh ≥ 60 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm xác định tỷ lệ mất nước và đánh giá mức độ phù hợp giữa các phương pháp chẩn đoán. Các chỉ số thu thập bao gồm đặc điểm nhân trắc, tình trạng dinh dưỡng (MNA), lượng nước tiêu thụ, thang điểm GULP, áp lực thẩm thấu huyết tương, tỷ lệ BUN/creatinine và tỷ lệ nước cơ thể (%TBW). Kết quả cho thấy tỷ lệ nguy cơ mất nước theo GULP rất cao (95,57%). Tỷ lệ thiếu nước khác nhau tùy theo phương pháp đánh giá, lần lượt là 34,6% theo áp lực thẩm thấu, 41,7% theo BUN/Cre và 48,8% theo %TBW. Mức độ phù hợp giữa các phương pháp còn hạn chế với hệ số Kappa thấp, đồng thời phân tích Spearman cho thấy mối tương quan giữa các chỉ số nhìn chung yếu.. Những kết quả này cho thấy không có phương pháp đơn lẻ nào đủ để đánh giá toàn diện tình trạng mất nước ở người cao tuổi, do đó cần kết hợp các phương pháp lâm sàng, sinh hóa và thành phần cơ thể nhằm nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và hỗ trợ can thiệp kịp thời.</p>Nguyễn Thùy LinhTrần Phương ThảoNguyễn Thị Dịu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203662563310.52852/tcncyh.v203i6.5168Định lượng tự động dấu ấn CD3+ ở bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập bằng phần mềm QuPath: Tổng quan y văn và thử nghiệm thực tiễn tại Việt Nam
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5006
<p class="p1">Việc đánh giá thấm nhập lymphô bào trong u (TILs) thông qua biểu hiện của dấu ấn CD3+ mang lại giá trị tiên lượng độc lập trong ung thư biểu mô tuyến vú. Tuy nhiên, việc đánh giá ước lượng truyền thống đang tồn tại độ biến thiên giữa những lần đọc cũng như giữa các bác sĩ Giải Phẫu Bệnh. Bài viết này đề xuất một quy trình 4 bước ứng dụng phần mềm QuPath và đánh giá tính khả thi bước đầu trên nhóm mẫu thử nghiệm gồm 14 tiêu bản kỹ thuật số (WSI) tại Việt Nam. Quy trình tập trung vào việc hiệu chuẩn véc-tơ màu mật độ quang học (OD), phân đoạn tế bào dựa trên thuật toán Watershed và gán nhãn CD3+ tự động thông qua ngưỡng cường độ DAB. Kết quả thực chứng cho thấy khả năng trích xuất khách quan các thông số mật độ TILs/mm² với tính lặp lại cao. Tuy nhiên, độ chính xác của mô hình trí tuệ tăng cường này phụ thuộc chặt chẽ vào sự đồng nhất màu nhuộm và chất lượng khâu tiền phân tích. QuPath là giải pháp chiến lược giúp hỗ trợ bác sĩ giải phẫu bệnh trong định lượng CD3<sup>+</sup>, nhưng việc triển khai thực tế đòi hỏi sự chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và đào tạo chuyên sâu về bệnh học kỹ thuật số.</p>Trần Thị Thanh NhànĐoàn Thị Phương ThảoNguyễn Vũ ThiệnTrần Hương GiangNguyễn Ngọc LâmNgô Phúc ThịnhLưu Đức TùngNguyễn Thị Hoàng An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203663464410.52852/tcncyh.v203i6.5006Đặc điểm thiếu máu và tỷ lệ mang gen thalassemia của học sinh tại Trường Trung học cơ sở Chu Hương tỉnh Bắc Kạn năm 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5008
<p class="p1">Thalassemia là bệnh lý thiếu máu tan máu di truyền do khuyết thiếu trong tổng hợp của một loại chuỗi globin. Khoảng 13% tổng dân số mắc bệnh và có thể lên đến 30 - 40% ở các dân tộc thiểu số, phân bố tập chung tại khu vực miền núi phía Bắc. Tỉnh Bắc Kạn thuộc khu vực miền núi phía Bắc với hơn 80% dân số là người dân tộc thiểu số. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên học sinh học tại trường Trung học cơ sở Chu Hương tỉnh Bắc Kạn: Tỷ lệ thiếu máu chung của đối tượng là 35,08% trong đó thiếu máu kèm theo sắt huyết thanh thấp là 9,42%; tỷ lệ thiếu máu có mang gen thalassemia 11%; số trẻ có mang gen thalassemia là 23,48%; thể mang gen bệnh α - thalassemia chiếm 58,06% tổng số đối tượng mang gen bệnh với 2 loại đột biến chủ yếu: 3.7 và SEA.</p>Trần Thị Hồng VânBùi Thị Thu HươngMai Anh TuấnHứa Thị DiễmLò Minh TrọngNguyễn Trà MyĐỗ Trung ToànĐỗ Thành Tôn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203664565110.52852/tcncyh.v203i6.5008Đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật cắt mảng xơ và ghép bằng tĩnh mạch chủ đồng loài điều trị bệnh xơ cứng vật hang dương vật
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5041
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật cắt mảng xơ và ghép bằng tĩnh mạch chủ đồng loài trong điều trị xơ cứng vật hang dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng, đánh giá trước và sau phẫu thuật trên 15 bệnh nhân được phẫu thuật từ 10/2022 đến 02/2024. Tuổi trung bình là 58,07 ± 9,9. Hầu hết bệnh nhân có cong dương vật sang trái và/hoặc lên trên (86,67%). Độ cong trung bình trước mổ là 51,67 ± 6,73°, giảm còn 6,67 ± 4,08 sau mổ 6 tháng. Thời gian phẫu thuật trung bình 106,87 ± 12,2 phút; thời gian theo dõi 19,87 ± 4,36 tháng. Điểm IIEF-5 sau 6 tháng đạt 19,2 ± 1,27. Không ghi nhận trường hợp thải mảnh ghép. Kết quả bước đầu cho thấy phương pháp này có tính khả thi, giúp cải thiện rõ độ cong dương vật, với tính an toàn chấp nhận được. Tuy nhiên, do cỡ mẫu còn nhỏ và vật liệu ghép còn mới, cần có thêm các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, thời gian theo dõi dài hơn và thiết kế phù hợp hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả và độ an toàn lâu dài của phương pháp.</p>Bùi Văn QuangNguyễn QuangPhạm Hữu Lư
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203665266210.52852/tcncyh.v203i6.5041Đặc điểm tỷ số ApoB/ApoA1 ở bệnh nhân cao tuổi mắc hội chứng động mạch vành cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5046
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 438 bệnh nhân ≥ 60 tuổi mắc hội chứng động mạch vành cấp (HCĐMVC) điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ 01/2024 đến 01/2026 nhằm khảo sát đặc điểm tỷ số ApoB/ApoA1 và các yếu tố liên quan. Trung vị tỷ số ApoB/ApoA1 là 0,78 (0,59 – 0,97). Tỷ số này cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, suy tim mạn, tiền sử đột quỵ não và khác biệt giữa ba thể lâm sàng của HCĐMVC. Sau hiệu chỉnh trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và đa kiểm định, tỷ số ApoB/ApoA1 còn liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi (β = -0,058; p-FDR < 0,001), tăng huyết áp (β = 0,081; p-FDR = 0,024), suy tim mạn (β = 0,212; p-FDR < 0,001), đột quỵ não (β = 0,194; p-FDR < 0,001), nhồi máu cơ tim không ST chênh lên (β = 0,110; p-FDR = 0,024) và hs-CRP (β = 0,098; p-FDR < 0,001). Kết quả này cho thấy ApoB/ApoA1 có thể là một dấu ấn bổ sung trong đánh giá nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân cao tuổi mắc HCĐMVC.</p>Phạm Huỳnh Minh TríTrần Viết AnNguyễn Văn Tân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203666367310.52852/tcncyh.v203i6.5046Mối liên quan giữa một số allele HLA lớp I và lớp II với mức độ hoạt động của viêm khớp vảy nến
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5048
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang này đánh giá mối liên quan giữa một số allele HLA lớp I và II với mức độ hoạt động bệnh, thực hiện trên 61 người bệnh được chẩn đoán viêm khớp vảy nến theo tiêu chuẩn CASPAR, khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 10/2023 đến tháng 6/2024. HLA được xác định bằng giải trình tự gen thế hệ mới. Mức độ hoạt động bệnh được đánh giá bằng các chỉ số DAPSA, VAS, CRP, số khớp sưng và đau, so sánh giữa nhóm có và không mang allele HLA. Kết quả cho thấy HLA-B*51 liên quan với số khớp đau và điểm VAS thấp hơn, đồng thời giảm tỷ lệ DAPSA >14. HLA-DRB1*16 liên quan đến điểm đau VAS thấp hơn, trong khi HLA-DQB1*03 liên quan đến điểm đau cao hơn. HLA-C*06, HLA-DPB1*104 và HLA-DQB1*03 liên quan với CRP thấp hơn. Các allele HLA-DPB1*26 và HLA-DRB1*08 liên quan đến số khớp sưng cao hơn, trong khi HLA-DRB1*11 liên quan đến số khớp sưng thấp hơn.</p>Nguyễn Thị Lệ ThủyĐinh Hữu NghịLê Đình Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203667468110.52852/tcncyh.v203i6.5048Đặc điểm căn nguyên vi sinh và kết quả điều trị tiêu chảy nhiễm khuẩn kéo dài ở trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5065
<p class="p1">Tiêu chảy nhiễm khuẩn kéo dài là tình trạng nhiễm trùng đường tiêu hóa kéo dài trên 14 ngày. Nghiên cứu tiến cứu trên 132 trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi mắc tiêu chảy nhiễm khuẩn kéo dài, điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2025. Kết quả nuôi cấy phân cho tỷ lệ dương tính thấp, với Escherichia coli và Salmonella enterica subsp. enterica lần lượt là 9,8% và 5,3%. Real-time PCR đa mồi phát hiện tác nhân vi khuẩn (25,8%) và virus (22,7%); chủ yếu gồm Clostridium difficile (tcdA/tcdB), Campylobacter spp., Escherichia coli và Norovirus GI/GII. Bệnh nhân chủ yếu được điều trị kháng sinh Ceftriaxone. Sữa không lactose được sử dụng phổ biến nhất; tỷ lệ sử dụng sữa thủy phân hoàn toàn tăng từ 6,8% lên 28,0%. Sau điều trị, số lần tiêu chảy giảm từ 6,10 ± 2,74 xuống 1,63 ± 0,77 lần/ngày; tỷ lệ phân nhầy giảm từ 71,2% xuống 8,3% và không còn máu trong phân. Kết quả cho thấy real-time PCR đa mồi giúp tăng khả năng phát hiện tác nhân so với cấy phân và ghi nhận cải thiện lâm sàng và xét nghiệm sau điều trị nội trú.</p>Phạm Thị Thanh NgaPhùng Thị Bích ThủyĐỗ Thị HuyềnTrịnh Thị HươngNguyễn Thị Thùy TrangNguyễn Thị Việt Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203668269310.52852/tcncyh.v203i6.5065Mô tả biến đổi chức năng thận và khảo sát một số yếu tố liên quan sau can thiệp nội mạch ở bệnh nhân bệnh động mạch chi dưới
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5086
<p class="p1">Trong nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 35 bệnh nhân thiếu máu chi dưới mạn tính đe dọa chi được can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2025 đến 03/2025, chúng tôi ghi nhận creatinin huyết thanh và eGFR trong vòng 24 giờ trước thủ thuật và khoảng 24 giờ sau can thiệp có sử dụng iodixanol, đồng thời khảo sát bước đầu một số yếu tố liên quan với biến đổi chức năng thận sau thủ thuật. Kết quả cho thấy tỷ lệ tổn thương thận cấp sớm trong 24 giờ liên quan thuốc cản quang là 5,7%, trong khi tỷ lệ CA-AKI Moderate là 14,3%. Ở phân tích so sánh hai nhóm, nhóm có CA-AKI Moderate có eGFR nền thấp hơn nhóm không có biến cố nhưng mối liên quan này không đạt ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy Firth đơn biến. Nhìn chung, biến đổi chức năng thận sớm sau can thiệp nội mạch cần được lưu ý ở bệnh nhân CLTI được can thiệp nội mạch. Do cỡ mẫu nhỏ, số biến cố ít và thời gian theo dõi ngắn, các kết quả cần được diễn giải chủ yếu theo hướng mô tả và gợi ý giả thuyết.</p>Nguyễn Duy TânLâm Thảo CườngNguyễn Mạnh Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203669470110.52852/tcncyh.v203i6.5086Thực trạng tiêm vắc xin phòng một số bệnh truyền nhiễm của sinh viên y khoa Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên giai đoạn 2022 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5090
<p class="p1">Vaccination is a specific preventive measure that enables the body to develop artificial active immunity against infectious diseases. A cross-sectional study was conducted using direct surveys on 1,195 students at Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy to study the current status of vaccination against selected infectious diseases among medical students from 2022 to 2025. The results showed a very high vaccination coverage for the COVID-19 vaccine (97.4%), while other vaccines such as influenza, hepatitis B, and HPV had relatively low rates (below 30%). Notably, the coverage rates for vaccines against diseases such as cholera, typhoid, pneumococcal disease, hepatitis A, and meningococcal disease were very low (below 10%). Factors associated with vaccination uptake included individual characteristics, socioeconomic factors, and access to vaccination services. The findings highlight the need to implement integrated vaccination programs within educational institutions, along with strengthening health education and communication, as well as financial support policies, to improve vaccination coverage among medical students.</p>Nguyễn Thị QuyênHoàng Diệu Hương LinhNguyễn Tiến HưngTrần Thế HoàngBùi Hồng ViệtNguyễn Trà My
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203670271310.52852/tcncyh.v203i6.5090Ảnh hưởng của gemcitabine lên xâm lấn và biểu hiện E-Cadherin của tế bào ung thư đường mật trong gan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5129
<p class="p1">Khảo sát tác động của Gemcitabine lên đặc tính xâm lấn và biểu hiện E-Cadherin của tế bào ung thư đường mật trong gan. Tế bào ung thư đường mật trong gan kháng Gemcitabine (SZ1-G28) được tạo lập và duy trì tại phòng nghiên cứu. Đặc tính xâm lấn được so sánh giữa tế bào kháng và không kháng (SZ1-P) khi có và không có Gemcitabine bằng thí nghiệm xâm lấn. Biểu hiện của E-Cadherin của SZ1-G28 và SZ1-P được đánh giá bằng thử nghiệm western blot. SZ1-G28 tăng xâm lấn so với tế bào không kháng. Gemcitabine 20 µg/mL thúc đẩy sự xâm lấn của tế bào SZ1-P. Hơn nữa, SZ1-G28 giảm biểu hiện của E-Cadherin so với tế bào SZ1-P. Kháng Gemcitabine và điều trị bởi Gemcitabine làm tế bào ác tính và linh hoạt hơn, gây tăng xâm lấn tế bào ung thư đường mật trong gan. Đồng thời, biểu hiện của E-Cadherin giảm ở tế bào SZ1-G28, so với SZ1-P. Kết quả gợi ý rằng kháng và điều trị với Gemcitabine làm tế bào ung thư đường mật trong gan trở nên ác tính hơn trên thực nghiệm, liên quan đến sự giảm biểu hiện của E-Cadherin.</p>Nguyễn Thị Mai Ly
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203671472110.52852/tcncyh.v203i6.5129Đánh giá hiệu năng mô hình Gail điều chỉnh và Gail-Rosner-Colditz trong dự báo nguy cơ ung thư vú tại Việt Nam
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5137
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu 31.016 phụ nữ tham gia sàng lọc ung thư vú, ghi nhận 19 trường hợp ung thư vú, nhằm đánh giá hiệu năng của mô hình Gail điều chỉnh và mô hình kết hợp Gail-Rosner-Colditz. Dữ liệu được chia ngẫu nhiên bằng phương pháp lấy mẫu phân tầng thành tập huấn luyện 60% và tập kiểm tra 40%; mất cân bằng dữ liệu được xử lý bằng giảm mẫu ngẫu nhiên kết hợp SMOTE. Hiệu năng được đánh giá bằng ROC-AUC, PR-AUC và chỉ số Brier; các yếu tố liên quan với nguy cơ mắc ung thư vú được phân tích bằng hồi quy logistic phạt Firth. Mô hình kết hợp làm tăng ROC-AUC ở cả ba thuật toán; Weighted Kernel Logistic Regression đạt ROC-AUC cao nhất 0,662 ± 0,062. Tuổi có liên quan với nguy cơ mắc ung thư vú, trong khi sinh 2 con và sinh 3 con có liên quan với giảm nguy cơ mắc so với nhóm chưa sinh con. Mô hình kết hợp Gail-Rosner-Colditz cho hiệu năng dự báo cao hơn mô hình Gail điều chỉnh, nhưng giá trị dự báo vẫn còn hạn chế do số biến cố thấp.</p>Trần Thị Thanh HươngLưu Ngọc MinhNguyễn Hương GiangBùi Thị Oanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203672272910.52852/tcncyh.v203i6.5137Đáp ứng sớm sau điều trị I-131 ở trẻ em ung thư tuyến giáp thể biệt hóa và giá trị tiên lượng của thyroglobulin
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5139
<p class="p1">Đánh giá đáp ứng sớm sau điều trị I-131 lần đầu và xác định giá trị tiên lượng của nồng độ Thyroglobulin (Tg) kích thích trước điều trị ở bệnh nhi ung thư tuyến giáp thể biệt hóa. Nghiên cứu trên 50 người bệnh dưới 18 tuổi điều trị tại bệnh viện K từ tháng 11/2019 đến tháng 2/2026. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn sau điều trị I-131 lần đầu là 34,0%. Nồng độ Tg kích thích trước điều trị có liên quan với kết quả điều trị, xu hướng giảm rõ rệt tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn khi Tg tăng (p < 0,001). Phân tích hồi quy đa biến xác định Tg là yếu tố dự báo độc lập đối với đáp ứng. Phân tích ROC cho thấy Tg có khả năng phân biệt tốt giữa các nhóm đáp ứng (AUC = 0,882; 95% CI: 0,791 - 0,974), với ngưỡng cắt tối ưu 7,30 ng/mL (độ nhạy 88,2%, độ đặc hiệu 69,7%). Nồng độ Tg kích thích trước điều trị là yếu tố tiên lượng có giá trị trong dự đoán đáp ứng sớm sau I-131 ở trẻ em ung thư tuyến giáp thể biệt hóa.</p>Đỗ Thị Hằng NaPhạm Lâm SơnNguyễn Quang ToànNguyễn Thế TânLê Quang HiểnPhạm Văn Thái
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203673073810.52852/tcncyh.v203i6.5139Đặc điểm tác nhân vi sinh và tình trạng đồng nhiễm ở trẻ em tiêu chảy tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5152
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên mẫu phân lỏng của 81 bệnh nhi có triệu chứng tiêu chảy điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 01/2025 đến tháng 07/2025. Kết quả tỷ lệ dương tính với ít nhất một tác nhân là 88,9%, tỷ lệ đồng nhiễm là 48,6%. Rotavirus (32,1%) và Norovirus GI/GII (21,0%) là tác nhân virus được phát hiện hàng đầu. Tác nhân vi khuẩn được phát hiện hàng đầu là enteropathogenic Escherichia coli (EPEC; 25,9%) và enteroaggregative Escherichia coli (EAEC; 19,8%), chủ yếu được ghi nhận dưới dạng đồng nhiễm, cụ thể 14/15 ca dương tính với gen eaeA và 18/20 ca với gen aggR. Ngược lại, các tác nhân xâm nhập như Salmonella spp. chủ yếu gây nhiễm đơn với tỷ lệ cao hơn (66,7%). Các tổ hợp đồng nhiễm 3 tác nhân trở lên xuất hiện thường xuyên, trong đó đồng nhiễm virus – vi khuẩn chiếm ưu thế (23/35), điển hình là tổ hợp Rotavirus kết hợp EPEC và EAEC. Kỹ thuật Real-time PCR đa mồi kết hợp với phân tích giá trị Ct có thể hỗ trợ diễn giải kết quả trong bối cảnh lâm sàng; tuy nhiên, việc phiên giải giá trị Ct cần hết sức thận trọng và chỉ nên được dùng để tham khảo bổ sung khi phân tích.</p>Lâm Thị Bích NgọcTrần Minh Châu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203673974610.52852/tcncyh.v203i6.5152Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở người bệnh xơ gan có huyết khối tĩnh mạch cửa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5176
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của 49 người bệnh xơ gan có huyết khối tĩnh mạch cửa và mối liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng người bệnh xơ gan với mức độ tắc nghẽn của huyết khối tĩnh mạch cửa. Nghiên cứu tiến hành tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2024 đến tháng 06/2025. Độ tuổi trung bình của người bệnh là 60,6 ±1,8; đa số là nam giới (73,5%). Lách to và đau tức bụng là triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất (67,3% và 61,2%). Biến chứng xuất huyết tiêu hóa hay gặp nhất chiếm 61,2%. Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc xơ gan và mức độ tắc nghẽn tĩnh mạch cửa (p < 0,05). Mức độ tắc nghẽn cũng có mối liên quan mật thiết với biến chứng xuất huyết tiêu hoá, cụ thể trong các người bệnh có tiền sử xuất huyết tiêu hóa, tỷ lệ tắc nghẽn toàn phần cao hơn so với tắc nghẽn bán phần (83,3% và 16,7%) (p < 0,05). Nhóm người bệnh mắc xơ gan trên 5 năm có tỷ lệ tắc nghẽn toàn phần cao hơn rõ rệt so với nhóm tắc nghẽn bán phần với tỷ lệ lần lượt là 100% và 60,5% với p < 0,05.</p>Hữu Quang MinhNguyễn Thị Vân HồngĐào Việt Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203674775310.52852/tcncyh.v203i6.5176Kết quả dài hạn phẫu thuật điều trị bất thường trở về tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim ở trẻ sơ sinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5150
<p class="p1">Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá kết quả dài hạn phẫu thuật điều trị bất thường trở về các tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim trong thời kỳ sơ sinh tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Nhi Trung ương trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2025. Tổng số 116 bệnh nhân được nghiên cứu hồi cứu có tuổi trung bình là 8 ngày (IQR, 2,0 - 17,2 ngày), cân nặng trung bình của các bệnh nhân là 3,1 kg (2,8 - 3,4 kg). Có 9 bệnh nhân (7,8%) tử vong sớm sau phẫu thuật, và 10 bệnh nhân (8,6%) tử vong muộn sau phẫu thuật. Thời gian theo dõi trung bình sau phẫu thuật là 3,75 năm, và 16 bệnh nhân (13,8%) cần phẫu thuật lại do hẹp miệng nối tĩnh mạch phổi nhĩ trái trong thời gian theo dõi. Mặc dù kết quả sớm sau phẫu thuật điều trị bất thường trở về các tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim ở trẻ sơ sinh là tốt, nhưng tỷ lệ tử vong muộn sau phẫu thuật vẫn đáng kể.</p>Nguyễn Hữu NhậtĐoàn Quốc HưngNguyễn Duy ThắngNguyễn Minh VươngNguyễn Lý Thịnh Trường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203675476210.52852/tcncyh.v203i6.5150Đặc điểm hình ảnh và các yếu tố gợi ý ác tính của tổn thương vú trên nhũ ảnh cắt lớp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5156
<p class="p1">Ung thư vú là bệnh ác tính phổ biến ở nữ giới, trong đó nhũ ảnh cắt lớp (Digital Breast Tomosynthesis – DBT) ngày càng được ứng dụng rộng rãi để phát hiện và đặc tả tổn thương. Nghiên cứu cắt ngang trên 101 bệnh nhân với 113 tổn thương có xác nhận mô bệnh học (05/2024 – 07/2025) cho thấy các dấu hiệu như vôi hóa nghi ngờ, tăng đậm độ bất đối xứng và biến dạng cấu trúc xuất hiện nhiều hơn ở nhóm ác tính (p < 0,05). Trong các tổn thương tạo khối, u ác thường có hình dạng không đều, bờ tua gai hoặc không xác định và đậm độ cao hơn so với u lành (p < 0,001). Phân tích đa biến cho thấy sự hiện diện của khối, vôi hóa nghi ngờ và bất đối xứng vẫn duy trì ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Riêng trong nhóm tổn thương tạo khối, bờ tua gai hoặc không xác định và đậm độ cao là các đặc điểm vẫn duy trì ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy DBT có giá trị trong nhận diện một số đặc điểm hình ảnh gợi ý ác tính của tổn thương vú.</p>Lê Thị Kim CúcHoàng Thị Ngọc HàHồ Xuân Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203676377110.52852/tcncyh.v203i6.5156Kết quả sống còn toàn bộ trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn, có đột biến EGFR, điều trị bước 1 bằng afatinib tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5178
<p class="p1">Afatinib là thuốc ức chế tyrosine kinase thế hệ thứ 2 được phê duyệt để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa. Nghiên cứu hồi cứu trên 230 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIC/IV, ung thư biểu mô tuyến, có đột biến EGFR, điều trị bước 1 bằng Afatinib tại<span class="s1"> B</span>ệnh viện K (1/2018 - 10/2024) theo dõi đến tháng 9/2025 nhằm đánh giá sống còn toàn bộ (OS) và tính an toàn. Với thời gian theo dõi trung vị là 28,2 tháng, mOS đạt 27,8 tháng. Không ghi nhận sự khác biệt OS theo tình trạng di căn não (p = 0,479), trong khi di căn gan liên quan đến giảm OS có ý nghĩa (20,9 so với 28,8 tháng; p = 0,025). Nhóm đột biến thường gặp (L858R, Del19) có OS cao hơn so với đột biến không thường gặp (p < 0,05). Không có sự khác biệt OS giữa các mức liều. Điều trị bước 2 với Osimertinib cho mOS cao nhất (29,0 tháng). Tác dụng không mong muốn chủ yếu là tiêu chảy và độc tính da (61,3%), đa số mức độ nhẹ-trung bình<span class="s4">, </span>không ghi nhận độc tính ≥ độ 3.</p>Vũ Hà ThanhNguyễn Thị Thái HòaTạ Văn TờTrương Công MinhNguyễn Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203677278310.52852/tcncyh.v203i6.5178Tỉ lệ và yếu tố liên quan hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại Bệnh viện Chợ Rẫy
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5031
<p class="p1">Hội chứng chuyển hóa (HCCH) là bệnh lý đồng mắc phổ biến ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (VKDT) do ảnh hưởng trực tiếp của tình trạng viêm mạn tính, stress oxy hóa và tác động của các thuốc điều trị. Tình trạng này không chỉ biểu hiện qua các rối loạn chuyển hóa hệ thống mà còn gắn liền với nhiều hậu quả bất lợi, trực tiếp làm gia tăng gánh nặng bệnh tật và nguy cơ biến cố tim mạch ở người bệnh. Nghiên cứu cắt ngang trên 151 người bệnh ≥ 18 tuổi được chẩn đoán VKDT điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 39,1%. Tỷ lệ hiện mắc HCCH ở nhóm bệnh nhân VKDT ở mức cao bất kể mức độ hoạt động bệnh. Những bệnh nhân nữ, cao tuổi (≥ 60 tuổi) có tình trạng thừa cân - béo phì (BMI ≥ 25 kg/m<sup>2</sup>) và nồng độ LDL-c thấp cần được tầm soát tình trạng chuyển hóa.</p>Nguyễn Đình KhoaLê Thị Cẩm KhuyênCao Đình Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203678479310.52852/tcncyh.v203i6.5031Thử nghiệm phối hợp aztreonam-avibactam và ceftazidime/avibactam-colistin trên các chủng Pseudomonas aeruginosa kháng carbapenem phân lập tại Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5071
<p class="p1">Giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của aztreonam-avibactam (AZT-AVI) đối với 204 chủng Pseudomonas aeruginosa kháng carbapenem phân lập từ bệnh phẩm hô hấp tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2025 được xác định bằng phương pháp vi pha loãng. 100 chủng trong số này được chọn ra để thử nghiệm phối hợp kháng sinh ceftazidime/avibactam (CZA)-colistin bằng phương pháp checkerboard. Kết quả cho thấy, MIC AZT-AVI của P. aeruginosa phân bố từ 1 µg/ml đến ≥ 32 µg/ml, với MIC<sub>50 </sub>= 16 µg/ml và MIC<sub>90 </sub>≥ 32 µg/ml. 100% các chủng thử nghiệm phối hợp CZA-colistin cho kết quả tương tác không khác biệt. Những kết quả nghiên cứu không đạt được như kỳ vọng cho thấy việc lựa chọn phác đồ điều trị cho P. aeruginosa đa kháng vẫn là một vấn đề cấp bách và cần tích cực tìm ra hướng đi mới trong tương lai.</p>Cao Trần Phương LinhNguyễn Hoàng AnhPhạm Hồng Nhung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203679480310.52852/tcncyh.v203i6.5071Mối liên quan giữa đa hình rs1800629 gen TNFα với SIRS và điểm BISAP ở người bệnh viêm tụy cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5037
<p class="p1">Viêm tụy cấp là bệnh lý có diễn tiến lâm sàng đa dạng, trong đó một số trường hợp có thể nhanh chóng tiến triển nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, thực hiện trên 58 người bệnh viêm tụy cấp nhằm khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs1800629 của gen <em>TNFα</em> với SIRS và điểm BISAP ở người bệnh viêm tụy cấp tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ 06/2025 đến 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen GG chiếm 62,1%, GA chiếm 37,9%, alen G chiếm 81,0% và alen A chiếm 19,0%; phân bố kiểu gen phù hợp cân bằng Hardy–Weinberg. Nhóm mang kiểu gen GA có tỷ lệ SIRS và BISAP mức trung bình–nặng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm GG. Sau hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu, kiểu gen GA vẫn còn duy trì mối liên quan có ý nghĩa thống kê với SIRS và BISAP mức trung bình–nặng, trong khi alen A liên quan với BISAP mức trung bình–nặng. Kết quả này gợi ý đa hình rs1800629 của gen <em>TNFα</em> có liên quan với một số biểu hiện viêm toàn thân sớm ở người bệnh viêm tụy cấp, bao gồm hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) và điểm BISAP mức trung bình–nặng.</p>Tiêu Văn CườngThái Thị Hồng Nhung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203680481210.52852/tcncyh.v203i6.5037Xây dựng và thử nghiệm bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh vảy nến nhằm huấn luyện AI chẩn đoán bệnh vảy nến
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5042
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm xây dựng và thử nghiệm bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh lâm sàng bệnh vảy nến nhằm huấn luyện trí tuệ nhân tạo<span class="s2"> hỗ trợ </span>chẩn đoán bệnh vảy nến tại bệnh viện Da liễu Trung ương. Bộ cơ sở dữ liệu hình ảnh từ 1628 bệnh nhân vảy nến, gồm 23752 ảnh, trong đó số ảnh bệnh vảy nến thông thường là 10939 ảnh, vảy nến thể mủ là 6847 ảnh và vảy nến đỏ da toàn thân là 5966 ảnh. Mô hình AI được đào tạo dựa trên bộ cơ sở dữ liệu trên chẩn đoán vảy nến thông thường có độ nhạy 93,1% và độ đặc hiệu là 85,9%; với chẩn đoán bệnh vảy nến thể mủ có độ nhạy 85,9% và độ đặc hiệu là 93,1%. Độ chính xác của mô hình là 90,5%. Nghiên cứu đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu ảnh lâm sàng vảy nến với đầy đủ số lượng ảnh và đa dạng về các thể bệnh vảy nến. Kết quả thử nghiệm cho thấy mô hình AI có khả năng chẩn đoán bệnh vảy nến dựa trên ảnh lâm sàng.</p>Nguyễn Trần Hải ÁnhNguyễn Hữu SáuNguyễn Long Giang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203681382210.52852/tcncyh.v203i6.5042Tác dụng của viên hoàn mềm Tinh Kỳ trên các chỉ số tinh dịch đồ ở bệnh nhân có suy giảm số lượng, chất lượng tinh trùng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5045
<p class="p1">Viên hoàn mềm Tinh Kỳ có thành phần gồm Hoàng kỳ (Radix Astragali membranacei), Hoàng tinh (Rhizoma Polygonati), Sâm cau (Rhizoma Curculiginis) và Tỏa dương (Cynomorium songaricum). Mục tiêu: đánh giá tác dụng cải thiện các chỉ số tinh dịch đồ của viên hoàn mềm Tinh Kỳ trên bệnh nhân suy giảm số lượng, chất lượng tinh trùng. Can thiệp lâm sàng mở, so sánh trước và sau điều trị, trên 45 bệnh nhân có suy giảm số lượng, chất lượng tinh trùng. Bệnh nhân uống viên hoàn mềm Tinh Kỳ 4 viên/ngày chia 2 lần, trong 70 ngày. Sau điều trị mật độ tinh trùng tăng từ 23,22 ± 12,65 lên 25,78 ± 13,11 triệu/mL, tỉ lệ tinh trùng di động tiến tới tăng từ 25,47 ± 8,06% lên 29,24 ± 9,03%, tỉ lệ tinh trùng sống tăng từ 54,04 ± 13,76% lên 59,76 ± 12,32%, và tỉ lệ hình thái bình thường tăng từ 18,51 ± 13,15% lên 25,91 ± 14,20% (p < 0,05). Tỉ lệ đạt kết quả điều trị tốt là 40%. Bước đầu cho thấy viên hoàn mềm Tinh Kỳ có tác dụng cải thiện các chỉ số tinh dịch đồ trên bệnh nhân có suy giảm số lượng, chất lượng tinh trùng.</p>Bùi Hoàng LinhNguyễn Tuấn LượngTrương Minh TuấnLê Thị Minh Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203682383010.52852/tcncyh.v203i6.5045Đa hình rs854560 gen PON1 và kết cục nội viện ở người bệnh đái tháo đường típ 2 mắc đột quỵ thiếu máu não: Nghiên cứu bệnh-chứng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5066
<p class="p1">Đa hình rs854560 gen <em>PON1</em> có thể ảnh hưởng hoạt tính paraoxonase-1 và liên quan bệnh lý mạch máu qua cơ chế stress oxy hóa. Tuy nhiên vai trò của biến thể này trong đột quỵ thiếu máu não (ĐQTMN) ở người bệnh đái tháo đường típ 2 (ĐTĐ) vẫn chưa rõ. Nghiên cứu bệnh-chứng trên 118 người bệnh ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai (09/2025 – 12/2025) gồm 58 người bệnh ĐQTMN và 60 người bệnh không đột quỵ. Ở nhóm ĐQTMN, tỷ lệ kiểu gen AA, AT, TT lần lượt 94,8%, 1,7%, 3,4%, tần số alen A 95,7%. Phân bố kiểu gen và alen không khác biệt giữa hai nhóm và không liên quan nguy cơ ĐQTMN. Trong nhóm ĐQTMN, tỷ lệ chuyển dạng xuất huyết và biến cố gộp cao hơn ở người bệnh mang AT/TT so với AA. Hồi quy logistic Firth đa biến cho thấy mỗi alen T làm tăng tỷ số chênh của biến cố gộp nội viện lên 4,2 lần (KTC 95%: 1,21 – 19,03; p = 0,025). Kết quả cho thấy đa hình rs854560 gen <em>PON1</em> không liên quan nguy cơ ĐQTMN nhưng gợi ý có thể liên quan với biến cố nội viện ở người bệnh ĐQTMN trên nền ĐTĐ típ 2.</p>Phan Thị BéNgô Văn TruyềnCao Thị Tài NguyênNguyễn Văn HoàngNguyễn Đình Quang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203683184010.52852/tcncyh.v203i6.5066Mối liên quan giữa đa hình rs4950928 gen CHI3L1 và chức năng hô hấp ở người bệnh hen phế quản
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5057
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 95 bệnh nhân hen phế quản điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai 2 từ tháng 06/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen CC của đa hình rs4950928 của gen CHI3L1 chiếm 73,7%, CG chiếm 26,3% và không ghi nhận kiểu gen GG. Tần số alen C là 86,8% và alen G là 13,2%. Chỉ số FEV1/FVC có xu hướng thấp hơn ở nhóm mang kiểu gen CC so với CG và ở nhóm alen C so với alen G. Tỷ lệ tắc nghẽn đường thở (FEV1/FVC<80%) cao hơn ở nhóm CC so với CG (24,3% so với 0,0%) và ở nhóm alen C so với G (20,6% so với 0,0%) với p < 0,05. Trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, alen G của đa hình rs4950928 gen CHI3L1 ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với chỉ số FEV1/FVC cao hơn sau khi hiệu chỉnh các yếu tố lâm sàng (p = 0,008). Tóm lại, ở bệnh nhân hen phế quản, kết quả nghiên cứu bước đầu gợi ý đa hình rs4950928 của gen CHI3L1 có liên quan đến tình trạng tắc nghẽn đường thở và suy giảm chức năng hô hấp.</p>Lê Thanh HoàngVõ Phạm Minh Thư
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203684184910.52852/tcncyh.v203i6.5057Yếu tố liên quan đến thời điểm nội soi mật tụy ngược dòng cấp cứu ở bệnh nhân viêm tụy cấp do sỏi mật có viêm đường mật cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4913
<p class="p1">Nghiên cứu được tiến hành trên 86 bệnh nhân viêm tụy cấp do sỏi mật có viêm đường mật cấp được nội soi mật tụy ngược dòng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 06 năm 2024 đến tháng 09 năm 2025. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 67,6 ± 15,4 trong đó nữ giới chiếm đa số 66,3%. 100% bệnh nhân vào viện đều có triệu chứng đau bụng và vàng da chiếm 57,7%. Viêm tụy cấp mức độ nặng theo Atlanta 2012 chiếm 26,7%. Tỉ lệ bệnh nhân nội soi mật tụy ngược dòng cấp cứu trong nghiên cứu chiếm 52,3%. Phân tích hồi quy logistic đa biến đã xác định được hai yếu tố liên quan độc lập đến thời điểm nội soi mật tụy ngược dòng cấp cứu, bao gồm: Nồng độ Bilirubin máu toàn phần trung bình lúc nhập viện (p = 0,003; OR = 1,02) và viêm đường mật cấp mức độ nặng theo Tokyo 2018 lúc nhập viện (p = 0,001; OR = 5,92).</p>Lưu Quốc TínTrần Đình TríNguyễn Thanh Liêm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203685085910.52852/tcncyh.v203i6.4913Đa hình rs673548, rs676210, rs1042034 gen APOB và yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi mắc hội chứng động mạch vành cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5009
<p class="p1">Gần đây, một số đa hình đơn nucleotide trên gen <em>APOB</em> được ghi nhận có liên quan với yếu tố nguy cơ tim mạch và qua đó góp phần làm nặng thêm bệnh cảnh hội chứng động mạch vành cấp. Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 438 bệnh nhân ≥ 60 tuổi mắc hội chứng động mạch vành cấp tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang từ 01/2024 đến 01/2026. Các SNP rs673548, rs676210 và rs1042034 của gen <em>APOB</em> được xác định bằng kỹ thuật real-time PCR. Tỷ lệ kiểu gen AA, AG, GG của rs673548 lần lượt là 36,3%, 61,4% và 2,3%; của rs676210 là 46,6%, 44,3% và 9,1%; của rs1042034 là 48,2%, 41,3% và 10,5%. Phân tích mối liên quan cho thấy kiểu gen GG của rs673548 có liên quan với bệnh thận mạn trong mô hình đồng trội và mô hình lặn, và vẫn còn ý nghĩa sau hồi quy logistic đa biến và hiệu chỉnh đa kiểm định. Trong khi đó, các đa hình <em>APOB</em> được khảo sát chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hs-troponin, NT-proBNP, hs-CRP và tỷ số ApoB/ApoA1. Tóm lại, trong ba đa hình <em>APOB</em> được khảo sát, rs673548 có thể liên quan với bệnh thận mạn ở bệnh nhân cao tuổi mắc hội chứng động mạch vành cấp.</p>Phạm Huỳnh Minh TríNguyễn Văn TânTrần Viết An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203686087210.52852/tcncyh.v203i6.5009Đa hình rs776746 gen CYP3A5 và mối liên quan với huyết áp ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 3
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4922
<p class="p1">Đa hình rs776746 của gen <em>CYP3A5</em> là biến thể chức năng ảnh hưởng đến biểu hiện enzym và có thể liên quan đến điều hòa huyết áp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Thống Nhất Đồng Nai từ tháng 4 đến tháng 12/2025 nhằm mô tả phân bố kiểu gen và đánh giá mối liên quan giữa rs776746 với huyết áp ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 3. Kết quả ghi nhận ở 65 bệnh nhân cho thấy tần suất kiểu gen AA, AG và GG lần lượt là 15,4%, 47,7% và 36,9%, tần suất alen G là 60,8%. Huyết áp tâm trương ở nhóm GG cao hơn có ý nghĩa so với nhóm AA/AG. Sau hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu, kiểu gen AA/AG liên quan với huyết áp tâm trương thấp hơn 5,10 mmHg so với kiểu gen GG (KTC 95%: -8,61 đến -1,58; p = 0,005). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa giữa rs776746 và huyết áp tâm thu. Kết quả bước đầu gợi ý đa hình rs776746 của gen <em>CYP3A5</em> có thể liên quan đến huyết áp tâm trương ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 3.</p>Bùi Thị Huyền ThươngVõ Thanh HùngNguyễn Như Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203687388110.52852/tcncyh.v203i6.4922Đa hình PNPLA3 rs738409 và hội chứng chuyển hóa ở người trưởng thành Việt Nam không mắc MASLD
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4995
<p class="p1">Đa hình <em>PNPLA3</em> rs738409 (C>G) thúc đẩy gan nhiễm mỡ nhưng tác động hệ thống của nó ở những người không mắc bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD) vẫn chưa rõ ràng. Nghiên cứu này đánh giá mối liên quan giữa biến thể này và nguy cơ hội chứng chuyển hóa (HCCH) ở một đoàn hệ Việt Nam không mắc MASLD. Nghiên cứu cắt ngang trên 429 người trưởng thành không mắc MASLD hoặc viêm gan virus qua khám sức khỏe định kỳ. Kiểu gen rs738409 (CC, GC, GG) được xác định. HCCH được định nghĩa khi có ≥ 3 tiêu chí. Hồi quy logistic đa biến, hiệu chỉnh theo tuổi, giới tính và BMI, được thực hiện để đánh giá mối liên quan. Tần số alen G là 35,1%. Tỷ lệ hiện mắc HCCH chung là 11,4% (15,1% ở CC, 8,5% ở GC và 10,0% ở GG). Trong mô hình trội (GC+GG so với CC), người mang alen G giảm đáng kể nguy cơ mắc HCCH (OR hiệu chỉnh = 0,40; KTC 95%: 0,20 – 0,83, p = 0,014). Các chỉ số thứ cấp như triglyceride-glucose (TyG) và men gan không khác biệt giữa các nhóm. Alen G của <em>PNPLA3</em> rs738409 có liên quan nghịch với nguy cơ mắc HCCH ở người không mắc MASLD, gợi ý hiện tượng phân ly chuyển hóa khi chưa tiến triển thành gan nhiễm mỡ.</p>Nguyễn Hữu Ngọc TuấnNguyễn Minh Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203688288910.52852/tcncyh.v203i6.4995Nồng độ sST2 huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm sau nhồi máu cơ tim
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4879
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm khảo sát nồng độ sST2 huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm sau nhồi máu cơ tim. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 77 bệnh nhân. Kết quả ghi nhận tuổi trung vị là 71,0, nam giới chiếm 53,2%. Hầu hết bệnh nhân có mắc tăng huyết áp (93,5%), một phần ba mắc đái tháo đường (33,8%) và 15,6% bệnh nhân có rối loạn lipid máu, nồng độ sST2 huyết thanh tăng dần theo phân nhóm NYHA từ II đến IV (p = 0,005). Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến ghi nhận rung nhĩ và NYHA III-IV là các yếu tố liên quan độc lập với nồng độ sST2 huyết thanh (p = 0,028 và p = 0,005). Kết luận, nồng độ sST2 huyết thanh ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm sau nhồi máu cơ tim có trung vị là 22,3 ng/mL. Rung nhĩ và mức độ nặng của suy tim thể hiện qua phân độ NYHA là các yếu tố liên quan độc lập với nồng độ sST2 huyết thanh.</p>La Quốc Khôi NguyênPhạm Kiều Anh ThơTrần Viết An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203689089810.52852/tcncyh.v203i6.4879Nghiện mạng xã hội và hành vi tự gây tổn thương không tự sát ở học sinh trung học phổ thông: Phân tích trung gian nối tiếp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5578
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang trên 747 học sinh THPT Hai Bà Trưng, Thành phố Huế nhằm đánh giá vai trò trung gian nối tiếp của rối loạn giấc ngủ và lòng tự trọng trong mối liên quan giữa nghiện mạng xã hội và hành vi tự gây tổn thương không tự sát. Các công cụ sử dụng gồm BSMAS, PSQI, RSES và FASM. Phân tích trung gian nối tiếp được thực hiện bằng PROCESS macro, bootstrap. Tỷ lệ NSSI thuần túy là 38,3%; 57,4% học sinh có chất lượng giấc ngủ kém. Nghiện mạng xã hội tương quan thuận với rối loạn giấc ngủ (r = 0,312; p < 0,001) và tương quan nghịch với lòng tự trọng (r = −0,321; p < 0,001). Hiệu ứng trực tiếp giữa nghiện mạng xã hội và NSSI không có ý nghĩa thống kê, trong khi hiệu ứng gián tiếp qua chuỗi rối loạn giấc ngủ → lòng tự trọng thấp có ý nghĩa. Kết quả ủng hộ mô hình trung gian hoàn toàn, cho thấy nghiện mạng xã hội có liên quan với NSSI thông qua suy giảm giấc ngủ và lòng tự trọng. Can thiệp là cần thiết để phòng ngừa NSSI.</p>Nguyễn Hữu Minh AnHồ Thị Minh SangLê Triều SơnLê Trần Tuấn AnhNguyễn Thị Kiều KhanhNguyễn Văn Tuy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203689990610.52852/tcncyh.v203i6.5578Đặc điểm và nguyên nhân gây bệnh viêm màng bồ đào tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5562
<p class="p1">Viêm màng bồ đào là một trong những nguyên nhân quan trọng gây suy giảm thị lực với biểu hiện lâm sàng và căn nguyên đa dạng. Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây viêm màng bồ đào ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 90 bệnh nhân được chẩn đoán viêm màng bồ đào tại Khoa Mắt trong giai đoạn 2023 – 2024. Viêm màng bồ đào gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi lao động (82,2%) và ở nữ giới (60,4%). Tổn thương hai mắt chiếm 61,1% trường hợp. Viêm màng bồ đào toàn bộ là thể giải phẫu thường gặp nhất (35,6%), tiếp theo là viêm màng bồ đào trước (32,2%). Nhìn mờ là triệu chứng phổ biến nhất (84,6%), trong khi đau mắt, đỏ mắt và ruồi bay lần lượt gặp ở 49,5%, 38,5% và 16,5% bệnh nhân. Viêm màng bồ đào vô căn chiếm tỷ lệ cao nhất (48,9%). Trong nhóm nguyên nhân nhiễm trùng, viêm màng bồ đào do Toxocara gặp nhiều nhất, trong khi hội chứng Vogt–Koyanagi–Harada là nguyên nhân không nhiễm trùng phổ biến nhất. Việc đánh giá toàn diện đặc điểm lâm sàng và căn nguyên có vai trò quan trọng trong chẩn đoán chính xác, điều trị sớm, phòng ngừa biến chứng và bảo tồn chức năng thị giác.</p>Lê Thị Hồng NhungĐỗ Dung HòaĐào Thị Kim YếnNguyễn Thị Thu Hiền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203690791410.52852/tcncyh.v203i6.5562Đánh giá tác dụng điều trị ban đầu của viên nang cứng DIDALA trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5621
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng hạ glucose máu, hạ HbA1c và tính an toàn của thuốc DIDALA đơn trị liệu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội. Phương pháp can thiệp lâm sàng, so sánh trước-sau điều trị, có đối chứng trên 70 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán. 35 bệnh nhân nhóm nghiên cứu uống DIDALA (Folium Mori albae) 3.420 mg/ngày, 35 bệnh nhân nhóm chứng uống metformin 1.000mg/ngày trong 12 tuần. Kết quả sau điều trị, glucose máu lúc đói ở nhóm nghiên cứu giảm từ 8,2 ± 1,4 mmol/l xuống 7,5 ± 1,6 mmol/l, HbA1c giảm từ 7,2 ± 1,0 xuống 6,6 ± 0,8 (%) với p < 0,05, hiệu quả không có sự khác biệt so với nhóm chứng điều trị bằng metformin (p > 0,05). Chưa ghi nhận tác dụng không mong muốn đáng kể trên lâm sàng và cận lâm sàng. Như vậy thuốc DIDALA đơn trị liệu có tác dụng hạ glucose máu, hạ HbA1c và an toàn trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 mới được chẩn đoán.</p>Nguyễn Kim NgọcNguyễn Thị Thu HàPhạm Thị Vân Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-07-062026-07-06203691592310.52852/tcncyh.v203i6.5621