Tạp chí Nghiên cứu Y học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh
Trường Đại Học Y Hà Nộivi-VNTạp chí Nghiên cứu Y học2354-080XPhân tích áp lực hô hấp trên các sai hình xương sọ mặt khác nhau
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5163
<p class="p1">Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa hình thái đường thở và hình thái sọ mặt, nhấn mạnh nhiều hơn vào chiều trước–sau so với chiều dọc. Tuy nhiên, mối liên quan giữa các dạng sai hình xương và chức năng hô hấp vẫn chưa được làm rõ. Mặc dù các nghiên cứu ba chiều ghi nhận sự gia tăng kích thước đường thở sau điều trị chỉnh nha, những thay đổi hình thái không nhất thiết phản ánh cải thiện chức năng. Chức năng đường thở phụ thuộc vào sức cản luồng khí và hoạt động cơ hô hấp, trong đó áp lực hô hấp tối đa (RMS) là chỉ số quan trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá RMS ở bệnh nhân có các dạng sai hình xương khác nhau và khảo sát mối liên quan với kích thước đường thở trên CBCT. RMS trong nghiên cứu này dùng để chỉ mức độ thay đổi áp lực dòng khí thu được từ mô phỏng CFD của đường thở trên, không phải sức mạnh cơ hô hấp (respiratory muscle strength) trong sinh lý hô hấp.Kết quả cho thấy RMS cao nhất ở nhóm hạng II (5,8 ± 5,5), tiếp theo là hạng I (4,6 ± 4,3) và thấp nhất ở hạng III (3,9 ± 3,0), với sự khác biệt có ý nghĩa giữa hạng II và hạng III. Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về chức năng hô hấp giữa các dạng sai hình xương, gợi ý rằng kết hợp đánh giá RMS và hình thái đường thở có thể hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh nha hiệu quả hơn.</p>Vũ Thị Thu TrangVũ Đình Việt AnhLê Đình TùngĐỗ Hoàng ViệtTrần Thị Bích HòaNguyễn Thanh Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-2520581810.52852/tcncyh.v205i8.5163Kích thước lỗ cằm và lỗ cằm phụ trên phim CBCT ở người trưởng thành từ 18 - 30 tuổi tại Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5332
<p class="p1">Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỷ lệ xuất hiện, hướng phân bố của lỗ cằm, lỗ cằm phụ và đánh giá sự khác biệt theo giới tính, vị trí hai bên cung hàm trên phim CBCT ở người trưởng thành 18 - 30 tuổi tại Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 phim CBCT (58 nam, 69 nữ), khảo sát 254 lỗ cằm và 25 lỗ cằm phụ. Kết quả cho thấy theo giới tính, hầu hết các chỉ số (MCL, MFVD, MFW, DFU, DFL) ở nam lớn hơn so với nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) ngoại trừ góc ống cằm (p > 0,05). Tỷ lệ lỗ cằm phụ là 9,84%; các kích thước không khác biệt giữa hai bên nhưng ở nam lớn hơn ở nữ (p < 0,05). Hướng mở lỗ cằm phụ chủ yếu là hướng gần (76%). Lỗ cằm ghi nhận xu hướng đối xứng hai bên trong mẫu nghiên cứu. Lỗ cằm phụ có đặc điểm hình thái riêng biệt, phân bố có xu hướng theo giới và theo cung hàm tương đồng với lỗ cằm. Việc đánh giá CBCT trước can thiệp có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị nhằm hạn chế biến chứng thần kinh trong thực hành nha khoa.</p>Trương Đình KhởiLê Linh Chi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205891810.52852/tcncyh.v205i8.5332Hình thái, kích thước lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên xương hàm dưới trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5333
<p class="p1">Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỉ lệ xuất hiện, phân bố theo giới tính và vị trí, tỉ lệ có kích thước > 1 mm của lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 158 phim CBCT (87 nam, 71 nữ), khảo sát 247 lỗ lưỡi giữa và 274 lỗ lưỡi bên. Kết quả cho thấy rằng 100% đối tượng có ít nhất một lỗ lưỡi giữa; lỗ lưỡi bên xuất hiện với tỷ lệ 71,52%. Lỗ lưỡi giữa chủ yếu nằm trên gai cằm (72,15%) trong khi lỗ lưỡi bên tập trung ở vùng răng hàm nhỏ và răng hàm lớn. Các kích thước của cả lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên ở nam lớn hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Phần lớn các lỗ có kích thước ≤ 1 mm, tuy nhiên vẫn ghi nhận một tỷ lệ nhất định > 1 mm, đặc biệt ở lỗ lưỡi giữa. Lỗ lưỡi là cấu trúc giải phẫu phổ biến với sự biến thiên đáng kể về số lượng, vị trí và kích thước, đồng thời có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính. CBCT nên được cân nhắc trong các trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao hoặc nghi ngờ biến thể giải phẫu để hỗ trợ việc lập kế hoạch điều trị chính xác, phù hợp hơn, giảm nguy cơ biến chứng.</p>Trương Đình KhởiLê Linh Chi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058192610.52852/tcncyh.v205i8.5333Phân tích tin sinh học về biểu hiện, tiên lượng và ý nghĩa sinh học của FOS trong ung thư vú
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5349
<p class="p1">Nghiên cứu này nhằm phân tích đặc điểm biểu hiện, giá trị tiên lượng và ý nghĩa sinh học tiềm năng của <em>FOS</em> trong ung thư vú bằng cách khai thác các cơ sở dữ liệu công khai và các công cụ tin sinh học, bao gồm TCGA-BRCA, Kaplan-Meier Plotter, bc-GenExMiner, GeneMANIA, STRING, DAVID và miRmap. Kết quả cho thấy <em>FOS</em> biểu hiện giảm rõ rệt ở mức mRNA trong mô ung thư vú nguyên phát so với mô vú bình thường, đồng thời mức biểu hiện thay đổi theo giai đoạn bệnh và phân nhóm ung thư vú. Phân tích sống còn ghi nhận rằng biểu hiện <em>FOS</em> cao hơn liên quan đến kết cục sống còn thuận lợi hơn, bao gồm sống còn không tái phát và sống còn không di căn xa. Phân tích mạng lưới cho thấy FOS/c-Fos liên quan chặt chẽ với các thành viên của họ JUN/FOS và phức hợp AP-1. Phân tích làm giàu chức năng gợi ý rằng các gen/protein liên quan đến FOS/FOS được làm giàu trong các quá trình điều hòa phiên mã, tín hiệu estrogen, MAPK và đáp ứng stress. Ngoài ra, hsa-miR-221-3p và hsa-miR-222-3p được dự đoán có khả năng điều hòa hậu phiên mã <em>FOS</em>. Nhìn chung, <em>FOS</em> là một dấu ấn sinh học tiềm năng trong ung thư vú; tuy nhiên, các kết quả hiện tại chủ yếu dựa trên dữ liệu mRNA và phân tích tin sinh học hồi cứu, do đó cần được xác nhận thêm bằng dữ liệu protein, mô hình lâm sàng đa biến và các nghiên cứu thực nghiệm.</p>Nguyễn Thanh ThúyNguyễn Tú AnhNguyễn Hoàng Anh DuyQuang Trọng Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058274310.52852/tcncyh.v205i8.5349Khảo sát phổ biến thể gen gây bệnh ở nhóm người bệnh chậm phát triển tâm thần nặng bằng giải trình tự hệ gen mã hóa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5354
<p class="p1">Khảo sát phổ biến thể gen và mô tả đặc điểm lâm sàng ở nhóm người bệnh có CPTTT nặng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 18 người bệnh CPTTT bằng giải trình tự hệ gen mã hóa (Exome Sequencing - ES/WES) tại trung tâm di truyền lâm sàng - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả, phát hiện được 3 trường hợp mang biến thể gen <em>MECP2</em> (16,7%), 15 trường hợp còn lại phát hiện các biến thể rải rác ở các gen khác nhau chiếm 83,3%. Nhóm <em>MECP2</em> có tỷ lệ động kinh cao hơn nhóm mang biến thể các gen khác (66,7% so với 26,7), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê do số lượng mẫu còn nhỏ (p = 0,245). Về tuổi khởi phát, thoái triển thần kinh và biểu hiện tự kỷ sự khác biệt cũng chưa có ý nghĩa thống kê. Như vậy, ngoài biến thể gen <em>MECP2</em> được phát hiện với tỷ lệ cao nhất, cũng phát hiện đc 15 biến thể nằm rải rác ở các gen khác nhau, cho thấy xét nghiệm ES là phương pháp có hiệu quả cao trong chẩn đoán nguyên nhân di truyền cho nhóm người bệnh CPTTT nặng.</p>Hoàng Thu LanHồ Cẩm TúĐào Thị TrangNguyễn Phương MaiNguyễn Thị Khánh VânLê Thị HạnhLương Thị Lan Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058445510.52852/tcncyh.v205i8.5354Mối liên quan thăm dò giữa biến thể gen thụ thể vitamin D và nồng độ 25-hydroxyvitamin D ở trẻ mắc sốt xuất huyết Dengue
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5505
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm khảo sát, với tính chất thăm dò, mối liên quan giữa các biến thể gen thụ thể vitamin D (VDR) và nồng độ 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] huyết thanh ở trẻ em mắc sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 267 bệnh nhi dưới 16 tuổi điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ và Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau từ tháng 02/2024 đến tháng 12/2025. Trong 267 bệnh nhi, tuổi trung vị là 10,9 năm; nữ chiếm 43,8%; SXHD nặng và sốc lần lượt là 34,5% và 34,1%. Nồng độ 25(OH)D được định lượng trong pha cấp; bốn biến thể gen VDR gồm rs2228570 (FokI T>C), rs7975232 (ApaI G>T), rs731236 (TaqI T>C) và rs1544410 (BsmI G>A) được xác định kiểu gen. Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa biến thể gen VDR và 25(OH)D. Sau hiệu chỉnh, rs7975232 (ApaI G>T) theo mô hình mang alen T ghi nhận tín hiệu liên quan thăm dò với 25(OH)D thấp hơn (β = -3,54; KTC 95%: -6,53 đến -0,54; p = 0,021). Haplotype G-T-T theo thứ tự BsmI–ApaI–TaqI cũng ghi nhận tín hiệu liên quan thăm dò với 25(OH)D thấp hơn (β = -3,22; KTC 95%: -5,92 đến -0,52; p = 0,020). Các phát hiện này là tín hiệu thăm dò, chưa chứng minh quan hệ nhân quả và cần được xác nhận trong các nghiên cứu độc lập.</p>Phan Việt HưngNguyễn Thị Diệu ThúyNguyễn Minh Phuong
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058566510.52852/tcncyh.v205i8.5505Bất thường di truyền tế bào phát hiện bằng kỹ thuật FISH và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đa u tuỷ xương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5581
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 66 bệnh nhân chẩn đoán đa u tủy xương tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An từ tháng 01/2021 đến tháng 08/2025, nhằm xác định tỷ lệ bất thường di truyền tế bào bằng kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) và đánh giá mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đa u tuỷ xương. Kết quả: bất thường được phát hiện ở 18 bệnh nhân (27,3%). Trong đó, dups(1q) chiếm tỷ lệ cao nhất (16,7%), tiếp theo là del(13q) (9,1%), del(17p) (3,0%); không ghi nhận đột biến chuyển đoạn liên quan vùng gen IGH; 01 trường hợp đồng thời mang del(13q) và dups(1q). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định ba yếu tố có liên quan với sự hiện diện bất thường di truyền bằng FISH: nồng độ Canxi huyết thanh cao (OR = 1,33; p = 0,006), giai đoạn ISS cao (OR = 11,82; p = 0,009) và nồng độ ALP huyết thanh tăng (OR = 1,18; p = 0,025).</p>Đặng Thị Ngọc ÁnhTrương Văn LợiNguyễn Ngọc Hòa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058667710.52852/tcncyh.v205i8.5581Một số đặc điểm kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5610
<p class="p1">Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm về kích thước và các yếu tố liên quan của động mạch nền trên 173 phim chụp cắt lớp vi tính sọ não tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết quả cho thấy chiều dài trung bình của động mạch nền là 24,19 ± 4,02 mm; đường kính trung bình tại các vị trí nguyên ủy, đoạn giữa, và tận cùng lần lượt là 3,5 ± 0,55 mm, 3,23 ± 0,49 mm, và 3,66 ± 0,64 mm và đường kính trung bình chung là 3,46 ± 0,51 mm. Các kích thước động mạch nền của nam giới lớn hơn đáng kể so với nữ giới (p < 0,05). Không ghi nhận mối liên quan giữa tuổi và chiều dài động mạch nền. Ở nữ giới, đường kính nguyên ủy ở nhóm tuổi già cao hơn đáng kể nhóm tuổi trung niên (p = 0,040). Ở nam giới, đường kính đoạn giữa ở nhóm tuổi già cao hơn nhóm tuổi trung niên, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,017). Kết quả cho thấy kích thước động mạch nền có sự khác biệt theo giới tính, trong khi sự khác biệt theo nhóm tuổi chỉ được ghi nhận ở một số vị trí đường kính động mạch khi phân tích riêng theo từng giới.</p>Nguyễn Thị Thu HuyềnLê Mạnh ThườngNguyễn Đức NghĩaNgô Xuân KhoaLê Thanh DũngTrần Quang LộcNgô Thành Ý
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058788510.52852/tcncyh.v205i8.5610Đặc điểm chiều ngang cung răng hàm trên và hàm dưới theo chỉ số Yonsei trên phim CBCT ở người bệnh sai khớp cắn loại III do xương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5668
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu nhằm đánh giá đặc điểm tương quan chiều ngang cung răng hàm trên và hàm dưới ở người bệnh sai khớp cắn loại III do xương chưa điều trị chỉnh nha trên phim cắt lớp vi tính chùm tia hình nón. Độ rộng cung răng hàm trên tại vùng răng hàm lớn thứ nhất (AWU6), độ rộng cung răng hàm dưới (AWL6) và chênh lệch AWU6-AWL6 được đo theo nguyên lý chỉ số Yonsei. Các chỉ số được phân tích theo giới và nhóm tuổi. AWU6 trung bình là 47,09 ± 2,36 mm, AWL6 là 50,15 ± 1,99 mm; chênh lệch AWU6-AWL6 là -3,05 ± 2,07 mm. Chênh lệch âm được ghi nhận ở 79 trường hợp (97,5%). Mức chênh lệch âm lớn nhất gặp ở nhóm dưới 15 tuổi (-4,00 ± 2,13 mm), sau đó giảm dần ở nhóm 15-18 tuổi và trên 18 tuổi. Người bệnh sai khớp cắn loại III do xương có xu hướng bất tương xứng chiều ngang hàm trên-hàm dưới tại vùng răng hàm lớn thứ nhất.</p>Nguyễn Thanh HuyềnNguyễn Hương LyĐào Thị DungVũ Thị Thu Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058869210.52852/tcncyh.v205i8.5668Đặc điểm biến thể gen MMUT trên người bệnh mắc methylmalonic acidemia: Báo cáo loạt ca bệnh đầu tiên ở Việt Nam
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5729
<p class="p1">Methylmalonic acidemia (MMA) thể MMUT là rối loạn chuyển hóa acid hữu cơ di truyền lặn nguy hiểm. Nghiên cứu hồi cứu mô tả 6 ca bệnh MMA chẩn đoán tại Bệnh viện Nhi Trung ương bằng khối phổ đôi (MS/MS), sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC/MS), giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) và Sanger. Cả 6 ca bệnh đều nhập viện với nhiễm toan chuyển hóa cấp, không trường hợp nào được phát hiện qua sàng lọc sơ sinh. Tất cả đều tăng propionylcarnitine (C3); năm ca bệnh có bất thường acid hữu cơ niệu. Phân tích di truyền xác định 7 biến thể trên gen <em>MMUT</em>, trong đó hai biến thể phổ biến nhất là c.754-2A>G và c.581C>T p.(Pro194Leu), cùng gặp ở 3/6 ca bệnh (50%). Mức độ nặng giảm dần từ nhóm mut<sup>0</sup>/mut<sup>0</sup> đến mut<sup>0</sup>/mut<sup>−</sup> và mut<sup>−</sup>/mut<sup>−</sup>: mut<sup>0</sup>/mut<sup>0</sup> liên quan nguy cơ tử vong cao, mut<sup>0</sup>/mut<sup>−</sup> thường chậm phát triển thần kinh, mut<sup>−</sup>/mut<sup>−</sup> chủ yếu có biến chứng thần kinh tiến triển. Đây là nghiên cứu đầu tiên mô tả phổ biến thể gen <em>MMUT</em> ở người Việt Nam, nhấn mạnh sự cần thiết của sàng lọc sơ sinh mở rộng bằng MS/MS, với GC/MS là xét nghiệm xác nhận và NGS để chẩn đoán phân tử.</p>Diệp Minh QuangVũ Chí DũngNguyễn Ngọc KhánhTrần Thị Chi MaiNguyễn Quý HoàiNguyễn Ngọc LanLê Thị PhươngNguyễn Hoàng ViệtTrần Huy ThịnhNgô Xuân KhoaNguyễn Hữu TúLê Mạnh ĐứcVũ Ngọc BắcTrần Vân Khánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-2520589310710.52852/tcncyh.v205i8.5729Kích thước niệu quản trên cắt lớp vi tính và mối liên quan với các chỉ số nhân trắc
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5760
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa chiều dài và đường kính niệu quản với các chỉ số nhân trắc cơ thể, đồng thời đánh giá giá trị của khoảng cách UPJ–UVJ trong ước tính chiều dài niệu quản trên cắt lớp vi tính hệ tiết niệu. Kết quả cho thấy khoảng cách UPJ–UVJ trung bình khoảng 18 cm và không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai bên hoặc giữa nam và nữ (p > 0,05). Không ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa giữa chiều dài hoặc đường kính niệu quản với chiều cao, cân nặng và BMI (r < 0,12; p > 0,05). Khoảng cách UPJ–UVJ có xu hướng tương quan dương với chiều dài niệu quản (r = 0,317), tuy nhiên chưa đạt ý nghĩa thống kê. Nhìn chung, kích thước niệu quản không cho thấy mối liên quan rõ ràng với các chỉ số nhân trắc.</p>Ngô Xuân KhoaVũ Thành TrungVõ Tiến HuyNguyễn Ngọc ÁnhNguyễn Tuấn SơnNgô Thuỳ Anh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205810811410.52852/tcncyh.v205i8.5760Đặc điểm đa hình rs4244285 của gen CYP2C19 và một số yếu tố liên quan kết quả điều trị ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5800
<p class="p1">Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một trong những rối loạn tiêu hóa thường gặp. Đa hình rs4244285 của gen <em>CYP2C19</em> ảnh hưởng trực tiếp đến chuyển hóa một số thuốc nhóm PPIs, nhóm thuốc điều trị chính. Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 90 người bệnh được chẩn đoán GERD có nội soi thực quản dạ dày từ 06/2025 đến 12/2025. Kết quả nghiên cứu: tuổi trung bình 60,5 ± 14,8, nữ chiếm 52,2%. Kiểu gen GG, GA và AA lần lượt chiếm 40,0%, 38,9% và 21,1%. Tần suất allele G là 59,4% và allele A là 40,6%. Tỷ lệ hết triệu chứng nóng rát và trớ sau điều trị đạt 82,2%. Điểm GERD-Q giảm có ý nghĩa từ trung vị 8,0 [7,0 – 10,0] còn 6,0 [5,0 – 8,0]. Kiểu gen GA+AA có khả năng đáp ứng điều trị cao hơn nhóm GG. Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị: nhóm tuổi 40 – 59, nhóm tuổi ≥ 60 và điểm GERD-Q trước điều trị càng cao thì khả năng đáp ứng điều trị càng tăng. Đa hình rs4244285 của gen <em>CYP2C19</em> có tiềm năng hỗ trợ đánh giá kết quả điều trị GERD.</p>Nguyễn Văn ÚtKha Hữu NhânĐặng Duy ThanhNguyễn Thị Diễm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205811512410.52852/tcncyh.v205i8.5800Kết quả phẫu thuật đục thể thủy tinh sử dụng laser femtosecond tại Bệnh viện Mắt Trung ương (2017 – 2023)
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4065
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá kết quả phẫu thuật đục thể thủy tinh sử dụng laser femtosecond (FLACS) tại Bệnh viện Mắt Trung ương giai đoạn 2017 – 2023. Phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 134 mắt (105 bệnh nhân) được phẫu thuật FLACS từ 01/2017- 12/2023. Bệnh nhân được theo dõi sau mổ 1 tuần, 1 tháng (134 mắt), 3 tháng (110 mắt), 1 năm (96 mắt), 3 năm (79 mắt) và 5 năm (54 mắt). Tuổi trung bình 50,62 ± 14,98; nam giới chiếm 60%. Tỷ lệ mắt có thị lực không chỉnh kính ≥ 20/40 đạt 85,1% sau 1 tuần và duy trì ≥ 92% từ 1 tháng đến 5 năm. Khúc xạ tương đương cầu (SE) trung bình ổn định quanh -0,19D đến -0,20D trong 5 năm theo dõi; 90,7% mắt có SE trong khoảng ±0,5D và 100% trong khoảng ±1,0D sau 5 năm. Tỷ lệ mở bao trước hoàn chỉnh đạt 88,06%, 100% chính tâm giác mạc. Tỷ lệ không biến chứng trong mổ đạt 82,84%; biến chứng muộn thường gặp nhất là đục bao sau (11,94%). Phẫu thuật FLACS là phương pháp an toàn, hiệu quả, đạt kết quả tốt và ổn định lâu dài.</p>Phạm Thị Minh KhánhNguyễn Xuân HiệpPhạm Thị Thu Thủy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205812513310.52852/tcncyh.v205i8.4065Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị thang điểm pSOFA cải tiến trong tiên lượng kết cục lâm sàng ở bệnh nhi sốt xuất huyết Dengue nặng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4944
<p class="p1">Nghiên cứu trên 80 bệnh nhi được chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue nặng theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế năm 2023 điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ cho kết quả như sau: độ tuổi trung bình là 10,9 tuổi, trẻ nam chiếm 56,2% và trẻ thừa cân béo phì 31,3%. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là đau bụng (63,7%), xuất huyết dưới da (52,5%), nôn ói (48,8%).Giá trị trung vị số lượng tiểu cầu là 25.500 tế bào/mm<sup>3</sup>, hematocrit trung bình 46,3%. Phân tích cho thấy điểm pSOFA có giá trị tiên lượng đối với các kết cục lâm sàng nặng: Khi pSOFA cao hơn 1 điểm, nguy cơ bệnh nhi cần thở máy tăng gấp 3,5 lần (OR = 3,518; 95% CI: 1,296 – 9,555; p = 0,014, AUC = 0,771) và nguy cơ thở NCPAP tăng gấp 2,1 lần (OR = 2,122; p = 0,009, AUC = 0,685). Đồng thời, pSOFA cao cũng làm tăng nguy cơ nằm viện kéo dài trên 7 ngày (OR = 1,910; p = 0,015, AUC = 0,659). Thang điểm pSOFA cải tiến có giá trị trong việc tiên lượng các kết cục lâm sàng ở bệnh nhi sốt xuất huyết Dengue nặng.</p>Trương Nguyễn Huỳnh NhưDương Văn HiếuNguyễn Huỳnh Nhật TrườngNguyễn Ngọc Rạng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205813414310.52852/tcncyh.v205i8.4944Giá trị tiên lượng của thang điểm CADILLAC ở bệnh nhân hội chứng vành cấp không ST chênh lên được can thiệp mạch vành qua da
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5063
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu theo đoàn hệ trên 350 bệnh nhân (tuổi trung vị 66, 56,3% nam) hội chứng vành cấp không ST chênh lên (HCVC KSTCL) được can thiệp mạch vành qua da (CTMVQD) nhằm đánh giá giá trị tiên lượng tử vong nội viện của thang điểm CADILLAC. Tỷ lệ tử vong nội viện là 3,1%. So với nhóm sống sót, nhóm tử vong có tỷ lệ tuổi > 65, tiền căn nhồi máu cơ tim, rung nhĩ, Killip ≥ II, eGFR < 60 mL/phút/1,73 m2, thiếu máu, LVEF ≤ 40% và điểm CADILLAC, GRACE cao hơn có ý nghĩa. Phân tầng theo thang điểm CADILLAC cho thấy 81,8% tử vong thuộc nhóm nguy cơ cao, không ghi nhận tử vong ở nhóm nguy cơ thấp. Thang điểm CADILLAC cho thấy khả năng phân biệt tương đối tốt tử vong nội viện (AUC = 0,890; KTC 95%: 0,852 – 0,921); tại điểm cắt > 11, độ nhạy 77,8%, độ đặc hiệu 95,0%, giá trị tiên đoán dương 29,2% và giá trị tiên đoán âm 98,8%. Trong phân tích hồi quy logistic đa biến, CADILLAC là yếu tố liên quan độc lập với tử vong nội viện. Trong khuôn khổ nghiên cứu đơn trung tâm với cỡ mẫu vừa và số biến cố tử vong thấp, thang điểm CADILLAC cho thấy tiềm năng là một công cụ bổ sung hữu ích cho phân tầng nguy cơ sớm ở bệnh nhân HCVC KSTCL được CTMVQD trong giai đoạn nằm viện.</p>Hoàng Huy TrườngĐinh Đức Huy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205814415510.52852/tcncyh.v205i8.5063Mô hình Nomogram cộng hưởng từ đa thông số trong phân biệt u thần kinh đệm bậc cao và u lympho não nguyên phát
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5064
<p class="p1">Với mục tiêu đánh giá tiềm năng của các thông số cộng hưởng từ (CHT) khuếch tán sức căng (DTI), phổ (MRS) và tưới máu (MRP), và thiết lập mô hình Nomogram phân biệt u thần kinh đệm bậc cao (HGG) và u lympho não nguyên phát (PCNSL), nghiên cứu hồi cứu trên 24 HGG và 23 PCNSL, định lượng FA, MD, rCBV, rCBF và tỷ lệ Cho/NAA, Cho/Cr tại vùng u đặc (t) và quanh u (p). Sàng lọc biến số tối ưu bằng thuật toán LASSO, xây dựng Nomogram qua hồi quy Logistic và kiểm định nội bộ bằng kỹ thuật Bootstrapping. Kết quả cho thấy ba biến số cốt lõi nhất được tuyển chọn vào Nomogram bao gồm MDt, rCBVt, và rCBVp. Mô hình có diện tích dưới đường cong (AUC) đạt 0,978, độ đồng thuận cao trên đường cong Calibration với sai số hiệu chỉnh Bootstrap (MAE) cực kỳ thấp ở mức 0,049. Sự kết hợp MDt, rCBVt, và rCBVp thông qua mô hình học máy LASSO Nomogram bước đầu xây dựng một công cụ dự báo trực quan, hỗ trợ chẩn đoán phân biệt HGG và PCNSL.</p>Nguyễn Duy HùngLê Thị Hồng PhươngLê Thanh Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205815616410.52852/tcncyh.v205i8.5064Diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và mối liên quan với biến chứng nội viện trong viêm tụy cấp do tăng triglyceride: Kết quả bước đầu từ nghiên cứu quan sát tiến cứu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5072
<p class="p1">Nghiên cứu quan sát tiến cứu được thực hiện trên 32 bệnh nhân viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu tại Bệnh viện Trưng Vương nhằm mô tả diễn tiến độ thanh thải triglyceride huyết thanh và khảo sát mối liên quan bước đầu giữa chỉ số này với các biến chứng nội viện. Độ thanh thải triglyceride tăng dần từ 33,8 ± 13,2% sau 24 giờ lên 52,4 ± 16,7% sau 48 giờ và 66,3 ± 18,2% sau 72 giờ. Tỷ lệ bệnh nhân thuộc nhóm thanh thải nhanh là 62,5% tại thời điểm 48 giờ. Độ thanh thải triglyceride tại 48 giờ và 72 giờ có tương quan nghịch với số ngày nằm viện, với r lần lượt là -0,46 và -0,53. Độ thanh thải triglyceride cho thấy khả năng phân biệt bước đầu đối với biến chứng tại tụy là 0,89 (KTC 95%: 0,69 – 1,00) ở cả hai thời điểm, trong khi AUC đối với biến chứng ngoài tụy lần lượt là 0,90 (KTC 95%: 0,79 – 1,00) và 0,91 (KTC 95%: 0,81 – 1,00). Kết quả bước đầu gợi ý độ thanh thải triglyceride có thể là một chỉ số động hữu ích trong theo dõi sớm ở giai đoạn nội viện.</p>Nguyễn Văn TrungHuỳnh Thị Hồng NgọcHuỳnh Hiếu Tâm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205816517410.52852/tcncyh.v205i8.5072Kết quả điều trị đơn trị pembrolizumab ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có bộc lộ PD-L1 ≥ 50% tại Bệnh viện Phổi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5103
<p class="p1">Điều trị miễn dịch đơn trị pembrolizumab ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) có PD-L1 ≥ 50% đem lại kết quả vượt trội trong thời gian gần đây. Nghiên cứu thực hiện trên 49 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn di căn, không có đột biến gen <em>EGFR</em>, <em>ALK</em> tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ 2018 đến 10/2025. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đáp ứng (ORR) của nhóm nghiên cứu là 65,3% (hoàn toàn 6,1%, một phần 59,2%), giữ nguyên 14,2% và kiểm soát bệnh là 79,5%, tiến triển là 20,4%. Trung vị thời gian sống bệnh không tiến triển bệnh (PFS) 13,27 tháng, cao nhất là 29 tháng. Trung vị thời gian sống còn toàn bộ (OS) là 20,13 tháng và cao nhất là 60 tháng. Tác dụng phụ không mong muốn chính là suy giáp, suy thượng thận, phản ứng trên da và viêm phổi chiếm tỉ lệ thấp và thường ở mức độ nhẹ. Như vậy, điều trị đơn trị Pembrolizumab trên bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn di căn có bộc lộ PD-L1 ≥ 50% cải thiện đáng kể về tỷ lệ đáp cũng cũng như thời gian sống còn toàn bộ.</p>Đinh Văn LượngNguyễn Thị OanhLê Tú Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205817518210.52852/tcncyh.v205i8.5103Rối loạn cương dương sau phẫu thuật ung thư trực tràng tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5138
<p>Rối loạn cương dương là rối loạn chức năng tình dục hay gặp ở bệnh nhân nam giới sau phẫu thuật ung thư trực tràng. Chúng tôi nghiên cứu trên 107 bệnh nhân nam giới sau phẫu thuật ung thư trực tràng tại khoa Ngoại Tổng Hợp Quán Sứ và khoa Ngoại Tiêu Hóa II Bệnh viện K từ tháng 1/2023 đến tháng 6/2024. Kết quả: Tuổi trung bình trong nghiên cứu là 57,92 ± 8,37; có 24,3% bệnh nhân điều trị hóa xạ trị trước mổ; tỷ lệ phẫu thuật nội soi là 33,6%; phẫu thuật cắt trước và cắt trước thấp chiếm tỷ lệ 22,4% và 36,4%; rò tiêu hóa sau phẫu thuật là 7,4%. Thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật tỉ lệ rối loạn cương dương là 86,9% với điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 13,69 ± 5,53. Thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật rối loạn cương dương mức độ vừa chiếm tỉ lệ cao nhất 26,38% và điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 14,37 ± 5,57. Sau 12 tháng từ thời điểm phẫu thuật tỉ lệ rối loạn cương dương là 85,7%; tỉ lệ rối loạn cương dương mức độ nặng là 7,1%; điểm trung bình thang điểm IIEF-5 là 16,02 ± 5,09. Loại phẫu thuật, hóa xạ trị trước phẫu thuật và độ tuổi là những yếu tố liên quan đến rối loạn cương dương sau mổ với P lần lượt là 0,01; 0,02 và 0,02.</p>Đoàn Trọng TúLương Công Chánh Nguyễn Văn CươngKhổng Văn Quang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205818319110.52852/tcncyh.v205i8.5138Kết quả bước đầu hoá trị kết hợp pembrolizumab bước một ung thư thực quản biểu mô vảy giai đoạn IV
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5143
<p class="p1">Pembrolizumab là một thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch đã được ứng dụng rộng rãi và giúp cải thiệu hiệu quả điều trị trong nhiều bệnh ung thư, trong đó có ung thư thực quản. Nghiên cứu chùm ca bệnh theo dõi dọc đã được thực hiện trên 81 bệnh nhân nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của pembrolizumab kết hợp hóa chất trong điều trị bước một ung thư thực quản tiến triển tại Bệnh viện K trong giai đoạn từ 01/2024 đến 06/2025. Kết quả nghiên cứu ghi nhận tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 59,8 ± 7,5 tuổi, trong đó bệnh nhân dưới 65 tuổi chiếm 67,9%. Trong số 45 bệnh nhân được xét nghiệm PD-L1, tỷ lệ CPS < 1 là 46,7%, CPS từ 1 đến dưới 10 là 15,6% và CPS ≥ 10 là 37,7%. Sau 3 chu kỳ điều trị, tỷ lệ đáp ứng một phần tại khối u nguyên phát, hạch và các ổ di căn lần lượt đạt 60,5%; 64,2% và 61,7%. Đồng thời, các triệu chứng lâm sàng được cải thiện rõ rệt, bao gồm giảm đau, cải thiện tình trạng nuốt nghẹn và tăng cân. Độc tính huyết học là tác dụng không mong muốn thường gặp nhất, chủ yếu gồm thiếu máu và hạ bạch cầu trung tính; tuy nhiên, tỷ lệ độc tính độ ≥ 3 ghi nhận ở mức thấp. Các biến cố bất lợi liên quan miễn dịch ít gặp hơn, chủ yếu là viêm gan và viêm phổi kẽ, đa số ở mức độ nhẹ đến trung bình và có thể kiểm soát được. Kết quả nghiên cứu cho thấy pembrolizumab kết hợp hóa trị bước một mang lại hiệu quả bước đầu khả quan cùng hồ sơ an toàn chấp nhận được ở bệnh nhân ung thư thực quản biểu mô vảy giai đoạn IV trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam.</p>Nguyễn Thu PhươngTrần Văn ThuấnNguyễn Bá Văn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205819219810.52852/tcncyh.v205i8.5143Kết quả trong 6 tháng sau thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng ở người bệnh xơ gan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5160
<p class="p1">Nghiên cứu tiến cứu mô tả kèm theo dõi dọc nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả theo dõi trong 6 tháng của 179 người bệnh xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản được thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng tại Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (1/2024 - 8/2025). Tuổi trung bình của người bệnh là 61,21 ± 9,93. Nam giới chiếm đa số (88,3%). Phần lớn người bệnh có mức độ xơ gan Child Pugh A (52%); giãn tĩnh mạch thực quản độ III (98,3%). Giãn toàn bộ thực quản chiếm 57%, búi giãn có kích thước ≥ 5 mm; 91,1% và có dấu đỏ 92,2%. Đau ngực nhẹ và vừa sau thắt chiếm 20,1%. Sau 6 tháng theo dõi, người bệnh có xuất huyết tiêu hoá do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản là 2,8%; 40,8% người bệnh phải thắt lại tĩnh mạch thực quản ít nhất 1 lần. Việc sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc giúp giảm tỷ lệ phải thắt lại xuống còn 0,54 lần so với nhóm không dùng thuốc (95% CI không chứa 1). Thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng là phương pháp an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp. Tỷ lệ tái phát liên quan chặt chẽ đến mức độ tuân thủ điều trị thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc của người bệnh.</p>Bùi Ngọc HảiPhan Quốc HưngLê Quang HưngPhạm Huy LamĐặng Đình ThắngLê Thu LoanNguyễn Phạm Tuấn ThànhLê Tuấn AnhĐào Việt Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205819920610.52852/tcncyh.v205i8.5160Đánh giá nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp bằng thang điểm SCORE2
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5192
<p class="p1">Viêm cột sống dính khớp là một bệnh lý viêm khớp mạn tính thuộc nhóm bệnh viêm khớp cột sống thể trục. Bệnh ảnh hưởng lên khớp, cột sống và các cơ quan ngoài khớp. Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có nguy cơ tim mạch tăng do sự kết hợp giữa viêm hệ thống và các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống. Đánh giá nguy cơ tim mạch của người bệnh viêm cột sống dính khớp giúp điều chỉnh yếu tố nguy cơ, cải thiện tiên lượng bệnh. Nghiên cứu được thực hiện trên 69 bệnh nhân viêm cột sống dính khớp tại Trung tâm Cơ Xương Khớp của Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2024 đến tháng 7/2025. Có 44,9% bệnh nhân có nguy cơ tim mạch thấp-trung bình, nguy cơ tim mạch cao là 40,6% và nguy cơ tim mạch rất cao là 14,5%. Nguy cơ tim mạch 10 năm ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có liên quan đến tuổi, mức độ hoạt động bệnh, thời gian bị bệnh, giới và nồng độ CRP-hs. Đánh giá nguy cơ tim mạch cần được thực hiện thường quy ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp.</p>Nguyễn Văn HùngPhạm Khánh MinhTạ Thị Hương Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205820721310.52852/tcncyh.v205i8.5192Một số yếu tố nguy cơ của thai chậm tăng trưởng trong tử cung
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5224
<p class="p1">Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố nguy cơ của thai chậm tăng trưởng trong tử cung (IUGR). Nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện trên 95 thai phụ IUGR và 190 thai phụ nhóm chứng. Kết quả ghi nhận nhóm IUGR có tỷ lệ sống ở thành thị, tiền sử IUGR, thể trạng gầy, con so, tăng cân thai kỳ dưới 12 kg, thiếu máu và thiểu ối cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (p < 0,05). Phân tích hồi quy cho thấy sống tại thành thị (OR = 5,283; KTC 95%: 1,568 – 17,597; p = 0,007), tiền sử IUGR (OR = 62,735; KTC 95%: 3,665 – 1073,80; p = 0,004) và tăng cân trong thai kỳ dưới 12 kg (OR = 23,941; KTC 95%: 7,657 – 74,854; p < 0,001) có liên quan đến tăng nguy cơ mắc IUGR. Ngược lại, bề cao tử cung (OR = 0,504; p < 0,001) và vòng bụng tăng mỗi 1 cm (OR = 0,635; KTC 95%: 0,537 – 0,750; p < 0,001) làm giảm nguy cơ mắc biến chứng này. Tóm lại, sống tại thành thị, tiền sử IUGR và tăng cân thai kỳ dưới 12kg là các yếu tố làm tăng nguy cơ IUGR, trong khi bề cao tử cung và vòng bụng tăng có liên quan đến giảm nguy cơ mắc IUGR.</p>Trương Công ChuyênHồ Thị Thu HằngNgũ Quốc Vĩ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205821422210.52852/tcncyh.v205i8.5224Đánh giá mức độ biến dạng đường hô hấp trên ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm: Một phân loại cải biên dựa trên dấu hiệu xâm phạm đường giữa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5229
<p class="p1">Đánh giá mức độ biến dạng đường hô hấp trên là một trong những bước quan trọng trong tiên lượng khó đặt nội khí quản ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt. Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ biến dạng đường hô hấp trên theo phân loại cải biên ba mức độ dựa trên dấu hiệu xâm phạm đường giữa trên hình ảnh cắt lớp vi tính ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có phân tích trên 102 người bệnh có độ há miệng tối đa nhỏ hơn 20 mm. Mức độ biến dạng được chia thành 3 mức: không biến dạng; biến dạng nhưng chưa xâm phạm đường giữa; và biến dạng có xâm phạm đường giữa. Số liệu được phân tích bằng tương quan Spearman và hồi quy logistic thứ bậc. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh có biến dạng đường hô hấp trên là 74,51%, trong đó có 46,08% biến dạng xâm phạm đường giữa; mức độ biến dạng không liên quan với số vùng giải phẫu có áp xe, nhưng liên quan chặt chẽ với độ há miệng tối đa (β = -0,222; p < 0,001). Kết luận: Phân loại cải biên ba mức độ biến dạng đường hô hấp trên là công cụ đơn giản, có thể có tiềm năng sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng đường hô hấp trên ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt.</p>Nguyễn Ngọc ThạchNguyễn Quang BìnhVõ Văn HiểnNguyễn Đăng ThứTrần Hoài NamPhạm Quốc KhánhNguyễn Văn Luân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205822323210.52852/tcncyh.v205i8.5229Giá trị của một số chỉ số huyết học mở rộng trong tiên lượng mức độ nặng của viêm tuỵ cấp không do nguyên nhân cơ học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5240
<p class="p1">Tiên lượng sớm mức độ nặng của viêm tụy cấp (VTC) đóng vai trò quan trọng trong định hướng điều trị. Nghiên cứu thuần tập hồi cứu trên 108 bệnh nhân (BN) VTC không do nguyên nhân cơ học tại thời điểm nhập viện. Giá trị tiên lượng mức độ nặng của các chỉ số huyết học mở rộng (Neut, NLR, PLR, HFLC%, MicroR, IG%…) được đánh giá qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC) và chỉ số Youden. NLR và MicroR có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm VTC nặng (n = 20) và nhẹ (n = 88) với p < 0,05. Phân tích ROC cho thấy NLR có giá trị tiên lượng mức độ nặng tốt nhất với AUC = 0,709 (95% CI: 0,587 - 0,831; p = 0,004). Tại điểm cắt > 5,66, NLR dự báo diễn tiến nặng với độ nhạy 70,0% và độ đặc hiệu 61,4%. NLR và Neut đều có giá trị tiên lượng âm tính (NPV) cao, lần lượt là 90% và 93,2%. NLR và Neut hỗ trợ đắc lực cho bác sĩ lâm sàng trong phân tầng nguy cơ và tối ưu hoá xử trí BN VTC.</p>Nguyễn Chí ThànhNguyễn Quang TùngĐường Thị Thúy HườngDương Thu PhươngTống Thị Hương Lan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205823324010.52852/tcncyh.v205i8.5240Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ của phổ bệnh viêm tủy thị thần kinh và bệnh lý liên quan tới kháng thể kháng MOG
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5267
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 42 trường hợp phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD) dương tính với AQP4-IgG và 8 trường hợp bệnh lý liên quan đến kháng thể MOG (MOGAD) dương tính với MOG-IgG tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhằm so sánh đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giữa hai nhóm. NMOSD có tỷ lệ nữ cao hơn (95,2% so với 62,5%) và tuổi khởi phát lớn hơn (44,9 so với 27,9 tuổi). Điểm EDSS (The Expanded Disability Status Scale – Thang điểm đánh giá mức độ tàn tật mở rộng) trung bình cao hơn ở nhóm NMOSD (3,6 so với 2,8). Viêm thần kinh thị hai mắt đồng thời gặp nhiều hơn ở MOGAD (50% so với 7,1%), trong khi hội chứng sàn não thất IV chỉ gặp ở NMOSD. Trên MRI, NMOSD có tỷ lệ tổn thương tủy sống lan rộng (Longitudinally Extensive Transverse Myelitis - LETM) cao hơn (58,5% so với 12,5%), kèm “bright spotty lesion” (ổ tăng tín hiệu dạng đốm sáng), tổn thương chất trắng quanh não thất và thân não. Ngược lại, MOGAD có xu hướng ưu thế tổn thương đoạn trước củathần kinh thị và bắt thuốc quanh bao (25% so với 2,4%). NMOSD và MOGAD có những khác biệt về đặc điểm lâm sàng và MRI, giúp định hướng chẩn đoán phân biệt trong thực hành.</p>Lê Văn ThủyTrần Anh TuấnLê Quang Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205824125110.52852/tcncyh.v205i8.5267Kết quả điều trị ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên bằng phẫu thuật nội soi qua đường tiền đình miệng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5281
<p class="p1">Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng (PTNS TG TĐM) là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu trong điều trị ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, dữ liệu về độ an toàn và hiệu quả của phương pháp này ở ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 01/2020 đến 07/2024. 30 bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên được phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch cổ trung tâm hai bên; chỉ định iod phóng xạ theo ATA 2015. 96,7% bệnh nhân là nữ, tuổi trung bình 33,1 ± 8,6 (16 - 51). Thời gian mổ trung bình 103,8 ± 31,1 (65 - 190) phút, lượng máu mất trung bình 16,3 ± 8,7 (5 - 40) mL. Biến chứng tạm thời gồm suy cận giáp 10,0% và tổn thương thần kinh thanh quản quặt ngược 13,3%; không ghi nhận biến chứng vĩnh viễn. Di căn hạch cổ trung tâm tiềm ẩn gặp ở 46,7%. Sau 3 tháng, siêu âm cổ không phát hiện tồn dư; 4 trường hợp bất thường Tg/anti-Tg trở về bình thường sau 6 – 9 tháng. Phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua đường tiền đình miệng là phương pháp an toàn, hiệu quả và thẩm mỹ cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể nhú hai bên chọn lọc.</p>Ngô Minh TríNguyễn Xuân HậuNguyễn Xuân HiềnNguyễn Diệu LinhLê Văn Quảng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205825226010.52852/tcncyh.v205i8.5281Đặc điểm và kết quả khởi phát chuyển dạ bằng dinoprostone ở thai phụ có chỉ định chấm dứt thai kỳ và một số yếu tố liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5294
<p class="p1">Nghiên cứu quan sát, mô tả trước-sau được thực hiện trên 178 thai phụ mang thai từ 37 tuần trở lên có chỉ định chấm dứt thai kỳ bằng dinoprostone tại Bệnh viện Phụ sản Tiền Giang từ 07/2025 đến 01/2026, nhằm mô tả đặc điểm thai phụ, đánh giá kết quả khởi phát chuyển dạ và phân tích một số yếu tố liên quan đến thất bại khởi phát chuyển dạ. Tuổi của thai phụ là 28,4 ± 5,9 tuổi, con so chiếm 56,7%, tổng điểm Bishop trước khởi phát chủ yếu là 1 điểm (54,5%) và 2 điểm (25,3%). Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công bằng dinoprostone là 81,5%, cơn co tử cung cường tính chiếm 1,7% và suy thai chiếm 11,8%. Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, tổng điểm Bishop < 3 và thai phụ con so là hai yếu tố liên quan độc lập với thất bại khởi phát chuyển dạ. Kết quả cho thấy dinoprostone đạt tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công khá cao và gợi ý vai trò của điểm Bishop ban đầu cùng tiền sử sinh trong tiên lượng đáp ứng với dinoprostone.</p>Phan Kim PhượngHồ Thị Thu HằngNgũ Quốc Vĩ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205826127010.52852/tcncyh.v205i8.5294Kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng, làm miệng nối ngoài cơ thể điều trị ung thư đại tràng phải tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5302
<p class="p1">Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng điều trị ung thư đại tràng phải. Nghiên cứu mô tả trên 56 bệnh nhân ung thư đại tràng phải được phẫu thuật nội soi tại khoa Ngoại tiêu hoá 2 Bệnh viện K từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2025. Thời gian phẫu thuật trung bình là 130,4 ± 24,6 phút (110 - 165 phút), không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở. 89,3% các trường hợp mạc treo toàn vẹn với số hạch vét được trung bình là 20,5 ± 9,1 hạch (10 - 28 hạch). Tỷ lệ biến chứng chung là 5,4%, bao gồm 1 trường hợp viêm phổi, 1 trường hợp chảy máu và 1 trường hợp áp xe tồn dư sau mổ, không có trường hợp nào rò miệng nối, mổ lại hoặc tử vong liên quan phẫu thuật. Thời gian nằm viện trung bình 7,9 ± 1,2 ngày (7 - 13 ngày). Phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng trong ung thư đại tràng phải cho kết quả sớm khả quan với tỷ lệ biến chứng thấp, bệnh nhân hồi phục sớm sau mổ.</p>Đoàn Trọng TúTrần Tuấn ThànhNguyễn Văn CươngPhạm Thế Dương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205827127910.52852/tcncyh.v205i8.5302Tỷ lệ giảm dự trữ buồng trứng và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ hiếm muộn tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5316
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 189 phụ nữ đến khám tại Khoa Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ và được chẩn đoán hiếm muộn từ tháng 06/2024 đến tháng 01/2026 nhằm xác định tỷ lệ giảm dự trữ buồng trứng và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ hiếm muộn. Kết quả ghi nhận tỷ lệ giảm dự trữ buồng trứng là 31,22%. Nhóm có giảm dự trữ buồng trứng có tuổi trung vị cao hơn, tỷ lệ ≥ 35 tuổi cao hơn và tiền sử phẫu thuật buồng trứng nhiều hơn so với nhóm không giảm dự trữ buồng trứng. Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, tuổi ≥ 35, tiền sử phẫu thuật buồng trứng có liên quan với giảm dự trữ buồng trứng. Kết quả gợi ý cần cân nhắc tầm soát AMH và AFC sớm ở phụ nữ hiếm muộn ≥ 35 tuổi hoặc có tiền sử phẫu thuật buồng trứng.</p>Nguyễn Phùng Xuân TrúcNguyễn Thị Thanh NgânCao Ngọc ThànhTrần Khánh Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205828028810.52852/tcncyh.v205i8.5316Giá trị của soi cổ tử cung và một số yếu tố liên quan trong phát hiện tổn thương CIN2+ tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5321
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang từ 486 bệnh nhân được soi cổ tử cung và sinh thiết tại Khoa Phụ Sản- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhằm đánh giá vai trò của soi cổ tử cung trong phát hiện tổn thương CIN2+ và các yếu tố liên quan. Kết quả: Đa số phụ nữ được tiến hành soi cổ tử cung sinh thiết nằm trong độ tuổi từ 31 - 50 tuổi, từng sinh đẻ (tối thiểu 1 lần) và tiền sử nạo/hút/sảy thai thấp (dưới 3 lần). Triệu chứng lâm sàng hầu hết mờ nhạt và không đặc hiệu. Xét nghiệm sàng lọc với tế bào học hay HPV-DNA cho thấy hạn chế về độ nhạy (tế bào học: 65,9%) và đặc hiệu (HPV-DNA: 3%) trong phát hiện CIN2+. Các yếu tố có vai trò dự báo tổn thương tiền ung thư và ung thư cổ tử cung bao gồm: hình ảnh học khi soi cổ tử cung, HPV type 16/18, bất thường tế bào học và tuổi ≥ 45; trong khi tiền sử sản khoa, 12 type HPV nguy cơ khác và tình trạng đa nhiễm không ghi nhận mối liên quan đến tổn thương.</p>Nguyễn Thành KhiêmĐỗ Văn HảoĐỗ Thanh Hường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205828929710.52852/tcncyh.v205i8.5321Giá trị của tỷ lệ thể tích lách trên tổng thể tích gan-lách [SV/(LV+SV)] trên cắt lớp vi tính trong đánh giá xơ gan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5325
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan và giá trị thăm dò của tỷ lệ thể tích lách trên tổng thể tích gan-lách [SV/(LV+SV)] trên cắt lớp vi tính (CLVT) trong đánh giá xơ gan theo Child-Pugh. Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu có nhóm bệnh gồm 123 bệnh nhân xơ gan có dữ liệu Child-Pugh và nhóm chứng gồm 50 đối tượng không xơ gan. Thể tích gan, lách được đo trên thì tĩnh mạch cửa; tỷ lệ SV/(LV+SV) được tính theo phần trăm. Nhóm xơ gan có thể tích gan thấp hơn, thể tích lách và tỷ lệ SV/(LV+SV) cao hơn nhóm chứng (p ≤ 0,005). Trong nhóm xơ gan, thể tích gan có xu hướng giảm, còn thể tích lách và tỷ lệ SV/(LV+SV) tăng dần từ Child-Pugh A đến C (p < 0,001). Tỷ lệ SV/(LV+SV) tương quan thuận mức trung bình với Child-Pugh (Spearman rho = 0,554; p < 0,001). AUC (khoảng tin cậy 95%) khi phân biệt A-B, B-C và A-C lần lượt là 0,666 (0,550 - 0,782), 0,781 (0,679 - 0,883) và 0,869 (0,788 - 0,950). Tỷ lệ SV/(LV+SV) có thể cung cấp thông tin CLVT bổ trợ, nhưng các điểm cắt cần được kiểm định thêm.</p>Lê Xuân GiaoPhạm Hồng Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205829830510.52852/tcncyh.v205i8.5325Kết quả ban đầu của phẫu thuật đặt ống silicone lệ mũi qua một lệ quản điều trị tắc ống lệ mũi bẩm sinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5331
<p class="p1">Nghiên cứu can thiệp lâm sàng được thực hiện trên 20 mắt mắc tắc ống lệ mũi bẩm sinh tại Bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp đặt ống silicone lệ mũi qua một lệ quản bằng ống Masterka. Các bệnh nhi được theo dõi tại các thời điểm 1 ngày, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng sau phẫu thuật. Kết quả ghi nhận tỷ lệ thành công sau 3 tháng đạt 95%, chỉ có 1 trường hợp tuột ống nhưng lệ đạo vẫn lưu thông tốt và không tái phát tắc nghẽn. Thời gian phẫu thuật trung bình là 3,8 phút. Tất cả phụ huynh đều hài lòng với kết quả điều trị và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng trong quá trình theo dõi. Phương pháp sử dụng ống Masterka cho thấy hiệu quả cao, an toàn, thời gian thực hiện ngắn và có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong điều trị tắc ống lệ mũi bẩm sinh.</p>Nguyễn Thị Hồng HạnhTrần Quỳnh AnhĐoàn Kim Thành
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205830631210.52852/tcncyh.v205i8.5331Đặc điểm hình ảnh X-quang và cộng hưởng từ của ung thư vú thể biểu mô ống tại chỗ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5336
<p class="p1">Ung thư vú thể biểu mô ống tại chỗ (ductal carcinoma in situ – DCIS) là tổn thương ác tính không xâm nhập của tuyến vú, có biểu hiện hình ảnh đa dạng và việc phối hợp X-quang vú với cộng hưởng từ (CHT) có thể giúp đánh giá tổn thương toàn diện hơn. Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện trên 56 bệnh nhân được chẩn đoán DCIS bằng sinh thiết trước phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City giai đoạn 2021 – 2025. Tất cả bệnh nhân được chụp X-quang vú và CHT trước điều trị; các đặc điểm hình ảnh được đánh giá theo hệ thống phân loại và báo cáo hình ảnh tuyến vú (BI-RADS). Tổn thương được phát hiện trên X-quang vú ở 67,9% trường hợp, trong đó vôi hóa là biểu hiện thường gặp nhất, chiếm 65,8%. Trên CHT, tổn thương được phát hiện ở 98,2% trường hợp, chủ yếu dưới dạng tổn thương ngấm thuốc không tạo khối, chiếm 85,5%. Kích thước tổn thương trung bình trên CHT lớn hơn X-quang vú, tương ứng 38,6 ± 22,2 mm so với 26,2 ± 19,5 mm. CHT ghi nhận tổn thương với tỷ lệ cao trong nhóm nghiên cứu, trong khi X-quang vú vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhận diện các tổn thương vi vôi hóa.</p>Bùi Thị Phương ThảoPhạm Minh ThôngVũ Thị Hạnh HàNguyễn Thu Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205831332110.52852/tcncyh.v205i8.5336Kết quả phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn trong điều trị ung thư dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5345
<p class="p1">Nghiên cứu thực hiện trên 65 bệnh nhân ung thư dương vật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2017 đến 2025 nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 52,3 ± <span class="s1">11,5 (tuổi)</span> với đa số ở giai đoạn pT1 (58,5%). Thời gian phẫu thuật trung bình là 155,7 ± 55,0 (phút). Kỹ thuật nội soi nạo hạch bẹn đảm bảo tính triệt để ung thư học với số hạch nạo được trung bình là 8,4 hạch bên phải và 8,0 hạch bên trái,<span class="s3"> duy trì số lượng hạch nạo vét ở mức </span>tương đương với<span class="s4"> các báo cáo </span>phẫu thuật mở<span class="s4"> trong y văn</span>. Ưu điểm của phẫu thuật này là giảm thiểu biến chứng vạt da với tỉ lệ nhiễm trùng và hoại tử da là 0%, trong khi tỉ lệ tụ dịch là 10,8%. Kết quả theo dõi xa cho thấy tỉ lệ sống còn đặc hiệu do ung thư đạt 95,3% và sống còn toàn bộ đạt 93,9%. Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn là kỹ thuật an toàn, hiệu quả, giúp giảm thiểu biến chứng trong khi vẫn đảm bảo kết quả ung thư học.</p>Nguyễn Hữu ThảoNguyễn Tiến DũngLại Hoàng LâmNguyễn QuangVũ Hồng Tuân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205832232910.52852/tcncyh.v205i8.5345Kết quả ban đầu điều trị bước hai ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn phác đồ docetaxel - ramucirumab
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5346
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 64 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn IV hoặc tái phát di căn được điều trị bước hai bằng phác đồ Docetaxel–Ramucirumab, nhằm đánh giá hiệu quả điều trị và tác dụng không mong muốn trong thực tiễn lâm sàng. Các biến số thu thập gồm: tuổi, giới, tình trạng hút thuốc, mô bệnh học, thể trạng, điều trị đích, phác đồ và đáp ứng bước một, thời gian giữa bước một và bước hai, liều docetaxel. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 29,7%; tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 73,4%; thời gian sống thêm bệnh không tiến triển trung vị (PFS) là 4,9 tháng (95%CI: 3,3 – 6,5). Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy nhóm tuổi ≥ 65 có nguy cơ tiến triển bệnh thấp hơn độc lập so với nhóm < 65 tuổi (aOR = 0,19; p = 0,047), trong khi đáp ứng kém ở điều trị bước một làm tăng nguy cơ tiến triển bệnh độc lập (aOR = 4,48; p = 0,030). Độc tính thường gặp là mệt mỏi (46,9%), hạ bạch cầu (21,9%) và tăng men gan (35,9%); tăng huyết áp và xuất huyết gặp tỷ lệ thấp và chủ yếu ở mức độ nhẹ. Phác đồ Docetaxel–Ramucirumab có hiệu quả điều trị tốt và độc tính kiểm soát được trong điều trị bước hai UTPKTBN giai đoạn IV hoặc tái phát di căn.</p>Hoàng Huy HùngNguyễn Thị Thái HòaNguyễn Thị Thu Hường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205833034010.52852/tcncyh.v205i8.5346Chẩn đoán trước sinh thai tăng khoảng sáng sau gáy đơn độc bằng kỹ thuật SNP array
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5355
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 400 thai phụ có khoảng sáng sau gáy <span class="s1">≥ </span>2,5 mm đơn độc tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/2021 đến 01/2026 nhằm đánh giá giá trị của kỹ thuật SNP array trong chẩn đoán trước sinh. Kết quả cho thấy tỷ lệ bất thường nhiễm sắc thể là 14%, trong đó lệch bội chiếm 6,75% với Trisomy 21 phổ biến nhất (5%). Kỹ thuật SNP array phát hiện thêm 6,75% trường hợp mất/lặp đoạn nhỏ (CNV), bao gồm 5,25% CNV gây bệnh/có khả năng gây bệnh và 1,5% CNV chưa rõ ý nghĩa. So với karyotyping, SNP array giúp tăng tỷ lệ phát hiện bất thường di truyền thêm 5,5% (13,5% so với 8%) và xác định thêm 4,9% biến thể bất thường ở những trường hợp Karyotype bình thường. Tỷ lệ bất thường phát hiện bằng SNP array theo các nhóm khoảng sáng sau gáy 2,5 - 3,4 mm, 3,5 - 4,4 mm và ≥ 4,5 mm lần lượt là 12,1%, 14,7% và 14,1% (p = 0,789). SNP array làm tăng đáng kể hiệu quả chẩn đoán bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể so với karyotyping ở thai tăng khoảng sáng sau gáy đơn độc.</p>Phan Thị Thu GiangĐoàn Thị Kim PhượngTrần Danh CườngLê Phương ThảoBùi Đức ThắngHoàng Thị Ngọc Lan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205834134810.52852/tcncyh.v205i8.5355Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán bệnh glôcôm và theo dõi ngắn hạn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5361
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá độ chính xác chẩn đoán có bắt cặp nhằm xác định giá trị của Cybersight AI trong phát hiện glôcôm nguyên phát tại thời điểm ban đầu và sau 3 tháng. Phân tích được thực hiện trên 78 mắt của 42 người bệnh tại Trung tâm Mắt, Bệnh viện Trung ương Huế, gồm 42 mắt glôcôm nguyên phát và 36 mắt không glôcôm, có đủ kết quả trí tuệ nhân tạo ở cả hai thời điểm. Chẩn đoán của bác sĩ nhãn khoa dựa trên khám lâm sàng, soi góc, OCT lớp sợi thần kinh võng mạc và thị trường được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu. Tại thời điểm ban đầu, độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác và AUC lần lượt là 61,9%, 86,1%, 73,1% và 0,762. Sau 3 tháng, các giá trị tương ứng là 61,9%, 94,4%, 76,9% và 0,784. Chênh lệch AUC theo cặp không có ý nghĩa thống kê (p = 0,356), tương tự độ chính xác tổng thể (p = 0,371). Cybersight AI có khả năng phân biệt mức trung bình, phù hợp hơn với vai trò hỗ trợ phân luồng và quyết định lâm sàng hơn là xét nghiệm chẩn đoán độc lập.</p>Phan Nhã UyênĐoàn Kim ThànhPhạm Trọng Văn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205834935910.52852/tcncyh.v205i8.5361Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả bước đầu của phương pháp phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi một lỗ dưới mũi ức điều trị nhược cơ tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2023 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5371
<p class="p1">Nghiên cứu trên 51 bệnh nhân nhược cơ được phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi một lỗ qua đường dưới mũi ức tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực, Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2023 – 2025 nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả bước đầu của phương pháp. Tuổi trung bình bệnh nhân là 46,45 ± 15,21; nữ giới chiếm 70,59%. Triệu chứng thường gặp nhất là sụp mi (78,43%), tiếp theo là yếu cơ, mệt mỏi (33,33%) và nuốt khó (23,53%). Tất cả bệnh nhân được điều trị nội khoa ổn định trước mổ, chủ yếu ở giai đoạn I–II theo Osserman. Hình ảnh học cho thấy đa số tổn thương khối u có ranh giới rõ, ngấm thuốc và đồng nhất. Giải phẫu bệnh ghi nhận u tuyến ức chiếm 72,55%, quá sản tuyến ức chiếm 27,45%. Thời gian phẫu thuật trung bình 107,15 ± 22,78 phút, không có trường hợp chuyển mổ mở. Thời gian nằm viện sau mổ trung bình 4,90 ± 3,98 ngày, tỷ lệ biến chứng thấp. Phương pháp cắt tuyến ức nội soi một lỗ dưới mũi ức cho thấy tính an toàn, ít xâm lấn và khả thi trong điều trị nhược cơ.</p>Mạc Thế TrườngNgô Gia KhánhPhạm Hữu Lư
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205836036810.52852/tcncyh.v205i8.5371Giá trị cộng hưởng từ trong phân biệt ung thư biểu mô thanh dịch và không thanh dịch của buồng trứng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5390
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 80 bệnh nhân mắc ung thư biểu mô (UTBM) buồng trứng nguyên phát tại Bệnh viện K (01/2022 – 12/2025), nhằm xác định các đặc điểm cộng hưởng từ (CHT) giúp phân biệt UTBM thanh dịch với các thể UTBM khác. Kết quả cho thấy các đặc điểm hình ảnh CHT gợi ý UTBM thanh dịch gồm: tổn thương hai bên, kích thước u nhỏ nhưng thành phần đặc chiếm ưu thế, di căn phúc mạc và dịch ổ bụng. Ngưỡng trị số ADC = 0,860 × 10<sup>-3</sup> mm<sup>2</sup>/s (AUC = 0,842; p < 0,001) cho phép phân biệt UTBM thanh dịch và nhóm còn lại với độ nhạy 87,2% và độ đặc hiệu 67,7%. Phân tích hồi quy đa biến xác định hai yếu tố dự báo độc lập là trị số ADC ≤ 0,860 × 10<sup>-3</sup> mm<sup>2</sup>/s (OR = 11,6; p < 0,001), kích thước khối u ≤ 122 mm (OR = 3,7; p = 0,038). Như vậy, CHT là phương pháp có thể cho phép chẩn đoán phân biệt UTBM thanh dịch với nhóm UTBM buồng trứng còn lại thông qua phân tích hình thái, định lượng giá trị ADC.</p>Nguyễn Phú QuốcĐoàn Tiến LưuNguyễn Văn Thi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205836937910.52852/tcncyh.v205i8.5390Kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô tuyến đại tràng phải
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5391
<p class="p1">Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kết quả sớm của phẫu thuật nội soi cắt toàn bộ mạc treo đại tràng phải điều trị ung thư biểu mô đại tràng phải tại Bệnh viện K, từ 01/2020 đến 12/2025. Nghiên cứu ghi nhận được 53 trường hợp đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Kết quả: độ tuổi trung bình 59,43 ± 10,96, nam chiếm 45,3%, triệu chứng hay gặp nhất là đau bụng bên phải với 56,6%. Vị trí u chủ yếu ở đại tràng góc gan với 39,6%, dạng khối sùi 71,7%, 100% thực hiện phẫu thuật nội soi thành công với thời gian mổ trung bình 118,02 ± 20,87 phút, miệng nối được thực hiện ngoài cơ thể (94,3%), nối tay (86,8%), chảy máu trong mổ là 7,6%, biến chứng sau mổ 5,7% (nhiễm trùng vết mổ và hoại tử ruột do tắc mạch mạc treo), thời gian cho ăn đường miệng 2,54 ± 0,8 (ngày), thời gian hậu phẫu 7,44 ± 0,89 (ngày), số hạch nạo vét trung bình 26,98 ± 8,6 với tỷ lệ di căn hạch 47%.</p>Kim Văn VụHoàng Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205838038910.52852/tcncyh.v205i8.5391Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh chấn thương sọ não tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5392
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 70 người bệnh chấn thương sọ não có chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng sau phẫu thuật của người bệnh chấn thương sọ não. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ người bệnh thiếu năng lượng trường diễn theo BMI (Body Mass Index) sau phẫu thuật ngày thứ nhất và ngày thứ bảy lần lượt là 7,1% và 12,9%. Đánh giá bằng công cụ GLIM- Global Leadership Initiative on Malnutrition, tỷ lệ người bệnh suy dinh dưỡng (SDD) sau phẫu thuật ngày thứ nhất và ngày thứ bảy lần lượt là 7,1% và 17,1%. Sau phẫu thuật 7 ngày, cân nặng trung bình giảm từ 58,8 ± 7,8 kg xuống 57,7 ± 7,7 kg. Kết luận: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở người bệnh chấn thương sọ não tăng trong tuần đầu sau phẫu thuật. Việc đánh giá và theo dõi tình trạng dinh dưỡng định kỳ trong giai đoạn hậu phẫu là cần thiết nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các trường hợp suy dinh dưỡng.</p>Nguyễn Trần Thị LinhNguyễn Đăng VữngTrịnh Thị Thanh BìnhPhạm Thị Lan PhươngNgô Thị LinhChu Thị TrangĐỗ Tất Thành
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205839039810.52852/tcncyh.v205i8.5392Căn nguyên vi khuẩn và tình trạng kháng kháng sinh ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5404
<p class="p1">Mô tả đặc điểm vi khuẩn gây bệnh và tình trạng đề kháng kháng sinh ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện. Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 151 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị tại Khoa Nội Hô hấp, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 10/2024 đến tháng 12/2025. Tỷ lệ nuôi cấy vi khuẩn dương tính đạt 24,5%. Vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế, chủ yếu gồm <em>Acinetobacter baumannii</em> (37,8%),<em> Klebsiella pneumoniae</em> (32,44%) và <em>Pseudomonas aeruginosa</em> (21,62%). Các chủng vi khuẩn phân lập ghi nhận tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao, đặc biệt ở nhóm beta-lactam, quinolon và carbapenem. <em>A. baumannii</em> có mức độ đề kháng cao nhất, trong khi <em>K. pneumoniae</em> và <em>P. aeruginosa</em> vẫn còn nhạy cảm với một số kháng sinh như amikacin, ceftazidime/avibactam, ceftazidime và cefepime. Vi khuẩn Gram âm đa kháng là căn nguyên chủ yếu trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện. Tình trạng đề kháng kháng sinh cao đặt ra thách thức lớn trong lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm và nhấn mạnh vai trò của giám sát vi sinh tại chỗ trong tối ưu hóa điều trị.</p>Nguyễn Hải CôngNguyễn Minh ThếNguyễn Minh Kha
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205839940610.52852/tcncyh.v205i8.5404Đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo thang điểm PREVENT - ASCVD ở bệnh nhân gút có đồng mắc đái tháo đường
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5406
<p class="p1">Việc đánh giá nguy cơ tim mạch do xơ vữa động mạch theo thang điểm PREVENT-ASCVD ở nhóm bệnh nhân gút, đặc biệt khi đồng mắc đái tháo đường, có ý nghĩa quan trọng để tối ưu hóa chiến lược điều trị. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu quan sát mô tả cắt ngang trên 68 bệnh nhân được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn EULAR/ACR 2015 và chẩn đoán đái tháo đường theo tiêu chuẩn ADA 2023, điều trị tại Trung tâm Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2025 đến tháng 03/2026. Khi khảo sát nguy cơ tim mạch trong 10 năm theo thang điểm PREVENT-ASCVD, thấy 72,1% bệnh nhân có nguy cơ tim mạch trung bình và cao. Các yếu tố liên quan đến tăng nguy cơ tim mạch bao gồm: tuổi cao, tăng huyết áp, giảm mức lọc cầu thận (eGFR), tăng HbA1c, thời gian mắc đái tháo đường kéo dài và số cơn gút cấp tính trong năm.</p>Dương Thị HiềnNguyễn Thị Phương Thủy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205840741510.52852/tcncyh.v205i8.5406Đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ và các yếu tố liên quan đến rò hậu môn phức tạp theo phân loại Garg
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5408
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 240 người bệnh rò hậu môn (RHM) được chụp cộng hưởng từ (CHT) trước phẫu thuật tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (06/2024 – 03/2026) nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh và xác định các yếu tố liên quan đến RHM phức tạp theo phân loại Garg. RHM được chia thành hai nhóm: đơn giản (Garg I–II) và phức tạp (Garg III–V). Các đặc điểm hình ảnh gồm lỗ trong, nhánh rò phụ, áp xe, rò móng ngựa và số lượng lỗ ngoài được phân tích bằng hồi quy logistic đơn biến và đa biến. Kết quả cho thấy tuổi trung bình là 40,10 ± 13,78, nam giới chiếm 89,2%, tỷ lệ rò phức tạp là 47,1%. CHT xác định lỗ trong với tỷ lệ trên 96% ở cả hai nhóm. Nhánh rò phụ, áp xe, rò móng ngựa và ≥ 2 lỗ ngoài gặp nhiều hơn ở nhóm rò phức tạp (p < 0,05). Phân tích đa biến xác định nhánh rò phụ (OR hiệu chỉnh = 5,03; p < 0,001) và áp xe (OR hiệu chỉnh = 3,16; p < 0,001) là các yếu tố liên quan độc lập với RHM phức tạp. CHT có giá trị cao trong phân loại và định hướng điều trị RHM.</p>Trần Thị Nhật AnhNguyễn Thị MếnNguyễn Văn TuấnTrần Thu HuyềnNguyễn Duy Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205841642210.52852/tcncyh.v205i8.5408Tổng quan về kết quả phẫu thuật cắt amidan trong bao ở trẻ em
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5411
<p class="p1">Phẫu thuật cắt amidan trong bao ngày càng được quan tâm như một lựa chọn thay thế cho cắt amidan toàn phần ở trẻ em, nhằm giảm đau và biến chứng hậu phẫu. Nghiên cứu thực hiện tổng quan luận điểm theo hướng dẫn PRISMA-ScR trên PubMed, Cochrane Library và Google Scholar nhằm tổng hợp các bằng chứng về kết quả lâm sàng của kỹ thuật này ở bệnh nhi 0 - 18 tuổi. Phân tích 16 nghiên cứu cho thấy cắt amidan trong bao có xu hướng giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian hồi phục và giảm tỷ lệ chảy máu thứ phát so với cắt ngoài bao. Một số nghiên cứu ghi nhận hiệu quả cải thiện OSA/SDB không khác biệt đáng kể so với cắt ngoài bao, với tỷ lệ phẫu thuật lại thấp. Nguy cơ phẫu thuật lại cao hơn ở trẻ nhỏ và nhóm có bệnh lý nền phức tạp. Phẫu thuật cắt amidan trong bao có ưu thế về hồi phục hậu phẫu và giảm biến chứng chảy máu ở nhóm bệnh nhi phù hợp.</p>Hoàng Văn CườngNguyễn Quang Trung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205842343210.52852/tcncyh.v205i8.5411Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất từ 2022 – 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5422
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị ung thư thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2025. Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca trên 22 người bệnh ung thư thanh quản (100% nam, tuổi trung bình 62,5 ± 8) được phẫu thuật cắt thanh quản bán phần hoặc toàn phần. Kết quả cho thấy 100% người bệnh có triệu chứng khàn tiếng, 100% tổn thương xuất phát từ thanh môn, 100% carcinoma tế bào gai biệt hóa cao. Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần chiếm 68,2%, cắt toàn phần chiếm 31,8%. Bờ cắt âm tính đạt 100%. Tỷ lệ biến chứng sau mổ là 31,8%. Tỷ lệ sống còn toàn bộ đạt 95,4%. Kết quả cho thấy phẫu thuật cắt thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất đạt hiệu quả, tương đương các trung tâm chuyên khoa trong và ngoài nước.</p>Trương Hoàng ViệtPhan Thị Ngọc LinhHoàng Văn PhướcTrần Minh TrườngNguyễn Lê Vĩnh Thuận
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205843343910.52852/tcncyh.v205i8.5422Mối liên quan giữa các phân nhóm của đột biến gen EGFR và di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5425
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá mối liên quan giữa các phân nhóm của đột biến gen <em>EGFR</em> đến tình trạng di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. Nghiên cứu hồi cứu 1015 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn xa vào thời điểm chẩn đoán và được xét nghiệm đột biến gen <em>EGFR</em> từ tháng 01/2015 đến tháng 01/2025. Xác định mối liên quan của các phân nhóm đột biến gen <em>EGFR</em> với di căn xương bằng phương trình hồi quy logistic. Tỉ lệ di căn xương là 45,8%. Tỉ lệ bệnh nhân mang đột biến gen <em>EGFR</em> có di căn xương là 46,7% cao hơn ở bệnh nhân không di căn xương (37,1%), p = 0,002. Đột biến xóa đoạn exon 19 và đột biến điểm L858R liên quan độc lập đến di căn xương với OR = 1,52, (CI 95%: 1,1 – 2,08), p = 0,01 và OR = 1,96 (CI 95%: 1,31 – 2,9), p = 0,001, theo lần lượt. Đột biến gen <em>EGFR</em> loại xóa đoạn exon 19 và đột biến điểm L858R là các yếu tố liên quan độc lập đến di căn xương ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ.</p>Phạm Văn LuậnNguyễn Minh HảiNguyễn Đình TiếnThi Thị DuyênBùi Thị ThanhTrần Văn ĐạiNguyễn Văn SơnĐào Duy TuyênLê Thị Hoài Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205844044810.52852/tcncyh.v205i8.5425Mối liên quan của thang điểm CRISTEN và công thức máu với mức độ nặng trong hội chứng Stevens – Johnson/hoại tử thượng bì nhiễm độc
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5436
<p class="p1">Hội chứng Stevens-Johnson (SJS) và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) là những phản ứng da - niêm mạc nặng với tỉ lệ tử vong cao. Thang điểm tiên lượng CRISTEN, đánh giá dựa trên 10 tiêu chí lâm sàng, và các chỉ số công thức máu có thể là giải pháp tối ưu chi phí trong việc theo dõi người bệnh. Nghiên cứu hồi cứu này được thực hiện dựa trên hồ sơ bệnh án 76 bệnh nhân SJS/TEN (32 SJS và 44 TEN) tại Bệnh viện Da liễu Trung ương và Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai trong 3 năm (2017 - 2019) nhằm khảo sát giá trị của thang điểm CRISTEN và công thức máu trong tiên lượng SJS/TEN. Kết quả cho thấy, nhóm TEN có số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính thấp hơn so với nhóm SJS (p = 0,003 và p = 0,019, tương ứng). Thang điểm SCORTEN và CRISTEN cho thấy khả năng dự đoán tình trạng nặng tốt (AUC = 0,857 và AUC = 0,815, tương ứng) và khả năng dự đoán thời gian nằm viện kéo dài khi kết hợp với chỉ số bạch cầu lympho và tiểu cầu (R<sup>2 </sup>= 0,199, p = 0,002 và R<sup>2 </sup>= 0,173, p = 0,006, tương ứng) trong phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Ứng dụng thang điểm SCORTEN, CRISTEN và kết quả công thức máu ngày đầu nhập viện có thể hỗ trợ đánh giá nguy cơ tình trạng nặng, thời gian nằm viện kéo dài trong SJS/TEN.</p>Bùi Văn DânNguyễn Hoàng PhươngNguyễn Minh HoàngNguyễn Mạnh HùngĐinh Anh DuyTrần Thị Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205844945610.52852/tcncyh.v205i8.5436Kết quả điều trị bước sau bằng Regorafenib ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến triển
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5447
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 61 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tiến triển có điều trị Regorafenib tại Bệnh viện K từ tháng 08/2024 đến tháng 04/2026. Tỷ lệ đáp ứng khách quan và kiểm soát bệnh trên toàn bộ quần thể lần lượt là 3,3% và 18,0%. Trung vị thời gian sống thêm không tiến triển và sống thêm toàn bộ tính từ lúc bắt đầu Regorafenib lần lượt là 3,0 và 6,4 tháng. Suy giảm chức năng gan (Child-Pugh B/C) và huyết khối tĩnh mạch cửa mức độ nặng (Vp3/Vp4) là yếu tố tiên lượng độc lập bất lợi đối với sống thêm toàn bộ. Tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là hội chứng bàn tay - bàn chân (21,3%) và đa số ở mức độ nhẹ. Với ung thư biểu mô tế bào gan sau thất bại với các phác đồ toàn thân trước đó, việc điều trị tiếp bằng Regorafenib ở nhóm bệnh nhân được chọn lọc còn chức năng gan bảo tồn đã cho thấy sự an toàn và cải thiện thời gian sống thêm trong thực tế lâm sàng tại Việt Nam.</p>Vũ Hồng ThăngNguyễn Xuân ĐạiChử Quốc HoànTrần Thanh TâmNguyễn Hoàng AnhPhạm Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205845746510.52852/tcncyh.v205i8.5447Kết quả điều trị cetuximab phối hợp hóa chất trong ung thư đại trực tràng di căn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5448
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả hồi cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị Cetuximab phối hợp hóa chất trên 102 bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn RAS wild-type tại Bệnh viện K (01/2018 – 04/2026). Tuổi trung vị là 60. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) và kiểm soát bệnh (DCR) lần lượt đạt 50,6% và 78,3%. Tỷ lệ chuyển đổi can thiệp triệt căn chung là 9,8%. Không có sự khác biệt về tỷ lệ chuyển đổi triệt căn (13,0% so với 12,5%, p = 1,0), trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS) giữa hai phác đồ nền mFOLFOX6/FOLFOX và FOLFIRI. Trung vị PFS chung là 8,48 tháng; trung vị OS chưa đạt, với tỷ lệ OS 12 tháng là 78,2%. Độc tính thường gặp là ban dạng mụn (44,1%), tăng men gan AST/ALT (40,2%), thiếu máu (37,3%) và độc tính từ độ 3 trở lên chiếm 28,4%, không ghi nhận tử vong do điều trị. Cetuximab phối hợp hóa chất đạt hiệu quả kiểm soát bệnh tích cực và an toàn. Việc lựa chọn phác đồ hóa chất nền nên được cá thể hóa do không có sự khác biệt về hiệu quả sống còn và khả năng chuyển đổi phẫu thuật triệt căn.</p>Trịnh Lê HuyVũ Hồng ThăngChử Quốc HoànNguyễn Xuân ĐạiNguyễn Hoàng AnhPhạm Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205846647410.52852/tcncyh.v205i8.5448Mức độ kiểm soát bệnh, chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người bệnh mày đay mạn tính
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5450
<p class="p1">Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá mức độ kiểm soát bệnh, chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người bệnh mày đay mạn tính (CU), mô tả cắt ngang trên 50 người bệnh CU khám ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2025 đến tháng 1/2026, áp dụng các bộ câu hỏi UAS7, UCT và CU-QoL để lượng giá tình trạng bệnh. Kết quả cho thấy nữ giới chiếm 58%, nhóm tuổi 18 - 39 chiếm ưu thế (66%). Đa số người bệnh ở tình trạng không kiểm soát bệnh (96%). Miền ảnh hưởng do ngứa và rối loạn giấc ngủ là hai khía cạnh chất lượng cuộc sống bị tác động nhiều nhất, với điểm CU-QoL lần lượt là 3,39 ± 0,95 và 2,78 ± 0,97. Nghiên cứu ghi nhận mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa mức độ kiểm soát (UCT) và suy giảm chất lượng cuộc sống (r = -0,74; p < 0,001). Do đó, CU gây gánh nặng lớn lên chất lượng cuộc sống và khó kiểm soát hoàn toàn trong thực hành lâm sàng.</p>Bùi Văn DânBùi Bích ThảoTrần Thị Mùi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205847548210.52852/tcncyh.v205i8.5450Tỷ trọng dịch lòng ruột và thành ruột trên cắt lớp vi tính không tiêm thuốc dự đoán hoại tử ruột non
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5455
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá giá trị của độ tăng tỷ trọng dịch lòng ruột và thành ruột trên cắt lớp vi tính (CLVT) không tiêm thuốc trong dự đoán hoại tử ruột ở bệnh nhân tắc ruột non thắt nghẹt. Nghiên cứu chẩn đoán hồi cứu, đa trung tâm, gồm 55 bệnh nhân phẫu thuật trong vòng 6 giờ sau CLVT, với 8 trường hợp hoại tử và 47 trường hợp không hoại tử. Tỷ trọng được đo tại quai ruột nghi ngờ tổn thương và quai ruột tham chiếu không giãn; độ tăng tỷ trọng được tính bằng chênh lệch HU. Nhóm hoại tử có ΔHU dịch lòng ruột và ΔHU thành ruột cao hơn nhóm không hoại tử: 12,0 so với 2,0 HU và 12,0 so với 3,0 HU (p < 0,001). AUC tương ứng là 0,991 và 0,918. Tại ngưỡng 7,5 HU, ΔHU dịch lòng ruột đạt độ nhạy/độ đặc hiệu 100%/95,7%; ΔHU thành ruột đạt 87,5%/100%. Các thông số này bổ sung cho đánh giá CLVT thường quy khi phối hợp với CLVT có tiêm thuốc và bối cảnh lâm sàng.</p>Phạm Thị NụNguyễn Thị Ngọc ÁnhNguyễn Ngọc ĐanPhạm Hồng Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205848349110.52852/tcncyh.v205i8.5455Đánh giá kết quả điều trị xoắn tinh hoàn tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2020 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5464
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị xoắn tinh hoàn tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2020 – 2025. Nghiên cứu hồi cứu trên 84 bệnh nhân được chẩn đoán xoắn tinh hoàn và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 01/2020 đến 12/2025. Bệnh gặp chủ yếu ở nhóm tuổi 10 đến dưới 18 tuổi (53,6%). Lý do vào viện thường gặp nhất là đau bìu (97,6%). Tỷ lệ bảo tồn tinh hoàn là 58,3%, trong khi 41,7% phải cắt tinh hoàn. Thời gian đến viện, màu sắc tinh hoàn trong mổ và tín hiệu mạch trên siêu âm Doppler có liên quan có ý nghĩa thống kê với kết quả phẫu thuật. Thời điểm 19 giờ từ khi khởi phát triệu chứng là mốc thời gian có giá trị dự báo nguy cơ cắt tinh hoàn (độ nhạy 81%, độ đặc hiệu 89,6%). Xoắn tinh hoàn thường gặp ở lứa tuổi thanh thiếu niên và biểu hiện lâm sàng điển hình. Chẩn đoán sớm và can thiệp phẫu thuật kịp thời có ý nghĩa quyết định trong việc bảo tồn tinh hoàn.</p>Hoàng Tuấn LinhPhạm Minh QuânĐỗ Ích ĐịnhNguyễn Chúc CôngNguyễn Hoài Bắc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205849250010.52852/tcncyh.v205i8.5464Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bước đầu u lympho tế bào B lớn lan tỏa ở người cao tuổi tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5496
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mục tiêu <span class="s1">mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bước đầu u lympho tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL) ở người cao tuổi. Nghiên cứu mô tả trên 124 bệnh nhân DLBCL có CD20 (+), từ 70 tuổi trở lên, điều trị bước một bằng phác đồ Rituximab kết hợp với CHOP, miniCHOP, CVP, GCVP tại Bệnh viện K từ năm 2019 - 2024. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (CR) và đáp ứng toàn bộ (ORR) sau 6 - 8 chu kỳ lần lượt là 59,7% và 73,4%. Có sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả giữa các nhóm: Phác đồ R-CHOP đạt tỷ lệ CR và ORR lần lượt là 69,3% và 80%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với R-miniCHOP với tỷ lệ CR và ORR là 46,7% và 64,5% (p = 0,024). Bên cạnh đó, suy tim do độc tính tích lũy của Anthracyclin vẫn là rào cản trên nhóm người cao tuổi. Do đó, cần theo dõi sát chức năng tim bằng siêu âm và định lượng TroponinT, proBNP định kỳ nhằm phát hiện sớm tổn thương cơ tim dưới lâm sàng.</span></p>Dương Mạnh Tuấn Đỗ Huyền NgaNguyễn Văn Đăng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205850150910.52852/tcncyh.v205i8.5496Giá trị tiên lượng tử vong của albumin huyết thanh ban đầu trong sốc nhiễm khuẩn ngoại khoa tại Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5502
<p class="p1">Giảm albumin máu thường gặp ở người bệnh nặng, nhưng dữ liệu về vai trò tiên lượng của albumin ở sốc nhiễm khuẩn ngoại khoa tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu nhằm mô tả nồng độ albumin huyết thanh ban đầu, khảo sát một số yếu tố liên quan và đánh giá giá trị tiên lượng tử vong 28 ngày của albumin so với một số chỉ số tiên lượng thường dùng (APACHE II, SOFA, lactat, procalcitonin). Nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang phân tích trên 94 người bệnh sốc nhiễm khuẩn do nguyên nhân ngoại khoa đã được phẫu thuật và điều trị tại khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 2/2020 đến tháng 8/2020. Nồng độ albumin ban đầu được xác định từ xét nghiệm huyết thanh đầu tiên tại thời điểm nhập khoa sau phẫu thuật. Albumin lúc nhập khoa trung bình là 22,7 ± 5,5 g/L. Albumin tương quan thuận yếu với BMI và tương quan nghịch yếu với bạch cầu, lactat và điểm APACHE II (p < 0,05). Tỷ lệ tử vong 28 ngày tăng khi albumin giảm (p = 0,015). Albumin có giá trị tiên lượng tử vong mức khá với AUC 0,724 (95% CI: 0,605 - 0,844), điểm cắt tối ưu 20,75 g/L. Trong mô hình đa biến, ASA > 3, điểm APACHE II và albumin ban đầu liên quan độc lập với tử vong 28 ngày. Albumin là một chỉ số đơn giản, sẵn có, có giá trị bổ sung trong phân tầng nguy cơ người bệnh sốc nhiễm khuẩn ngoại khoa.</p>Phí Xuân AnBùi Thị Minh HuệNguyễn Hữu HoằngVũ Văn KhâmNguyễn Toàn Thắng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205851051710.52852/tcncyh.v205i8.5502Đặc điểm tổn thương tế bào máu ngoại vi ở người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5512
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 50 người bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) điều trị nội trú tại Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai, nhằm mô tả đặc điểm tổn thương tế bào máu ngoại vi và khảo sát mối liên quan giữa một số chỉ số huyết học với biểu hiện lâm sàng, mức độ hoạt động bệnh trong nhóm nghiên cứu. Nữ giới chiếm 90% với biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là tổn thương thận (82%), và đa số có hoạt động bệnh mạnh và rất mạnh. Tổn thương huyết học phổ biến nhất là thiếu máu (92%), chủ yếu là mức độ nhẹ (50%) và hình thái hồng cầu bình thường, đẳng sắc (67,4%), giảm bạch cầu lympho chiếm 38% và 16% giảm tiểu cầu. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tổn thương thận với giảm số lượng hồng cầu; tổn thương tâm – thần kinh với giảm tiểu cầu; mức độ hoạt động bệnh với giảm hemoglobin và tiểu cầu. Thiếu máu và giảm bạch cầu lympho là những rối loạn huyết học phổ biến ở người bệnh SLE trong nghiên cứu. Tình trạng giảm các dòng tế bào máu có giá trị quan trọng trong việc phản ánh tổn thương cơ quan (thận, thần kinh), cũng như mức độ hoạt động của bệnh.</p>Bùi Văn DânNguyễn Thu PhươngCao Thị Trinh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205851852610.52852/tcncyh.v205i8.5512Nồng độ vitamin D huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân thoái hoá cột sống thắt lưng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5560
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 130 bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên được chẩn đoán thoái hóa cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Bạch Mai từ 01/2025 đến 04/2026 nhằm xác định nồng độ vitamin D huyết thanh và đánh giá mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng. Nồng độ 25(OH)D huyết thanh được định lượng và phân tích liên quan với triệu chứng lâm sàng, hình ảnh học và mức độ thoái hóa đĩa đệm theo phân loại Pfirrmann trên MRI. Nồng độ vitamin D trung vị là 21,9 (18,2 – 26,8) ng/mL, trong đó phần lớn bệnh nhân thiếu vitamin D mức độ nhẹ và trung bình. Nồng độ vitamin D thấp liên quan có ý nghĩa thống kê với hạn chế vận động cột sống thắt lưng, hẹp khe khớp và mất đường cong sinh lý cột sống (p < 0,001). Vitamin D có tương quan nghịch mức độ trung bình với phân độ thoái hóa đĩa đệm theo Pfirrmann (r = -0,367; p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy mãn kinh là yếu tố liên quan độc lập với thiếu vitamin D (OR = 25,52; KTC 95%: 3,0 – 217,1; p = 0,003). Thiếu vitamin D phổ biến ở bệnh nhân thoái hóa cột sống thắt lưng và liên quan với mức độ thoái hóa đĩa đệm cũng như một số đặc điểm lâm sàng.</p>Nguyễn Thị Thu HiềnNguyễn Văn HùngBùi Hải Bình
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205852753410.52852/tcncyh.v205i8.5560Đặc điểm viêm đốt sống đĩa đệm nhiễm khuẩn tại Trung tâm Cơ Xương Khớp - Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5577
<p class="p1">Viêm đốt sống – đĩa đệm nhiễm khuẩn là bệnh lý nặng, biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và dễ chẩn đoán muộn. Nghiên cứu được thực hiện trên 111 bệnh nhân được chẩn đoán viêm đốt sống đĩa đệm nhiễm khuẩn tại Trung tâm Cơ xương khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ 8/2025 đến 3/2026 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định căn nguyên gây bệnh. Tuổi trung bình: 58,8 ± 15,0; tỷ lệ nam/nữ là 1,3; tỷ lệ có bệnh đồng mắc: 62,2%; tỷ lệ can thiệp tại vùng cột sống: 43,2%. Tỷ lệ đau cột sống: 100%, sốt 52,3%, triệu chứng thần kinh 32,4%. Trên MRI, phù tủy xương: 99%, tổn thương đĩa đệm: 79,8% và dấu hiệu “soi gương”: 78,6%. CRP tăng chiếm 93,5%, bạch cầu tăng chiếm 48,6%. Tỷ lệ cấy máu dương tính cao hơn cấy bệnh phẩm cột sống (39,0% so với 19,4%). <em>Staphylococcus aureus</em> là tác nhân thường gặp nhất trong khi lao vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể.</p>Nguyễn Thị SanLê Thị Liễu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205853554210.52852/tcncyh.v205i8.5577Thực trạng rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thận Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5590
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm xác định tình trạng rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Thận Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 390 người bệnh từ tháng 01/2026 đến tháng 03/2026. Tình trạng lo âu được đánh giá bằng thang điểm Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS). Phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lo âu ở người bệnh lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Thận Hà Nội là 14,1%. Các yếu tố liên quan độc lập với tình trạng lo âu gồm: thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng, mức độ hỗ trợ xã hội thấp/trung bình, mắc bệnh kèm theo, suy giảm chất lượng giấc ngủ và lo ngại về quy trình lọc máuRối loạn lo âu ở người bệnh lọc máu chu kỳ còn ở mức đáng lưu ý và liên quan đến nhiều yếu tố tâm lý - xã hội và lâm sàng.</p>Trần Thị TuyếtNguyễn Thị ThiTrần Thị Phương LanVương Thị HòaNgô Trung DũngTrần Tuấn Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205854355210.52852/tcncyh.v205i8.5590Kết quả phẫu thuật tạo hình tai giữa có tái tạo chuỗi xương con ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn không có cholesteatoma
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5592
<p class="p1">Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình tai giữa có tái tạo chuỗi xương con ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn không có cholesteatoma. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 25 bệnh nhân được phẫu thuật trong giai đoạn 2021 – 2025 và theo dõi tối thiểu 12 tháng sau mổ. Tuổi trung bình là 42,5 ± 15,3; nữ chiếm 56,0%. Chảy mủ tai (96,0%) và nghe kém (92,0%) là các triệu chứng thường gặp nhất. Lỗ thủng màng nhĩ rộng chiếm 64,0%; nghe kém hỗn hợp chiếm 88,0%. PTA đường khí và ABG trung bình trước mổ lần lượt là 51,8 ± 15,1 dB và 33,6 ± 10,2 dB. Tiêu ngành dài xương đe là tổn thương xương con thường gặp nhất (84,0%). Xương tự thân và kỹ thuật PORP được sử dụng ở 92,0% trường hợp. Sau phẫu thuật, không ghi nhận thủng lại màng nhĩ. PTA đường khí giảm từ 51,8 ± 15,1 dB xuống 40,3 ± 13,6 dB và ABG giảm từ 33,6 ± 10,2 dB xuống 21,6 ± 9,9 dB; sự cải thiện có ý nghĩa thống kê (p = 0,005 và p < 0,001). Có 60,0% bệnh nhân tự đánh giá sức nghe cải thiện rõ. Phẫu thuật giúp phục hồi tốt cấu trúc màng nhĩ và cải thiện chức năng nghe ở đa số bệnh nhân.</p>Kim Đình HưngĐào Trung DũngTrần Thị Thu HằngĐỗ Bá Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205855356110.52852/tcncyh.v205i8.5592Mối liên quan giữa tỷ số ApoB/ApoA-I và tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5611
<p class="p1">Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát mối liên quan giữa ApoB, ApoA-I, tỷ số ApoB/ApoA-I huyết thanh và mức độ tổn thương động mạch vành theo thang điểm Gensini ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp. Với thiết kế cắt ngang có phân tích, nghiên cứu thu nhận 113 bệnh nhân điều trị tại hai bệnh viện đa khoa ở Đồng Nai từ 7/2025 đến 4/2026. Kết quả cho thấy ApoB và tỷ số ApoB/ApoA-I ở nhóm tổn thương động mạch vành vừa đến nặng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tổn thương nhẹ (p lần lượt là 0,019 và 0,023). ApoA-I không khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm (p = 0,093). Hồi quy logistic ghi nhận tỷ số ApoB/ApoA-I vẫn liên quan có ý nghĩa thống kê với tổn thương động mạch vành từ vừa đến nặng sau khi hiệu chỉnh các yếu tố trong mô hình đa biến (OR = 1,27; KTC 95%: 1,01 – 1,62; p = 0,048). Tỷ số ApoB/ApoA-I có thể hỗ trợ đánh giá mức độ tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp.</p>Tạ Đức LuânPhạm Kiều Anh ThơTrần Viết An An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205856257010.52852/tcncyh.v205i8.5611Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên gây nhiễm khuẩn huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Hải Phòng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5647
<p class="p1">Nhiễm khuẩn huyết sơ sinh (NKHSS) là bệnh lý phổ biến, nguy hiểm và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ ba ở trẻ sơ sinh. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh được thực hiện trên 92 trẻ sơ sinh có cấy máu dương tính điều trị tại Bệnh viện Nhi Hải Phòng từ 01/07/2021 đến 30/06/2026. Kết quả cho thấy NKHSS muộn chiếm ưu thế (85,9%), chủ yếu gặp ở trẻ đẻ non (80,4%) và cân nặng thấp (78,3%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là rối loạn hô hấp (77,2%), tiếp theo là rối loạn tuần hoàn và thần kinh. Các bất thường cận lâm sàng phổ biến gồm giảm tiểu cầu (79,3%), tăng lactat (64,1%) và tăng CRP (44,6%). Vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế, trong đó Klebsiella pneumoniae là căn nguyên thường gặp nhất ở NKHSS muộn, đặc biệt ở trẻ đẻ non (32,6%). Staphylococcus aureus là vi khuẩn Gram dương thường gặp nhất, gặp nhiều ở NKHSS sớm. Candida albicans chiếm 20,6% và chỉ gặp ở NKHSS muộn. NKHSS muộn chủ yếu gặp ở trẻ đẻ non, cân nặng thấp với căn nguyên chủ yếu là Klebsiella pneumoniae và Candida albicans.</p>Vũ Hữu HiệuVũ Hữu QuyềnTrương Văn MinhPhạm Thảo NguyênNguyễn Thị Quỳnh Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205857158110.52852/tcncyh.v205i8.5647Đặc điểm hình thái và kết quả đóng thông liên nhĩ dạng sàng qua da bằng dụng cụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5650
<p class="p1">Can thiệp đóng thông liên nhĩ (TLN) dạng sàng qua da có nhiều thách thức trong đánh giá hình thái tổn thương, lựa chọn dụng cụ và shunt tồn lưu sau can thiệp. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh hồi cứu, có theo dõi ngắn hạn sau can thiệp trên 31 bệnh nhân TLN dạng sàng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tuổi trung bình: 34,6 ± 19,7 tuổi; nữ giới: 74,2%. Trên siêu âm tim thực quản (TEE), số lỗ thông trung bình là 2,4 ± 0,5 lỗ/bệnh nhân. TEE phát hiện bệnh nhân có ≥ 3 lỗ thông, phình vách liên nhĩ với tỷ lệ cao hơn so với siêu âm tim thành ngực trong số 25 bệnh nhân có đủ cả 2 phương pháp thành ngực và thực quản (44% so với 8%; 52% so với 28%, p < 0,05). Kích thước dụng cụ trung bình: 29,9 ± 7,9 mm. Tỷ lệ thành công của thủ thuật: 96,8%. Có 1 trường hợp di lệch dụng cụ cần phẫu thuật đóng lỗ thông. Có 20% trường hợp còn shunt tồn lưu nhỏ sau can thiệp. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy can thiệp đóng TLN dạng sàng qua da là phương pháp khả thi, với kết quả thủ thuật tốt trong giai đoạn tức thì và theo dõi ngắn hạn.</p>Nguyễn Lân HiếuHoàng Văn KỳNgô Thị HạnhLê Xuân HùngNguyễn Thị Minh Lý
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205858259010.52852/tcncyh.v205i8.5650Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm thận lupus ở trẻ nam tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5667
<p class="p1">Viêm thận lupus (LN) là biến chứng nặng của lupus ban đỏ hệ thống (SLE). Nam giới mắc viêm thận lupus thường có mức độ hoạt động bệnh mạnh với tổn thương thận nặng. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh 55 trẻ nam dưới 16 tuổi được chẩn đoán viêm thận lupus điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2026. Tuổi trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 11,24 ± 2,17 tuổi. Các biểu hiện ngoài thận thường gặp nhất là ban da (49,1%), sốt kéo dài (47,3%), và gan lách hạch to (45,5%). 60% trẻ có phù, tiểu máu (90,9%), trên 90% trẻ có protein niệu ngưỡng thận hư, trong đó 56,4% hội chứng thận hư. 40% trẻ giảm mức lọc cầu thận dưới 90 ml/phút/1,73m², trong đó 21,8% mức lọc cầu thận dưới 60 ml/phút/1,73m<sup>2</sup>. ANA dương tính (94,5%), anti-dsDNA dương tính (89,1%), giảm C3 (89,1%) và giảm C4 (87,3%). Điểm SLEDAI trung bình là 21,07 ± 8,15; 92,7% bệnh nhân có mức độ hoạt động bệnh mạnh hoặc rất mạnh. Có 26 trong 55 trẻ được sinh thiết thận, tổn thương mô bệnh học thường gặp nhất là lớp IV (46,2%). Kết luận: Trẻ nam mắc viêm thận lupus thường có mức độ hoạt động bệnh cao, tổn thương thận nặng và ưu thế các thể viêm thận lupus tăng sinh.</p>Nguyễn Thị Huyền TrangLương Thị PhượngNguyễn Thu Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205859159810.52852/tcncyh.v205i8.5667Đặc điểm kiểu hình rối loạn đông cầm máu trên ROTEM ở trẻ sơ sinh đủ tháng nhiễm khuẩn sơ sinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5685
<p class="p1">Rối loạn đông cầm máu trong nhiễm khuẩn sơ sinh thường gặp và biểu hiện đa dạng với các kiểu hình khác nhau. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 168 trẻ sơ sinh đủ tháng nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 06/2024 đến tháng 12/2025, sử dụng xét nghiệm ROTEM để xác định kiểu hình rối loạn đông máu và tiêu sợi huyết. So với nhóm không sốc, nhóm sốc nhiễm khuẩn có tỷ lệ giảm đông (84,4% so với 47,4%; p < 0,001) và giảm tiêu sợi huyết (31,1% so với 12,8%; p = 0,003) cao hơn. Trong sốc nhiễm khuẩn, tỷ lệ huyết khối ở nhóm giảm tiêu sợi huyết cao hơn không giảm tiêu sợi huyết (17,9% so với 3,2%; p = 0,028), trong khi không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ xuất huyết giữa nhóm giảm đông và không giảm đông. Rối loạn đông cầm máu trong sốc nhiễm khuẩn sơ sinh không chỉ biểu hiện bằng suy giảm khả năng tạo cục đông mà còn đi kèm ức chế tiêu sợi huyết và xu hướng huyết khối; ROTEM giúp đánh giá toàn diện các kiểu hình này.</p>Đặng Thị Thu ThủyNguyễn Thị Quỳnh NgaTạ Anh Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205859960810.52852/tcncyh.v205i8.5685Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của chấn thương mắt: Nghiên cứu trên 1.257 bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Mắt Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5693
<p class="p1">Mô tả đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng theo phân loại Birmingham (BETT) và gánh nặng điều trị nội trú của chấn thương mắt, chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.257 bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Mắt Trung ương. Tuổi trung bình 40,18 ± 18,00 năm; nam giới chiếm 79,32% (tỷ số nam/nữ 3,83/1). Tai nạn lao động là nguyên nhân hàng đầu (43,28%) và gắn với tỷ lệ chấn thương nhãn cầu hở cao nhất (59,92%). Theo BETT, chấn thương nhãn cầu hở chiếm 50,28%, nhãn cầu kín 30,47%; phần phụ/hốc mắt 16,31% và bỏng 2,94%. Có 64,12% bệnh nhân đến viện trong 24 giờ đầu, song 15,99% đến muộn sau 7 ngày. Tổng gánh nặng là 8.174 ngày giường, riêng chấn thương nhãn cầu hở chiếm 58,18%. Chấn thương mắt điều trị nội trú gặp chủ yếu ở nam giới trong độ tuổi lao động, nổi bật là tai nạn lao động và chấn thương nhãn cầu hở. Kết quả ủng hộ ưu tiên dự phòng chấn thương mắt nghề nghiệp, cải thiện sơ cứu và chuyển tuyến sớm.</p>Phan Thị Thu HươngBùi Thị Vân AnhHoàng Thị Hải VânPhạm Ngọc ĐôngNgô Thị Hồng Thắm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205860961710.52852/tcncyh.v205i8.5693Đặc điểm hành vi tự sát ở người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu tại Viện Sức khỏe tâm thần
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5703
<p class="p1">Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hành vi tự sát ở người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang 150 người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2025 đến hết 4/2026. Kết quả: Toàn bộ đối tượng là nam giới, tuổi trung bình 52,59 ± 9,87, tuổi bắt đầu sử dụng rượu trung bình 24,81 ± 7,87. Tỉ lệ người bệnh có hành vi tự sát suốt đời là 32%, hầu hết chỉ có ý tưởng tự sát. Khoảng 1/3 có ý tưởng xuất hiện hằng ngày hoặc gần như mỗi ngày, 41,7% kéo dài trên 4 giờ trở lên, 31,3% kiểm soát được với rất nhiều khó khăn, 79,2% muốn tự sát nhằm chấm dứt nỗi đau. Yếu tố ngăn cản tự sát thường gặp là có trách nhiệm với gia đình hoặc người khác (62,5%), nhận thức lý do và mục đích sống (41,7%), niềm tin tôn giáo, đạo đức (37,5%) và sợ cái chết (33,3%). Kết luận: Hành vi tự sát là vấn đề thường gặp trong rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu với tỉ lệ xuất hiện cao hơn nhiều so với dân số chung. Các đặc điểm tần suất xuất hiện hàng ngày, thời lượng trên 4 giờ và mức độ khó kiểm soát ý tưởng tự sát phản ánh tính dai dẳng và xâm nhập của ý tưởng tự sát. Người bệnh lựa chọn tự sát như một giải pháp thoát khỏi trạng thái tâm lý không thể chịu đựng, bên cạnh đó sự hiện diện của các yếu tố ngăn cản tự sát cho thấy họ vẫn có lý do để sống có thể được khai thác như điểm tựa cho can thiệp dự phòng.</p>Nguyễn Thị Thanh TâmLê Thị Thu Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205861862610.52852/tcncyh.v205i8.5703Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn trầm cảm tái diễn tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5704
<p class="p1">Rối loạn giấc ngủ là một triệu chứng phổ biến của rối loạn trầm cảm tái diễn, ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nghiên cứu cắt ngang trên 150 người bệnh điều trị tại Viện sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai từ 08/2025 đến hết 03/2026 nhằm mục tiêu mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn trầm cảm tái diễn. Kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở đối tượng nghiên cứu chiếm 89,3%, mất ngủ chiếm đa số (91%). Thời gian lên giường và thức giấc trung bình lần lượt là 21,3 ± 2,0; 5,1 ± 1,4, số giờ ngủ mỗi đêm là 4 giờ. Có 44,8% người bệnh sử dụng thuốc ngủ. Chỉ số PSQI trung bình 14,8 ± 3,4. Rối loạn giấc ngủ rất thường gặp ở người bệnh rối loạn trầm cảm tái diễn (89,3%), mất ngủ là thể bệnh chiếm ưu thế (91,0%). Mỗi thể rối loạn giấc ngủ đều có những đặc điểm lâm sàng chuyên biệt.</p>Nguyễn Văn TuấnNguyễn Thị Phương Hiền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205862763510.52852/tcncyh.v205i8.5704Nồng độ GDF-15 huyết thanh và giá trị tiên lượng biến cố suy tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5709
<p class="p1">Nghiên cứu quan sát tiến cứu, theo dõi dọc 6 tháng trên 93 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh từ tháng 06/2025 đến tháng 05/2026. Nồng độ GDF-15 huyết thanh trung vị lúc nhập viện là 252,78 pg/mL (IQR: 144,89 - 421,46), cao hơn có ý nghĩa ở bệnh nhân tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường và bệnh thận mạn (p < 0,05). Sau 6 tháng theo dõi, 14 bệnh nhân (15,1%) xuất hiện biến cố suy tim; nhóm này có nồng độ GDF-15 cao hơn rõ rệt so với nhóm không có biến cố (467,49 so với 223,97 pg/mL; p < 0,001). Nồng độ GDF-15 có giá trị tiên lượng biến cố suy tim với diện tích dưới đường cong ROC là 0,789 (KTC 95%: 0,66 - 0,92; p = 0,001). Điểm cắt 358,64 pg/mL cho độ nhạy 78,6% và độ đặc hiệu 72,2%. Nồng độ GDF-15 huyết thanh có giá trị khá tốt trong tiên lượng biến cố suy tim sau nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da.</p>Trần Viết AnTrần Thanh Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205863664410.52852/tcncyh.v205i8.5709Nồng độ Interleukin-6 huyết thanh, mối liên quan với mức độ nặng và kết quả điều trị ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5710
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc 3 tháng trên 115 bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Nồng độ IL-6 trung bình là 6,54 ± 11,30 pg/mL, tỷ lệ tăng IL-6 (> 3,18 pg/mL) là 51,3%, tăng cao hơn ở bệnh nhân thừa cân-béo phì, hạn chế vận động khớp gối, hút thuốc lá, đái tháo đường và rối loạn lipid máu (p < 0,05). Nồng độ IL-6 ở nhóm thoái hóa khớp gối nặng cao hơn nhóm không nặng (32,81 ± 30,89 so với 4,58 ± 4,28 pg/mL; p < 0,05), tương quan thuận với giai đoạn Kellgren-Lawrence và điểm đau VAS. Sau 3 tháng điều trị, 71,3% bệnh nhân cải thiện đau; nhóm cải thiện có nồng độ IL-6 thấp hơn nhóm không cải thiện (4,15 ± 4,35 so với 12,48 ± 18,86 pg/mL; p = 0,007). Nồng độ IL-6 huyết thanh liên quan với mức độ nặng và có giá trị dự báo đáp ứng điều trị ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát.</p>Huỳnh Thanh HiềnPhan Minh Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205864565210.52852/tcncyh.v205i8.5710Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5721
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 255 người bệnh đái tháo đường típ 2 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 7/ 2025 đến tháng 4/ 2026. Chúng tôi thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh đái tháo đường típ 2. Kết quả có 54,1% người bệnh đái tháo đường típ 2 có rối loạn giấc ngủ. Người bệnh có độ tuổi lớn lớn 60 chiếm tỉ lệ cao hơn là 62,3%. Thời gian ngủ trung bình mỗi đêm 3,9 ± 1,3. Có 63,8% người bệnh có số lần thức giấc trong đêm 1 - 2 lần/ đêm. 70,3% người bệnh có hiệu suất giấc ngủ rất kém (≤ 65%). Thể bệnh hay gặp nhất của rối loạn giấc ngủ là mất ngủ chiếm tỉ lệ 87,0%, hội chứng chân không yên chiếm 11,6% và rối loạn nhịp thức ngủ sinh học chiếm 1,4%. Chỉ số PSQI trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 8,7 ± 5,2%.</p>Nguyễn Văn TuấnVũ Sơn TùngĐào Thị Thùy Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205865366210.52852/tcncyh.v205i8.5721Thực trạng rối loạn dạng cơ thể ở người bệnh trào ngược dạ dày-thực quản tại Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5727
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 185 người bệnh đã được chẩn đoán trào ngược dạ dày-thực quản (GERD, mã K21), khám ngoại trú tại Trung tâm Tiêu hóa-Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai từ 7/2025 đến 6/2026, nhằm mô tả thực trạng rối loạn dạng cơ thể (RLDCT). Sàng lọc bằng SSD-12, chẩn đoán theo ICD-10 F45, kết hợp PHQ-9, GAD-7, PSS-10, EHAS, FSSG, GERD-HRQL. Tuổi trung bình 47,3 ± 13,8; nữ 56,8%; thời gian mắc GERD trung vị 2,0 năm; đáp ứng PPI kém 58,4%. Tỷ lệ RLDCT theo ICD-10 F45 đạt 45,9% (85/185; KTC 95% 38,9–53,1%); SSD-12 ≥ 16 đạt 41,6%. Trong nhóm RLDCT, F45.1 và F45.0 chiếm 69,4%. Nhóm RLDCT có trung bình 3,4 ± 1,5 hệ cơ quan có triệu chứng cơ thể thường xuyên, 70,6% ≥ 3 hệ; gánh nặng tâm thần đồng mắc cao (GAD-7 10,8; PHQ-9 10,2; PSS-10 22,8; EHAS 38,0); GERD-HRQL 41,4 ± 13,6; đáp ứng PPI kém ở nhóm RLDCT 82,4%. Tỷ lệ RLDCT đạt gần một nửa quần thể GERD ngoại trú tuyến cuối, với ưu thế F45.1 và F45.0 cùng gánh nặng tâm thần đồng mắc cao gợi ý nhu cầu sàng lọc tâm lý trong quy trình khám tiêu hóa thường quy.</p>Lưu Thị Thanh PhươngNguyễn Văn Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205866367510.52852/tcncyh.v205i8.5727Kết quả điều trị chấn thương niệu đạo ở trẻ em tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5737
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu trên 32 bệnh nhi được chẩn đoán chấn thương niệu đạo tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2024 nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị. Kết quả của nghiên cứu cho thấy độ tuổi trung bình là 10,34 ± 3,92 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (68,8%). Triệu chứng lâm sàng gồm: bí tiểu (85,2%), chảy máu lỗ tiểu (29,6%). Chụp X-quang niệu đạo – bàng quang xuôi dòng và/hoặc ngược dòng là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán. Chấn thương niệu đạo sau chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4%. Khâu nối niệu đạo tận – tận là phương pháp điều trị chính với tỷ lệ thành công là 52,4%, các biến chứng sau điều trị thường gặp gồm hẹp niệu đạo, tiểu không tự chủ. Chấn thương niệu đạo ở trẻ em là bệnh lý hiếm gặp và phức tạp nên việc chẩn đoán và điều trị tại cơ sở chuyên khoa với phẫu thuật viên có kinh nghiệm là yếu tố quan trọng nhằm giảm thiểu biến chứng.</p>Lê Quang NamVũ Hồng TuânNguyễn Việt Hoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205867668210.52852/tcncyh.v205i8.5737Kết quả bước đầu phẫu thuật nội soi toàn bộ xuyên sọ kẹp cổ túi phình tuần hoàn trước
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5782
<p class="p1">Nội soi toàn bộ xuyên sọ (NSTBXS) kẹp cổ túi phình là hướng tiếp cận mới dùng ống nội soi làm phương tiện quan sát duy nhất, nhằm bảo tồn nhánh xuyên và loại trừ túi phình qua đường mổ nhỏ. Nghiên cứu mô tả tiến - hồi cứu 58 bệnh nhân phình động mạch tuần hoàn trước được phẫu thuật NSTBXS tại Bệnh viện Bạch Mai (11/2025 – 5/2026), đánh giá tính khả thi, an toàn và chất lượng quan sát nội soi. Tuổi trung bình 59,4 ± 9,3; túi phình thông trước 51,7%, não giữa 34,5%; 39,7% vỡ. Độ rõ phẫu trường tốt ở 93,1%; điều chỉnh clip sau kiểm tra nội soi 26,3%. Kẹp hoàn toàn 94,8%; không vén não 89,7%. Vỡ trong mổ 17,2%, tập trung ở nhóm vỡ trước mổ và đều được kiểm soát. Khi ra viện 100% đạt mRS 0–2; không tử vong nội viện. Kỹ thuật bước đầu khả thi và an toàn; chất lượng quan sát nội soi cao giúp tối ưu vị trí clip. Cần theo dõi dài hơn và nghiên cứu đối chứng để khẳng định giá trị.</p>Nguyễn Thế HàoPhạm Quỳnh TrangPhạm Văn Thành CôngNguyễn Tất Đặng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205868369110.52852/tcncyh.v205i8.5782Kết cục thai kỳ của những thai phụ con so nguy cơ thấp được khởi phát chuyển dạ bằng dinoprostone và bóng đôi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5673
<p class="p1">Nghiên cứu này nhằm ghi nhận kết cục thai kỳ của thai phụ con so nguy cơ thấp được khởi phát chuyển dạ (KPCD) bằng dinoprostone đặt âm đạo và bóng đôi. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu so sánh được thực hiện trên các thai phụ con so nguy cơ thấp có tuổi thai từ 39<span class="s1">⁰</span>⁄<span class="s1">₇</span> đến 40<span class="s1">⁶</span>⁄<span class="s1">₇</span> tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, từ ngày 07/01/2021 đến ngày 31/12/2023. Trong số 410 thai phụ có 211 người được KPCD bằng dinoprostone và 199 trường hợp bằng bóng đôi, tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của nhóm dinoprostone thấp hơn so với nhóm bóng đôi (66,8% so với 92%, p < 0,001). Tỷ lệ sinh đường âm đạo là 49,3% ở nhóm dinoprostone và 41,2% ở nhóm bóng đôi (RR = 1,2; 95%CI: 0,96 – 1,48). Dinoprostone liên quan đến tỷ lệ cơn co tử cung cường tính kèm bất thường nhịp tim thai (thai suy) cao hơn (2,8% so với 1,0%). Dinoprostone đặt âm đạo và bóng đôi cổ tử cung đều là các phương pháp KPCD hiệu quả và tương đối an toàn ở thai phụ con so nguy cơ thấp. Tuy nhiên dinoprostone có xu hướng liên quan đến tỷ lệ cơn co tử cung cường tính cao hơn so với nhóm bóng đôi.</p>Trần Anh ĐứcNguyễn Thị Thu HàNguyễn Khắc ToànNguyễn Duy Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205869270310.52852/tcncyh.v205i8.5673Phẫu thuật nội soi điều trị viêm xoang trán do nấm Aspergillus đồng nhiễm Staphylococcus epidermidis đa kháng biến chứng áp xe dưới cốt mạc ổ mắt: Báo cáo ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/6109
<p class="p1">Chúng tôi báo cáo một ca bệnh rất hiếm gặp tại Việt Nam cũng như trên thế giới được phát hiện và điều trị thành công tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương. Viêm xoang trán do nấm <em>Aspergillus</em> đồng nhiễm <em>S. epidermidis</em> đa kháng kháng sinh gây biến chứng áp xe dưới cốt mạc, ở vị trí phần cao góc trên trong ổ mắt, với triệu chứng lâm sàng không điển hình, gây khó khăn trong chẩn đoán và phẫu thuật để loại bỏ nấm trong xoang trán cũng như giải phóng ổ áp xe dưới cốt mạc ổ mắt. Người bệnh đã được phẫu thuật tiếp cận hoàn toàn dưới nội soi mà không cần mở thêm đường ngoài, đạt được hiệu quả tốt.</p>Hà Minh LợiNguyễn Thị Thanh MinhNguyễn Văn Luận
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205870471910.52852/tcncyh.v205i8.6109Hiệu quả của chương trình Vivifrail trên chức năng vận động và nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng dễ bị tổn thương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5844
<p class="p1">Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 72 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 từ 60 tuổi trở lên có hội chứng dễ bị tổn thương (HCDBTT). Bệnh nhân được phân thành nhóm can thiệp (n = 36) tham gia chương trình Vivifrail và nhóm chứng (n = 36) được chăm sóc thông thường. Các chỉ số được đánh giá tại thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và sau 6 tháng, bao gồm chức năng vận động (Timed Up and Go, TUG) và điểm nguy cơ ngã (Fall Risk Index-21, FRI-21). Có 66 bệnh nhân hoàn thành nghiên cứu sau 6 tháng theo dõi. Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt về đặc điểm nhân khẩu học, đái tháo đường, và lão khoa giữa hai nhóm (p > 0,05). Sau 6 tháng can thiệp, thời gian thực hiện TUG của nhóm can thiệp giảm trung bình 3,8 giây từ 15,6 ± 5,9 giây xuống 11,8 ± 2,9 giây, nhóm chứng tăng 1,1 giây từ 15,3 ± 5,5 giây lên 16,4 ± 6,4 giây. Điểm FRI-21 của nhóm can thiệp giảm trung bình 4,1 điểm từ 11,4 ± 3,3 điểm xuống 7,3 ± 3,0 điểm, nhóm chứng không có sự thay đổi. Mức thay đổi về thời gian TUG và điểm FRI-21 ở nhóm can thiệp tốt hơn so với nhóm chứng tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng (p < 0,05). Chương trình Vivifrail giúp cải thiện đáng kể chức năng vận động và giảm nguy cơ ngã ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có HCDBTT.</p>Dương Thị Kim NgânNguyễn Huy NgọcVũ Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205872072910.52852/tcncyh.v205i8.5844Nghiên cứu tác dụng chống mệt mỏi của Sữa dưỡng Nhật Bảo trên động vật thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5269
<p class="p1">Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng chống mệt mỏi của Sữa dưỡng Nhật Bảo (CSTD) trên động vật thực nghiệm. Chuột nhắt chủng Swiss được gây mệt mỏi bằng cách thực hiện bơi và bám trên trục quay Rotarod hàng ngày trong 1 tuần liên tục. Sau đó, chuột được uống nước cất/sulbutiamin liều 96 mg/kg/ngày hoặc CSTD liều 15,6 và 31,2 g/kg/ngày trong 4 tuần liên tục. Tác dụng chống mệt mỏi của CSTD đã được xác định thông qua đánh giá sức bám, sức kéo của chuột, thử nghiệm bơi cưỡng bức và xác định các chỉ số sinh hóa. CSTD liều 15,6 g/kg/ngày có xu hướng làm tăng cân nặng, kéo dài thời gian bám trên trục quay Rotarod, kéo dài thời gian bơi và tăng sức kéo của chuột nhắt trắng so với mô hình, tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. CSTD liều 31,2 g/kg/ngày có tác dụng làm tăng cân nặng, kéo dài thời gian bám trên trục quay Rotarod, kéo dài thời gian bơi và tăng sức kéo của chuột nhắt trắng có ý nghĩa thống kê so với mô hình. Ngoài ra, CSTD liều 31,2 g/kg/ngày làm tăng nồng độ glucose; giảm hoạt độ AST, ALT và nồng độ BUN trong máu chuột. Như vậy, CSTD liều 31,2 g/kg/ngày có tác dụng chống mệt mỏi trên động vật thực nghiệm.</p>Trần Thanh TùngNguyễn Thị Thanh LoanTrần Sách Việt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205873074010.52852/tcncyh.v205i8.5269Khả năng gây kích ứng da và ảnh hưởng toàn thân của Medicell Plus Premium bôi ngoài da trên mô hình gây bỏng nhiệt thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5326
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá khả năng gây kích ứng da của Medicell Plus Premium (MPP) trên thỏ và ảnh hưởng toàn thân của MPP bôi ngoài da trên chuột cống trắng bị bỏng nhiệt. Đánh giá khả năng gây kích ứng da được tiến hành theo hướng dẫn của OECD và ISO 10993-10. Chuột được gây bỏng nhiệt trên da lưng bằng dụng cụ kim loại, sau đó bôi MPP trong 21 ngày. Các chỉ số huyết học, sinh hóa, vi thể gan và thận của chuột được đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy MPP không gây kích ứng da trên thỏ. MPP liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không ảnh hưởng đến các chỉ số huyết học, mức độ hủy hoại tế bào gan, chức năng gan và chức năng thận. Ngoài ra, cấu trúc vi thể gan và thận của chuột của lô bôi MPP không có sự khác biệt rõ rệt so với lô chứng sinh học. Như vậy, MPP bôi ngoài da ở liều 0,2 ml/lần, một hoặc hai lần/ngày không gây độc tính toàn thân sau 21 ngày bôi thuốc thử trên mô hình gây bỏng thực nghiệm.</p>Trần Thanh TùngNguyễn Thị Thanh LoanTrần Việt AnhTrần Trung KiênHoàng Yến ChiNguyễn Mai Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205874175010.52852/tcncyh.v205i8.5326Tác động của chế độ ăn bổ sung dây thìa canh đến dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5381
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá tác động của bổ sung dây thìa canh (<em>Gymnema sylvestre</em>) lên dung nạp glucose, lipid máu và tổn thương gan trên mô hình chuột đái tháo đường. Tổng cộng 48 chuột đực <em>Swiss</em> được chia thành 4 nhóm: Nhóm 1 - đối chứng, Nhóm 2 - béo phì, Nhóm 3 - đái tháo đường, và Nhóm 4 - đái tháo đường có can thiệp bằng chế độ ăn. Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose đường tiêm phúc mạc (IPGTT) cho thấy Nhóm 2 và 3 có rối loạn dung nạp glucose rõ rệt, đặc biệt Nhóm 3 có glucose máu tăng cao và giảm chậm. Nhóm 4 được bổ sung ăn dây thìa canh có mức tăng glucose thấp hơn và giảm nhanh hơn, cho thấy cải thiện dung nạp glucose. Đồng thời, các chỉ số cholesterol, triglycerid, ALT và AST ghi nhận giảm đáng kể so với Nhóm 2 và 3 phản ánh xu hướng cải thiện rối loạn lipid và giảm tổn thương gan (thoái hóa mỡ, viêm, rối loạn cấu trúc) đáng kể ở nhóm 4. Kết quả cho thấy dây thìa canh có tiềm năng hỗ trợ kiểm soát rối loạn chuyển hóa glucose, chuyển hoá lipid và giảm tổn thương gan trong đái tháo đường thực nghiệm.</p>Nông Văn DiệpNguyễn Đức QuânĐỗ Thị TrangTrần Thị Hương GiangTrần Huy ThịnhNguyễn Huy Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205875175910.52852/tcncyh.v205i8.5381Hàm lượng vitexin, isovitexin và hoạt tính ức chế α-glucosidase của cao chiết vỏ đậu xanh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5526
<p class="p1">Vỏ đậu xanh là phụ phẩm phát sinh với khối lượng lớn trong chế biến đậu xanh nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm định lượng vitexin và isovitexin trong cao chiết vỏ đậu xanh bằng HPLC-DAD, xác định hàm lượng polyphenol toàn phần, hàm lượng flavonoid toàn phần, đánh giá hoạt tính ức chế α-glucosidase in vitro và sử dụng docking phân tử để hỗ trợ gợi ý tương tác của các hợp chất chính với đích liên quan α-glucosidase. Vỏ đậu xanh được thu từ cơ sở chế biến tại Hưng Yên, đã được sấy khô theo quy trình chế biến tại cơ sở sản xuất trước khi bàn giao, sau đó mẫu được bảo quản kín ở ngăn mát tủ lạnh, nghiền nhỏ và chiết siêu âm bằng methanol hoặc ethanol 50%; Cao chiết ethanol 50% được ký hiệu VRE50. Kết quả cho thấy VRE50 có hiệu suất chiết 5,45%, chứa vitexin 12,38% và isovitexin 10,77% trong cao chiết, cao hơn về mặt định lượng so với cao methanol. VRE50 có hàm lượng polyphenol toàn phần 48,56 ± 1,46 mg GAE/g cao chiết và hàm lượng flavonoid toàn phần 145,66 ± 4,37 mg QE/g cao chiết. VRE50 ức chế α-glucosidase với IC<sub>50</sub> = 148,36 ± 5,49 µg/mL, so với acarbose là 120,99 ± 8,31 µg/mL trong cùng điều kiện thử nghiệm. Docking trên protein 3TOP cho thấy vitexin và isovitexin có khả năng tương tác với vùng gắn kết của đích liên quan α-glucosidase; tuy nhiên, kết quả docking chỉ được sử dụng như bằng chứng hỗ trợ, không thay thế thử nghiệm enzym in vitro. Nghiên cứu cung cấp cơ sở ban đầu cho hướng khai thác phụ phẩm vỏ đậu xanh giàu vitexin và isovitexin có tiềm năng ức chế α-glucosidase trong điều kiện in vitro.</p>Nguyễn Thị NgaNguyễn Ngọc LinhVũ Thị ThoaLê Văn LongNguyễn Thị NguyệtĐỗ Thị TrangNguyễn Thị QuyênĐào Thị Ngoãn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205876077210.52852/tcncyh.v205i8.5526Xác nhận giá trị sử dụng của Etest penicillin và ceftriaxone trên các chủng Streptococcus pneumoniae
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5761
<p class="p1">Xác định chính xác nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) có vai trò quan trọng trong định hướng điều trị kháng sinh trên lâm sàng. Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận giá trị sử dụng của Etest penicillin và ceftriaxone trên 50 chủng <em>Streptococcus pneumoniae.</em> Các chỉ số đồng thuận giá trị (EA), đồng thuận phân loại (CA), lỗi rất lớn (VME), lỗi lớn (ME) và lỗi nhỏ (mE) được tính toán theo tiêu chuẩn của CLSI M52. EA và CA của Etest penicillin lần lượt là 96,0% và 74,0%; VME, ME và mE lần lượt là 2,0%, 0,0% và 26,0%. EA và CA của Etest ceftriaxone lần lượt là 94,0% và 62,0%; VME, ME và mE lần lượt là 4,0%, 0,0% và 38,0%. Mặc dù có sự đồng thuận EA cao nhưng các tiêu chí CA, mE không phù hợp do các giá trị MIC của <em>S. pneumoniae</em> phân bố sát các giá trị breakpoint phiên giải. Do vậy cần mở rộng bộ chủng thử nghiệm để có được đánh giá chính xác hơn.</p>Nguyễn Thị ÁnhTrần Minh ChâuPhạm Hồng Nhung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205877378110.52852/tcncyh.v205i8.5761Gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc chính cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5027
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 186 người chăm sóc chính tại Trung tâm Thận – Lọc máu và Khoa Nội thận – Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa nhằm mô tả gánh nặng chăm sóc của người chăm sóc chính cho người bệnh thận nhân tạo chu kỳ năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp, sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc bao gồm thông tin nhân khẩu – xã hội của người chăm sóc, đặc điểm người bệnh và thang đo Zarit Burden Interview (ZBI). Kết quả cho thấy điểm gánh nặng chăm sóc trung vị là 45 (IQR: 37 – 51) trên tổng điểm 88. Đa số người chăm sóc có gánh nặng chăm sóc từ trung bình đến nặng (62,9%). Các nhóm chịu gánh nặng cao hơn gồm người chăm sóc chính là bố/mẹ, trình độ học vấn thấp, làm nội trợ hoặc đã nghỉ hưu, thu nhập thấp và chăm sóc trong thời gian dài. Kết quả nhấn mạnh nhu cầu xây dựng các chương trình hỗ trợ nhằm giảm gánh nặng cho các nhóm nguy cơ cao.</p>Trịnh Thị Hồng NhungNguyễn Bá CầnPhạm Đắc QuânLê Trọng TấnPhạm Thị Lan ThanhTrịnh Anh Viên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205878279110.52852/tcncyh.v205i8.5027Tư duy phản biện và một số yếu tố liên quan của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Hùng Vương năm 2026
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5183
<p class="p1">Tư duy phản biện là một năng lực thiết yếu trong đào tạo sinh viên điều dưỡng và đóng một vai trò quan trọng để phát triển năng lực ra quyết định lâm sàng, nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị người bệnh. Tại Việt Nam còn hạn chế các nghiên cứu về tư duy phản biện trên đối tượng sinh viên điều dưỡng tại khu vực miền Bắc. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tư duy phản biện và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Hùng Vương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 194 sinh viên Điều dưỡng năm 2, 3, 4 Trường Đại học Hùng Vương. Tư duy phản biện được đo bằng thang Critical Thinking Self Assessment Scale (CTSAS); niềm tin vào năng lực bản thân được đánh giá bằng thang đo General Self-Efficacy Scale (GSES). Kết quả cho thấy điểm trung bình Tư duy phản biện của sinh viên điều dưỡng là 173,3 ± 44,4. Niềm tin vào năng lực bản thân, năm học, sinh viên có việc làm thêm và kinh nghiệm thực tập lâm sàng có liên quan với tư duy phản biện của sinh viên điều dưỡng. Các chương trình đào tạo cần lồng ghép các phương pháp dạy học khác nhau và tạo môi trường thực hành giúp sinh viên phát triển tư duy phản biện hiệu quả.</p>Dương Na LyĐăng Thị Loan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205879280110.52852/tcncyh.v205i8.5183Gánh nặng chăm sóc người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa 2025 - 2026
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5196
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 173 người chăm sóc chính của người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2025 – 2026, sử dụng thang điểm Zarit Burden Interview (ZBI-22). Kết quả cho thấy điểm gánh nặng chăm sóc trung bình là 27,56 ± 12,68; trong đó 48,0% người chăm sóc có gánh nặng ở mức trung bình và 16,1% ở mức nghiêm trọng trở lên. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy, mối quan hệ vợ/chồng, là người chăm sóc duy nhất và sự phụ thuộc của người bệnh là các yếu tố liên quan làm gia tăng gánh nặng chăm sóc. Kết luận, người chăm sóc người bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối đang phải đối mặt với gánh nặng đáng kể và cần được hỗ trợ phù hợp trong chăm sóc toàn diện.</p>Ngô Thanh ThúyNguyễn Thị PhươngNguyễn Thị Thúy HồngCầm Bá Thức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205880281110.52852/tcncyh.v205i8.5196Tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2023
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5220
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang nhằm đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa năm 2023. Tổng cộng 300 người bệnh được tuyển chọn từ tháng 5 đến tháng 11/2023, mức độ tuân thủ được đánh giá bằng thang MMAS-8. Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc đạt 69,3%. Các hành vi không tuân thủ phổ biến là cảm thấy phiền phức khi điều trị (39,3%) và đôi khi quên dùng thuốc (32,7%). Phân tích đơn biến ghi nhận không tuân thủ chế độ ăn, số thuốc đái tháo đường trong đơn, phác đồ phối hợp thuốc uống–insulin và lo sợ biến chứng có liên quan đến không tuân thủ sử dụng thuốc (p < 0,05). Trong mô hình hồi quy logistic đa biến, chỉ còn không tuân thủ chế độ ăn ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê sau hiệu chỉnh. Nhìn chung, tuân thủ điều trị còn chưa tối ưu; cần triển khai can thiệp đa thành phần, tăng cường tư vấn cá thể hóa và hỗ trợ duy trì các hành vi tự quản lý bệnh.</p>Trương Khắc QuỳnhNguyễn Thị Phương AnhNguyễn Mỹ LanĐỗ Nguyên VũNguyễn Thị Mai
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205881282210.52852/tcncyh.v205i8.5220Mức độ tuân thủ điều trị thuốc chống loãng xương đường uống theo thang điểm GMAS ở phụ nữ sau mãn kinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5236
<p class="p1">Loãng xương là bệnh lý diễn biến âm thầm, thường được chẩn đoán muộn khi đã có gãy xương; điều trị kéo dài và chỉ đạt hiệu quả khi người bệnh tuân thủ điều trị. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ sử dụng thuốc điều trị loãng xương đường uống theo thang điểm GMAS và khảo sát một số yếu tố liên quan ở phụ nữ loãng xương nguyên phát sau mãn kinh điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 220 phụ nữ sau mãn kinh được chẩn đoán loãng xương nguyên phát theo tiêu chuẩn AACE 2020, đang điều trị bằng bisphosphonate đường uống. Tuân thủ điều trị được đánh giá bằng thang điểm GMAS gồm 11 mục, phân thành 4 mức độ. Kết quả cho thấy điểm GMAS trung bình là 23,12 ± 6,97, tương ứng mức tuân thủ trung bình; 62,27% người bệnh thuộc nhóm tuân thủ trung bình – kém. Hai nội dung có điểm trung bình cao nhất là “không chắc thời điểm/cách dùng thuốc” và “bỏ thuốc vì không hiểu cách dùng”. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy sống ở nông thôn, thời gian mãn kinh ≥ 10 năm, thời gian chẩn đoán loãng xương < 1 năm, gặp tác dụng không mong muốn và thời gian sử dụng thuốc < 6 tháng là các yếu tố liên quan độc lập với tuân thủ trung bình – kém. Cần tăng cường tư vấn, theo dõi và hỗ trợ người bệnh ngay từ giai đoạn khởi trị.</p>Nguyễn Thuỷ TiênĐỗ Thị Huyền TrangPhạm Hoài Thu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205882383110.52852/tcncyh.v205i8.5236Thực trạng tiêm vắc xin phòng HPV của nữ sinh viên y tại Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5241
<p class="p1">Tiêm vắc xin phòng HPV là phương pháp chủ động và dự phòng hiệu quả các bệnh do HPV gây ra ở nữ giới, đặc biệt là ung thư cổ tư cung. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 874 nữ sinh viên trường Đại học Y Hà Nội và trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai năm 2025 nhằm mô tả thực trạng tiêm vắc xin phòng HPV và một số yếu tố liên quan theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn. Kết quả cho thấy tỷ lệ nữ sinh viên đã tiêm ít nhất một mũi vắc xin là 35,8% và tỷ lệ tiêm đầy đủ 3 mũi là 27,9%. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến việc thực hành tiêm đủ 3 mũi vắc xin bao gồm: Năm học từ thứ hai trở lên, có kiến thức đạt và thái độ tích cực về vắc xin. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần thiết phải có can thiệp nhằm nâng cao thực hành tiêm vắc xin phòng HPV cho nữ sinh viên y, đội ngũ cán bộ y tế tương lai.</p>Phùng Quốc ĐiệpBùi Minh ThuLê Thị Thanh Xuân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205883284010.52852/tcncyh.v205i8.5241Học bổng ngoài ngân sách: Nhận thức và tác động trên sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội năm học 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5282
<p class="p1">Nghiên cứu về học bổng ngoài ngân sách (HBNNS) ở Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt trong nhóm sinh viên y dược. Nghiên cứu này nhằm mô tả nhận thức của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội về HBNNS và mô tả vai trò, tác động cảm nhận của HBNNS đối với sinh viên trong năm học 2024 – 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 194 sinh viên từ năm thứ 2 đến năm thứ 6 đã từng nhận HBNNS, sử dụng bộ câu hỏi tự điền trực tuyến. Kết quả cho thấy phần lớn sinh viên nhận diện được ít nhất hai hình thức học bổng hoặc hỗ trợ, nguồn thông tin chủ yếu đến từ nhà trường nhưng mức độ đầy đủ thông tin chưa đồng đều. HBNNS được sinh viên đánh giá tích cực ở các khía cạnh tài chính, động lực học tập, tinh thần và phát triển bản thân; điểm tác động cảm nhận trung bình đạt 3,43 ± 0,47/4. Điểm này cao hơn ở nhóm được cung cấp thông tin đầy đủ so với nhóm còn lại (3,48 so với 3,26; p = 0,004) và khác biệt theo khu vực gia đình sinh sống (p = 0,018). Kết quả nghiên cứu gợi ý HBNNS là một nguồn hỗ trợ đa chiều, có giá trị đối với cả học tập, tinh thần và sự phát triển của sinh viên.</p>Đào Thị NgoãnPhạm Tùng SơnNguyễn Thị NguyệtTrần Thị PhươngTô Thành Đồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205884185010.52852/tcncyh.v205i8.5282Phân tích chi phí-hiệu quả của các thuốc EGFR-TKI trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5284
<p class="p1">Phân tích chi phí-hiệu quả (CPHQ) của các thuốc ức chế Tyrosine Kinase (EGFR-TKI) trong điều trị bước 1 ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IV có đột biến <em>EGFR</em> dương tính. Mô hình sống sót phân vùng (PSM) kết hợp với cây quyết định được sử dụng để ước tính chi phí, hiệu quả (QALY) và chỉ số ICER của các thuốc EGFR-TKI. Phân tích độ nhạy một chiều (DSA) và xác suất (PSA) được thực hiện để đánh giá tính vững chắc của mô hình. Tổng chi phí (đã chiết khấu) của Erlotinib, Gefitinib, Afatinib, Osimertinib cho trạng thái PFS lần lượt là 190,0; 216,8; 420,3; 910,7 triệu VNĐ; tương ứng với 0,82; 0,85; 1,04; 1,41 QALY trên mỗi người bệnh. Gefitinib bị loại do thống trị mở rộng. So với Erlotinib, chỉ số ICER của Afatinib là 1,05 tỷ VNĐ/QALY và Osimertinib là 1,22 tỷ VNĐ/QALY. Phân tích PSA cho thấy tại ngưỡng sẵn sàng chi trả (WTP: 305,7 triệu VNĐ/QALY), Erlotinib có xác suất đạt CPHQ cao nhất (89,85%), Afatinib (10,15%), Osimertinib là 0%. Để đạt CPHQ, Osimertinib cần giảm giá tối thiểu 70%. Erlotinib là lựa chọn tối ưu về CPHQ tại ngưỡng WTP hiện tại. Thuốc thế hệ mới (Osimertinib) cần chiến lược giảm giá để tăng khả năng tiếp cận cho người bệnh.</p>Nguyễn Văn ChỉnhTrần Thị Thanh HươngPhạm Huy Tuấn Kiệt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205885186010.52852/tcncyh.v205i8.5284Thực trạng hoạt động thể lực và một số yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5351
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội thiếu hoạt động thể lực theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và phân tích một số yếu tố liên quan. Số liệu được thu thập từ 867 sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội sử dụng bảng câu hỏi hoạt động thể lực toàn cầu (GPAQ) năm 2025. Các yếu tố liên quan với tỷ lệ sinh viên thiếu hoạt động thể lực theo khuyến nghị được xác định bằng phân tích hồi quy logistic đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 35,2% sinh viên thiếu hoạt động thể lực theo khuyến nghị WHO trong đó tỷ lệ này ở sinh viên nữ là 43% cao hơn so với sinh viên nam là 24,7% (p < 0,05). Một số yếu tố liên quan bao gồm: giới tính (OR = 2,2), không tiếp xúc với bạn bè thường xuyên tập thể dục (OR = 1,5) và không dễ dàng tiếp cận với nơi tập thể dục thể thao tại nơi ở (OR = 1,6) làm tăng nguy cơ tới tình trạng thiếu hoạt động thể lực của sinh viên. Vì vậy, cần xây dựng các giải pháp can thiệp nhằm tăng cường hoạt động thể lực với sinh viên tại Trường Đại học Y Hà Nội.</p>Phạm Thị QuânLê Thị Thanh Xuân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205886186910.52852/tcncyh.v205i8.5351Kiểm soát huyết áp và yếu tố liên quan trên người bệnh ngoại trú tại tuyến y tế cơ sở
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5435
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả, đa trung tâm trên 1.419 người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại Vĩnh Yên, Hoàng Mai và Tam Điệp năm 2025 xác định tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu theo VNHA 2024 - 2025. Kết quả: tuổi trung bình 68,8 ± 9,2; tỷ lệ kiểm soát huyết áp chung 48,3%, gồm 75,7% ở nhóm không bệnh đồng mắc, 19,7% ở nhóm có bệnh đồng mắc. Đơn trị liệu chiếm ưu thế (71,4%), tỷ lệ dùng viên phối hợp còn thấp. Hồi quy đa biến xác định nam giới (aOR = 0,71, KTC 95%: 0,54 - 0,91), tăng huyết áp độ 2-3 (aOR = 0,54 - 0,59, KTC 95%: 0,39 - 0,89) và bệnh đồng mắc (aOR = 0,04 - 0,08, KTC 95%: 0,01 - 0,10) có liên quan độc lập với khả năng đạt đích thấp hơn (p < 0,05), bệnh đồng mắc vừa là yếu tố liên quan, vừa là tiêu chí phân loại ngưỡng đích. Ngược lại, tuân thủ thuốc (MMAS-8 – thang đo tuân thủ dùng thuốc Morisky 8 mục) có liên quan với khả năng đạt đích cao hơn (aOR = 1,43, KTC 95%: 1,02 – 2,00, p = 0,04). Nghiên cứu nhấn mạnh cần phối hợp thuốc sớm, nâng cao tuân thủ điều trị tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt ở nhóm có bệnh đồng mắc.</p>Hồ Thị Kim ThanhVũ Việt HằngTrần Thị Hương LýDương Thị Ngọc TâmNguyễn Thị ThanhĐỗ Nguyên VũBùi Trâm Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205887088010.52852/tcncyh.v205i8.5435Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai của học sinh Trường Trung học phổ thông Đan Phượng, Hà Nội năm 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5661
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 420 học sinh Trường Trung học phổ thông Đan Phượng, Hà Nội từ tháng 11 đến tháng 12/2024, nhằm xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh có kiến thức tốt còn thấp (9,3%) và tỷ lệ có thái độ tích cực chưa cao (18,9%). Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định các yếu tố liên quan độc lập đến kiến thức gồm khối học (AOR = 1,88; 95% CI: 1,09 – 3,24), tình trạng có người yêu (AOR = 4,23; 95% CI: 1,96 – 9,13), có bố làm việc trong khối nhà nước (AOR = 3,59; 95% CI: 1,38 – 9,32) và mẹ làm việc trong khối nhà nước (AOR = 3,23; 95% CI: 1,27 – 8,18). Các yếu tố liên quan độc lập đến thái độ tích cực gồm khối học (AOR = 1,64; 95% CI: 1,17 – 2,29), học lực (AOR = 1,89; 95% CI: 1,27 – 2,81), có bố làm việc trong khối nhà nước (AOR = 2,21; 95% CI: 1,22 – 4,02), mẹ làm việc trong khối nhà nước (AOR = 1,98; 95% CI: 1,10 – 3,58) và kiến thức tốt về biện pháp tránh thai (AOR = 2,67; 95% CI: 1,28 – 5,58). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường truyền thông - giáo dục về biện pháp tránh thai trong nhà trường, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường nhằm nâng cao kiến thức và thái độ về biện pháp tránh thai của học sinh.</p>Nguyễn Quí HuyNguyễn Thị Phương OanhBùi Minh ThuNguyễn Quốc Khánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205888189010.52852/tcncyh.v205i8.5661Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo rào cản tiêm vắc xin COVID-19 liều tăng cường trong bối cảnh hậu đại dịch
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5992
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 405 người trưởng thành đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Xương năm 2024, chọn mẫu thuận tiện và phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc nhằm đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo rào cản tiêm vắc xin COVID-19 liều tăng cường. Thang đo được đánh giá bằng EFA, CFA và hệ số Cronbach’s alpha. Kết quả cho thấy KMO = 0,853, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Thang đo gồm hai nhân tố: (1) lo ngại về tính an toàn và tác dụng phụ của vắc xin và (2) cảm nhận không cần thiết tiêm liều tăng cường; hai biến “COVID-19 hiện không còn là mối đe dọa nghiêm trọng” và “Tôi sợ tiêm vắc xin COVID-19” bị loại do tải chéo trong EFA. Mô hình CFA sau hiệu chỉnh đạt độ phù hợp tốt. Cronbach’s alpha đạt 0,84 – 0,95, khẳng định thang đo có độ tin cậy và giá trị tốt. Thang đo có thể sử dụng để đánh giá rào cản tiêm vắc xin COVID-19 liều tăng cường ở các quần thể tương đồng.</p>Nguyễn Văn ThànhPhạm Thị Vân AnhNguyễn Tất CươngBùi Huyền TrangĐặng Thị Ngọc MaiNguyễn Thị ThuýTrần Hà LinhLê Thị Thanh Xuân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205889190110.52852/tcncyh.v205i8.5992Kết quả bước đầu ghép gan từ người hiến sống trong điều trị u nguyên bào gan trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5459
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu mô tả 4 bệnh nhi u nguyên bào gan được ghép gan từ người hiến sống tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 5/2021-10/2024, độ tuổi dao động 17-33 tháng; chức năng gan nền còn bảo tồn với điểm PELD từ -7 đến 1, khối u thuộc POSTTEXT III–IV hoặc tái phát sau cắt gan, không còn khả năng cắt bỏ triệt căn. Tất cả bệnh nhi được ghép mảnh gan trái từ người hiến sống có quan hệ huyết thống, GRWR 1,6% – 2,6%. Phẫu thuật đòi hỏi cá thể hóa tái tạo mạch máu do giải phẫu phức tạp và khẩu kính mạch nhỏ. Sau ghép, chức năng mảnh ghép phục hồi thuận lợi, các biến chứng ngoại khoa được kiểm soát bằng phẫu thuật hoặc can thiệp. Sau 18 - 58 tháng, 3 bệnh nhi sống ổn định; 1 bệnh nhi tử vong sau 10 tháng do tái phát và di căn đa ổ. Nghiên cứu bước đầu cho thấy tính khả thi của ghép gan từ người hiến sống ở bệnh nhi u nguyên bào gan, cần có các nghiên cứu với cỡ mẫu và thời gian theo dõi dài hơn.</p>Phạm Duy HiềnVũ Mạnh HoànTrần Anh QuỳnhNguyễn Lý Thịnh TrườngNguyễn Phạm Anh HoaBùi Ngọc Lan LanĐặng Ánh DươngThiều Tăng ThắngTrần Minh ĐiểnTrần Đức TâmNguyễn Thọ Anh Trần Xuân NamPhạm Thị Hải YếnNguyễn Công SơnHồ Tuấn HoàngĐỗ Văn KhangPhan Hồng Long
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205890291010.52852/tcncyh.v205i8.5459Mucolipidosis típ II lần đầu được chẩn đoán tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5469
<p class="p1">Mucolipidosis típ II (MLII) thuộc nhóm bệnh rối loạn tích tụ lysosome hiếm gặp, do đột biến gen GNPTAB nằm trên nhiễm sắc thể 12q23.2 gây ra. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện nhằm mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và biến thể di truyền trên trẻ mắc MLII được chẩn đoán tại bệnh viện Nhi Trung ương. Qua khảo sát cho thấy 100% trẻ biểu hiện các triệu chứng điển hình bao gồm: tầm vóc rất thấp, bộ mặt thô, hạn chế vận động khớp, nhiễm trùng hô hấp tái phát; một số trường hợp ghi nhận biến chứng tim mạch và thoát vị. Các xét nghiệm cho thấy sự gia tăng nồng độ enzyme trong huyết thanh và glycosaminoglycan (GAGs) trong nước tiểu trên các trẻ được khảo sát. Nghiên cứu khẳng định giá trị của việc kết hợp triệu chứng lâm sàng điển hình và xét nghiệm di truyền trong chẩn đoán xác định MLII. Việc phát hiện các biến thể mới góp phần làm phong phú dữ liệu di truyền học và hỗ trợ tư vấn di truyền, chẩn đoán trước sinh cho các gia đình có nguy cơ.</p>Nguyễn Thị Trà MyVũ Chí DũngVũ Thị HuyềnCấn Thị Bích Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205891191810.52852/tcncyh.v205i8.5469Báo cáo ca bệnh: Hội chứng Fanconi ở trẻ mắc cystinosis liên quan đến biến thể mới của gen CTNS
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5507
<p class="p1">Cystinosis là rối loạn chuyển hóa hiếm, di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi tích tụ cystine trong lysosome tại nhiều cơ quan. Chúng tôi báo cáo một trường hợp cystinosis gây hội chứng Fanconi liên quan đến biến thể mới của gen <em>CTNS</em>. Trẻ nữ, dân tộc H’Mông, có tiền sử chậm phát triển vận động (2 tuổi mới ngồi vững, 3 tuổi mới đứng và đi hạn chế). Khi 5 tuổi, trẻ nhập viện vì viêm phổi kèm suy dinh dưỡng nặng (cân nặng và chiều cao < -3SD). Xét nghiệm ghi nhận hạ phospho máu, hạ canxi máu, hạ kali máu, toan chuyển hóa với khoảng trống anion bình thường và tăng clo máu. Nước tiểu có protein niệu, glucose niệu dương tính, pH > 5,5, phù hợp với hội chứng Fanconi. Bệnh nhi đồng thời có suy giáp (T3, FT4 giảm). Phân tích di truyền phát hiện biến thể đồng hợp tử trên gen <em>CTNS</em> (NM_004937.3:c.664C>T; p.Gln222Ter), là đột biến vô nghĩa gây kết thúc sớm dịch mã, đây là biến thể mới chưa được báo cáo. Cystinosis cần được nghĩ đến ở trẻ có hội chứng Fanconi kèm tổn thương đa cơ quan. Xét nghiệm di truyền có vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác định, đặc biệt trong các trường hợp không điển hình. Việc phát hiện biến thể mới góp phần mở rộng phổ đột biến của gen <em>CTNS</em> và hỗ trợ chẩn đoán, tư vấn di truyền.</p>Lương Thị PhượngNguyễn Ngọc HuyNguyễn Thu Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205891992610.52852/tcncyh.v205i8.5507Phối hợp phong bế đa thần kinh ngoại vi với gây mê mask thanh quản cho bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng nguy cơ rất cao: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5620
<p class="p1">Thay khớp háng ở bệnh nhân tăng áp động mạch phổi nặng, suy tim và bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ là thách thức gây lớn do nguy cơ tử vong cao cả khi gây mê toàn thân hoặc tê tủy sống. Chúng tôi báo cáo bệnh nhân nam 64 tuổi, 50 kg, ASA IV, gãy cổ xương đùi phải, phân số tống máu thất trái 31%, phân số thay đổi diện tích thất phải 28%, áp lực động mạch phổi tâm thu 79 mmHg, bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ. Mổ thay khớp háng toàn bộ đường sau-bên. Chiến lược vô cảm tránh hoàn toàn tê trục thần kinh; thay bằng phối hợp bốn phong bế thần kinh ngoại biên dưới siêu âm (thần kinh đùi, bịt nhánh trước và sau, bì đùi ngoài, mặt phẳng cơ dựng sống cùng) bằng 110mg ropivacaine 0,25% pha dexamethasone, kết hợp mê toàn thân mask thanh quản theo BIS, noradrenaline dự phòng và sugammadex. Huyết động ổn định, hậu phẫu tỉnh tốt, VAS 1/10 trong 12 giờ, không cần opioid bổ sung. Đây là chiến lược vô cảm khả thi và an toàn cho bệnh nhân nguy cơ cao.</p>Hoàng Văn TuấnNguyễn Toàn ThắngNguyễn Duy ThanhHồ Sỹ HảiNguyễn Phương QuỳnhNguyễn Văn Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205892793410.52852/tcncyh.v205i8.5620Viêm phổi hoại tử và giãn phế quản lan tỏa có biến thể dị hợp tử CFTR c.4056G>C: Báo cáo ca bệnh hiếm gặp ở trẻ em Việt Nam
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5724
<p class="p1">Xơ nang (Cystic Fibrosis, CF) là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường do các đột biến gây bệnh ở gen CFTR, rất hiếm gặp ở các nước Châu Á trong đó có Việt Nam. Biểu hiện của bệnh thường bao gồm nhiễm trùng hô hấp tái diễn, viêm phế quản mạn tính và giãn phế quản tiến triển; trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể xuất hiện các biến chứng nặng như viêm phổi hoại tử hoặc áp xe phổi. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ nam 4 tuổi nhập viện với biểu hiện viêm phổi nặng kèm nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính ngực ghi nhận hình ảnh viêm phổi hoại tử và giãn phế quản lan tỏa 2 bên. Tiếp cận tìm nguyên nhân giãn phế quản khởi phát sớm, chúng tôi phát hiện biến thể dị hợp tử CFTR c.4056G>C (p.Gln1352His), gợi ý khả năng rối loạn liên quan tới bệnh xơ nang không điển hình. Ca bệnh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm kiếm bệnh lý nền ở trẻ có viêm phổi nặng kèm giãn phế quản xuất hiện sớm, đồng thời cho thấy vai trò của các thăm dò di truyền trong tiếp cận chẩn đoán căn nguyên giãn phế quản tại những quốc gia có tỷ lệ lưu hành CF thấp.</p>Lê Đức QuangLê Thị Hồng HanhTrịnh Thị DungPhạm Thu Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205893594310.52852/tcncyh.v205i8.5724Cường giáp không liên quan đến cơ chế tự miễn do đột biến hoạt hóa gen TSHR: Báo cáo ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5726
<p class="p1">Cường giáp không liên quan đến cơ chế tự miễn (non-autoimmune hyperthyroidism, NAH) là bệnh lý hiếm gặp do các đột biến hoạt hóa gen mã hóa thụ thể hormone kích thích tuyến giáp (TSHR). Phần lớn các dữ liệu hiện nay về bệnh chủ yếu đến từ các báo cáo ca bệnh và các nghiên cứu với cỡ mẫu nhỏ do số lượng người bệnh được ghi nhận trên thế giới còn hạn chế. Chúng tôi báo cáo trường hợp trẻ nữ 2 tuổi xuất hiện lồi mắt từ 7 tháng tuổi, sau đó xuất hiện run đầu chi, nhịp tim nhanh và tăng cân kém. Xét nghiệm cho thấy cường giáp rõ với TSH < 0,005 mIU/L, FT4 > 100 pmol/L và T3: 9,31 nmol/L, trong khi các kháng thể tự miễn tuyến giáp đều âm tính. Tiền sử gia đình ghi nhận nhiều thành viên mắc cường giáp qua nhiều thế hệ, gợi ý kiểu di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Phân tích di truyền phát hiện biến thể dị hợp tử c.1514G>A (p.Ser505Asn) trên gen TSHR, được phân loại là biến thể có khả năng gây bệnh. Người bệnh được điều trị bằng methimazole và propranolol, đáp ứng tốt với cải thiện triệu chứng lâm sàng và các chỉ số chức năng tuyến giáp sau 15 tháng theo dõi. Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hướng tới nguyên nhân di truyền ở trẻ có biểu hiện cường giáp khởi phát sớm, đặc biệt khi các xét nghiệm tự miễn âm tính và có tiền sử gia đình phù hợp.</p>Nguyễn Hoàng LanVũ Chí Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205894495010.52852/tcncyh.v205i8.5726Viêm mũi xoang thai kỳ: Tổng quan tường thuật về chẩn đoán phân biệt và an toàn điều trị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5565
<p class="p1">Nghẹt mũi khi mang thai có cơ chế đa dạng gồm viêm mũi thai kỳ, viêm mũi dị ứng và viêm mũi xoang nhiễm khuẩn; phân biệt ba thực thể này quan trọng để chọn điều trị nhưng thiếu hướng dẫn cụ thể tại Việt Nam. Tổng quan này tổng hợp bằng chứng về dự đoán, hiệu quả và an toàn các biện pháp điều trị viêm mũi xoang ở phụ nữ mang thai, theo phương pháp tổng quan tường thuật theo SANRA, tìm kiếm hệ thống trên PubMed, Cochrane và Embase, đánh giá chất lượng theo GRADE. 38 nghiên cứu đủ tiêu chuẩn được đưa vào phân tích với chứng cứ từ thấp đến trung bình. Dấu hiệu gợi ý nhiễm khuẩn đáng tin cậy nhất gồm dịch mủ, đau vùng mặt, giảm khứu giác và triệu chứng kéo dài > 10 ngày. Nước muối và budesonide có hồ sơ an toàn tốt nhất trong thai kỳ. Kháng sinh chỉ nên dùng khi có bằng chứng nhiễm khuẩn. Viêm mũi xoang ở thai phụ cần đánh giá có hệ thống, điều trị theo thang bậc và dữ liệu tiến cứu tại Việt Nam để xây dựng hướng dẫn thực hành.</p>Nguyễn Thị Phương ThảoKryukov Andrei Ivanovich
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205895196010.52852/tcncyh.v205i8.5565Hiệu quả can thiệp dinh dưỡng cho ung thư vòm mũi họng: Tổng quan và phân tích meta
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5688
<p class="p1">Suy dinh dưỡng xảy ra ở 53,6 – 80,5% bệnh nhân ung thư vòm mũi họng trong hóa xạ trị, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả điều trị. Bằng chứng về hiệu quả can thiệp dinh dưỡng đặc thù cho nhóm này còn hạn chế cần có đánh giá hệ thống hiệu quả can thiệp dinh dưỡng lên kết cục điều trị và chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân trên. Tổng quan này tiến hành theo PRISMA 2020 (PROSPERO: CRD42022366089), tìm kiếm 6 cơ sở dữ liệu. Phân tích 10 RCT (n = 879) và 4 nghiên cứu phi-RCT; đánh giá sai lệch bằng ROB2.0, NOS, NHLBI; mức bằng chứng theo GRADE. Can thiệp dinh dưỡng cải thiện có ý nghĩa prealbumin (SMD = 0,256; p = 0,032), hemoglobin, lymphocyte (SMD = 1,125; p < 0,001) và giảm 25% viêm niêm mạc miệng. Albumin và BMI cải thiện rõ ở nhóm ≥ 70 Gy. PG-SGA > 3 kết hợp NLR ≥ 3 liên quan nguy cơ tử vong tăng 4,43 lần. Can thiệp dinh dưỡng toàn diện cải thiện dinh dưỡng, giảm độc tính và nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân trên. Khuyến nghị sàng lọc PG-SGA định kỳ, đặc biệt ở nhóm liều ≥ 70 Gy.</p>Vũ Quang HuyNguyễn Công HoàngTrương Thị Thùy DươngTạ Phương ThuýNguyễn Thị Phương Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205896197410.52852/tcncyh.v205i8.5688Tình trạng thiếu 25-hydroxyvitamin D và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ loãng xương nguyên phát tại Bệnh viện Hữu Nghị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/6145
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả thực trạng 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] huyết thanh và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu 25(OH)D ở phụ nữ loãng xương nguyên phát. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 203 phụ nữ loãng xương nguyên phát tại Bệnh viện Hữu Nghị. Thiếu 25(OH)D được xác định theo ngưỡng < 30 ng/mL, các yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic đa biến. Kết quả cho thấy nồng độ 25(OH)D trung bình là 25,48 ± 7,76 ng/mL, tỷ lệ thiếu 25(OH)D là 72,4% (147/203). Trong nhóm đang điều trị loãng xương, tỷ lệ này là 70,7% (70/99). Sau hiệu chỉnh đa biến, tiếp xúc ánh nắng dưới 3 ngày/tuần (tỷ suất chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio – aOR) = 2,74) và diện tích da tiếp xúc chỉ gồm mặt và bàn tay (aOR = 3,91) là hai yếu tố liên quan độc lập với thiếu 25(OH)D. Kết quả cho thấy thiếu 25(OH)D là tình trạng phổ biến ở phụ nữ loãng xương nguyên phát, kể cả nhóm đang được điều trị. Thực tế này cho thấy việc đánh giá nguy cơ, xét nghiệm 25(OH)D huyết thanh, phân loại mức độ thiếu, tư vấn bổ sung vitamin D và tắm nắng là cần thiết trong điều trị loãng xương nguyên phát.</p>Nguyễn Thị Thu HằngNgọ Thị ThảoNguyễn Văn Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205897598410.52852/tcncyh.v205i8.6145Căn nguyên và mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn thường gặp gây nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương giai đoạn 2022 - 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/6149
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả trên 422 người bệnh cấy máu vi khuẩn dương tính tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (2022-2024), so sánh căn nguyên và mức độ kháng kháng sinh giữa nhóm mắc phải tại cộng đồng (CAI, n = 287) và mắc phải tại bệnh viện (HAI, n = 135). Trong 425 chủng phân lập được, vi khuẩn Gram âm chiếm 59,8%, cao hơn ở HAI (67,9% so với 55,9%; p = 0,020). Ba căn nguyên hàng đầu là <em>E. coli</em> (22,8%), <em>S. aureus</em> (18,4%) và <em>K. pneumoniae</em> (14,8%). S. suis và B. pseudomallei chỉ gặp ở CAI, còn <em>A. baumannii</em> và <em>P. aeruginosa</em> tập trung ở HAI. Tỷ lệ E. coli kháng cephalosporin thế hệ 3 (62,9%) và tỷ lệ MRSA (74,4%) đều cao, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm khuẩn cộng đồng và nhiễm khuẩn bệnh viện. Ngược lại <em>K. pneumoniae</em> kháng cephalosporin thế hệ 3 và đa kháng cao hơn ở HAI (61,9% so với 7,5% và 57,1% so với 14,3%; p < 0,001). Tử vong chung 20,6%, cao hơn ở HAI (32,6% so với 15,0%; p < 0,001).</p>Nguyễn Quốc PhươngPhạm Ngọc ThạchTrần Văn Giang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-25205898599610.52852/tcncyh.v205i8.6149Đặc điểm X-quang và tỷ lệ hiện diện răng hàm lớn thứ ba trên phim panorama ở học sinh lớp 11 trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5832
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm x-quang và tỷ lệ hiện diện của răng hàm lớn thứ ba trên phim panorama ở học sinh lớp 11 trường trung học phổ thông, tỉnh Bắc Ninh năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 133 học sinh 16 - 17 tuổi, được lựa chọn từ danh sách học sinh đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Tất cả đối tượng được khám lâm sàng và chụp phim panorama kỹ thuật số để đánh giá sự hiện diện của răng hàm lớn thứ ba, độ sâu, tương quan với ngành lên xương hàm dưới và hướng mọc theo phân loại Archer, Pell & Gregory và Winter. Tỷ lệ hiện diện răng hàm lớn thứ ba trên lâm sàng là 31,77%. Răng hàm lớn thứ ba hàm dưới có tỷ lệ hiện diện cao hơn hàm trên (49,62% – 53,38% so với 11,28% – 12,78%). Ở hàm trên, phân loại Archer loại C chiếm ưu thế (78,6%). Ở hàm dưới, vị trí B theo Pell & Gregory chiếm 55,51%, loại II chiếm 67,35%. Theo phân loại Winter, mọc thẳng và lệch gần là hai dạng phổ biến nhất với tỷ lệ lần lượt 45,31% và 45,71%. Kết quả cho thấy ở học sinh 16 – 17 tuổi, răng hàm lớn thứ ba hàm dưới có tỷ lệ xuất hiện cao hơn răng hàm lớn thứ ba hàm trên, phần lớn răng hàm lớn thứ ba vẫn chưa hoàn tất quá trình mọc và có vị trí, hướng mọc cần tiếp tục được theo dõi.</p>Phạm Như HảiLưu Thanh HảiChử Tiến MạnhHoàng Thị Quỳnh Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-08-252026-08-252058997100510.52852/tcncyh.v205i8.5832