Tạp chí Nghiên cứu Y học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh
Trường Đại Học Y Hà Nộivi-VNTạp chí Nghiên cứu Y học2354-080XNghiên cứu giá trị nội soi nhuộm màu liên kết trong chẩn đoán dị sản ruột ở người bệnh viêm dạ dày mạn tính
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4343
<p class="p1"><em>Khảo sát hình ảnh nội soi và tỷ lệ dị sản ruột ở người bệnh viêm dạ dày mạn tính và giá trị của nội soi nhuộm màu liên kết (Linked Color Imaging - LCI) trong chẩn đoán dị sản ruột. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 258 người bệnh cho kết quả nhóm từ 60 tuổi trở lên chiếm 51,9%, nam giới chiếm 41,5%. Tỷ lệ phát hiện dị sản ruột trên mô bệnh học là 68,22%. Nội soi LCI cho thấy tỷ lệ dương tính thật cao với 162/258 bệnh nhân (92,05%) và âm tính giả thấp, chỉ có 14/258 bệnh nhân (7,95%). Tuy nhiên, số trường hợp dương tính giả vẫn còn đáng kể (37,8%). Độ nhạy của phương pháp đạt 92%, độ đặc hiệu 62,2%, giá trị tiên đoán dương tính 83,9%, giá trị tiên đoán âm tính 78,5%, độ chính xác 82,6%. </em></p>Đỗ Quang KhánhPhạm Thị Phương ThanhNguyễn Thị Thanh TâmĐào Viết QuânLê Quang HưngĐào Việt HằngThái Doãn Kỳ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-2819811810.52852/tcncyh.v198i1.4343Kết quả điều trị sơ bộ viêm tuyến giáp bán cấp ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4314
<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị sơ bộ của người bệnh viêm tuyến giáp bán cấp ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu quan sát trên 41 bệnh nhân viêm tuyến giáp bán cấp được điều trị sau 8 - 12 tuần. Kết quả thu được tuổi trung bình là 43,7 ± 8,9, nữ/nam là 4,1/1. Sau 2 - 4 tuần điều trị, các biểu hiện đau vùng tuyến giáp, viêm, nhiễm độc giáp lâm sàng và cận lâm sàng cải thiện rõ rệt. Tất cả bệnh nhân dùng NSAID (Meloxicam) vẫn đau vùng cổ sau điều trị 2 - 4 tuần. Nhóm bệnh nhân dùng methylprednisolon có tỷ lệ hết đau cổ nhiều hơn so với nhóm bệnh nhân dùng meloxicam (p = 0,000). Sau 1 đợt điều trị tỷ lệ nhiễm độc giáp còn 4,9%, bình giáp là 85,3% và 9,8% suy giáp. Kết luận, viêm tuyến giáp bán cấp thường gặp ở lứa tuổi trung niên, bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam. Bệnh nhân điều trị bằng thuốc kháng viêm steroid giảm triệu chứng nhanh hơn thuốc kháng viêm không steroid. Tỷ lệ lui bệnh và suy giáp sau đợt điều trị lần lượt là 80,5%; 9,8%.</em></p>Nguyễn Thị Kim ChiVũ Bích Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198191410.52852/tcncyh.v198i1.4314Tỷ lệ tái nhập viện không theo kế hoạch sau can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4327
<p class="p1"><em>Can thiệp động mạch vành qua da (PCI) là phương pháp điều trị hiệu quả bệnh động mạch vành, giúp cải thiện triệu chứng và giảm biến chứng tim mạch. Tuy nhiên, tái nhập viện không theo kế hoạch sau PCI vẫn là thách thức trong lâm sàng và phản ánh chất lượng chăm sóc. Nghiên cứu hồi cứu trên 341 hồ sơ người bệnh PCI tại Trung tâm Tim mạch - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội 6 tháng cuối năm 2024, xử lý dữ liệu bằng SPSS 20.0 với thống kê mô tả và kiểm định so sánh. Kết quả: tỷ lệ tái nhập viện 14,4%, trong đó 61,2% không theo kế hoạch (8,7% tổng số người bệnh). Phần lớn xảy ra trong 8 - 90 ngày sau xuất viện, chủ yếu do triệu chứng tim mạch (55,1%), đặc biệt đau thắt ngực tái phát và các bệnh nội khoa toàn thân. Các yếu tố liên quan gồm rối loạn lipid máu, chẩn đoán hội chứng vành cấp. Nghiên cứu nhấn mạnh cần theo dõi sát sau xuất viện, kiểm soát yếu tố nguy cơ và tăng cường giáo dục sức khỏe nhằm giảm tái nhập viện không theo kế hoạch sau PCI.</em></p>Ngô Hà MyNguyễn Thị SơnTrịnh Thị Thanh Tuyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981152210.52852/tcncyh.v198i1.4327Kết quả sớm phẫu thuật nội soi cắt túi mật sau dẫn lưu điều trị viêm túi mật cấp nặng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4341
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả loạt ca gồm 14 bệnh nhân viêm túi mật cấp được điều trị dẫn lưu túi mật cấp cứu và phẫu thuật nội soi cắt túi mật trong cùng đợt nằm viện hoặc tái khám khi tình trạng ổn định, tiến hành tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2020 đến 2025. Dẫn lưu túi mật giúp cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng như sốt, đau bụng và các chỉ số nhiễm trùng, rối loạn chức năng cơ quan. Sau dẫn lưu, tất cả bệnh nhân đều được phẫu thuật nội soi cắt túi mật, chỉ có 1 trường hợp phải chuyển mổ mở, không ghi nhận tai biến trong mổ, biến chứng sau mổ gặp ở 1 bệnh nhân bị chảy máu sau rút dẫn lưu ổ bụng cần can thiệp nút mạch. Thời gian nằm viện trung bình sau phẫu thuật là 5 ngày. Kết quả cho thấy phương pháp dẫn lưu túi mật cấp cứu là lựa chọn điều trị khởi đầu hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân viêm túi mật cấp mức độ nặng hoặc trung bình và có bệnh lý phối hợp chống chỉ định gây mê, giúp cải thiện tình trạng toàn thân trước khi tiến hành phẫu thuật nội soi cắt túi mật, đảm bảo tính khả thi và an toàn của cuộc mổ.</em></p>Trần Bảo LongLê Tuấn LinhTrịnh Quốc ĐạtNguyễn HoàngNguyễn Đức Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981233010.52852/tcncyh.v198i1.4341Tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến tổn thương thận cấp (AKI) trong 7 ngày đầu sau phẫu thuật tim mở sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể ngoại vi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4360
<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu, mô tả này được thiết kế nhằm xác định tỷ lệ mắc và các yếu tố tiên lượng của tổn thương thận cấp (AKI), được định nghĩa theo tiêu chuẩn KDIGO, trong vòng 7 ngày hậu phẫu ở nhóm bệnh nhân phẫu thuật tim có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể qua đường ngoại vi. Nghiên cứu được tiến hành trên 84 hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, thu thập dữ liệu từ 1/2021 đến 6/2025. Chẩn đoán AKI được thực hiện dựa trên các tiêu chí KDIGO 2012. Phân tích thống kê sử dụng kiểm định T-student, Chi-squared và hồi quy Logistic đa biến để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc AKI là 51,2% (43/84 bệnh nhân). Phân loại theo mức độ nghiêm trọng, tỷ lệ AKI độ I, II, và III lần lượt là 20,2%, 20,2% và 10,8%. Phân tích hồi quy logistic đa biến đã chỉ ra bốn yếu tố nguy cơ độc lập có ý nghĩa thống kê: Tuổi > 60 (OR = 2,8, 95% CI: 1,3 - 6,0, p = 0,008), thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài > 120 phút (OR = 3,5, 95% CI: 1,6 - 7,6, p = 0,001). Sử dụng canuyn nách (OR = 2,2, 95% CI: 1,1 - 4,4, p = 0,03) và creatinine nền > 1,0 mg/dL (OR = 1,9, 95% CI: 1,0 - 3,6, p = 0,045). Kết cục lâm sàng cho thấy tỷ lệ tử vong chung là 6% và nhu cầu lọc máu là 7%, với tỷ lệ tử vong tăng đáng kể ở nhóm AKI độ III (22,22%, p < 0,05). Tóm lại, AKI là một biến chứng thường gặp sau phẫu thuật tim có THNCT ngoại vi. Việc nhận diện sớm các yếu tố tiên lượng như tuổi cao, thời gian chạy máy kéo dài, phương thức canuyn nách và suy giảm chức năng thận tiền phẫu là cần thiết để tối ưu hóa chiến lược dự phòng và quản lý, từ đó cải thiện kết cục hậu phẫu cho bệnh nhân.</em></p>Đặng Văn KhánhNguyễn Ngọc PhướcLưu Xuân VõVũ Ngọc Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981314010.52852/tcncyh.v198i1.4360Vai trò của nhuộm hóa mô miễn dịch CK(AE1/AE3) trong phát hiện hạch di căn kín đáo ung thư biểu mô tuyến dạ dày
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4486
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá vai trò của nhuộm hóa mô miễn dịch với CK(AE1/AE3) trong phát hiện di căn kín đáo hạch chặng D2 trên người bệnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày được phẫu thuật triệt căn tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1 đến tháng 12/2024. Nghiên cứu được thực hiện trên 3072 hạch của 110 người bệnh, nhuộm hóa mô miễn dịch phát hiện thêm 108 hạch di căn kín đáo chiếm 3,5% tổng số hạch nghiên cứu so với nhuộm Hematoxylin & Eosin (H&E), làm tăng thêm 12,7% người bệnh có di căn kín đáo và 10,9% người bệnh có thể được phân loại lại giai đoạn pN (pathological N stage- Giai đoạn hạch bạch huyết theo mô bệnh học). Tỷ lệ hạch di căn kín đáo tăng dần theo giai đoạn pT (pT1-pT4) với p < 0,001. Kích thước u > 30mm có tỷ lệ hạch di căn kín đáo cao hơn đáng kể so với u ≤ 30mm (p = 0,0025). Kết luận: Việc sử dụng hóa mô miễn dịch với kháng nguyên CK(AE1/AE3) giúp cải thiện đáng kể khả năng phát hiện di căn kín đáo hạch D2 ở người bệnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày so với nhuộm H&E thường quy (McNemar, p < 0,01). Đồng thời, phương pháp này có thể góp phần đánh giá giai đoạn pN, hạn chế nguy cơ bỏ sót các trường hợp có chỉ định điều trị bổ trợ sau phẫu thuật. Tỷ lệ hạch di căn kín đáo tăng lên theo giai đoạn T của u (p < 0,001) và theo kích thước của khối u nguyên phát (p = 0,025). Những kết quả này gợi ý rằng việc bổ sung nhuộm CK(AE1/AE3) có thể hữu ích ở các trường hợp ung thư biểu mô tuyến dạ dày giai đoạn muộn, kích thước khối u lớn (> 30mm), chưa phát hiện di căn hạch trên H&E nhằm hạn chế bỏ sót di căn kín đáo.</em></p>Trần Minh NgọcĐỗ Thị Thanh HuyềnĐặng Đức Thịnh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981415010.52852/tcncyh.v198i1.4486Tiếp cận đa chiều chẩn đoán u nguyên bào thần kinh từ một trường hợp đau khớp tái diễn ở trẻ nhỏ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4427
<p class="p1"><em>U nguyên bào thần kinh (UNBTK) là một trong những loại u đặc phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi, nhưng thường bị chẩn đoán muộn do biểu hiện không đặc hiệu. Chúng tôi báo cáo trường hợp trẻ nam 35 tháng tuổi khởi phát với sốt và đau cổ chân tái diễn trong 4 tháng, ban đầu được điều trị theo hướng viêm khớp do căn nguyên thường gặp. Tiếp cận dựa trên theo dõi sát diễn tiến lâm sàng và cận lâm sàng, nhờ vậy phát hiện một số bất thường huyết học thoáng qua kết hợp với triệu chứng kéo dài không đáp ứng điều trị đã gợi ý khả năng bệnh lý ác tính. Tủy đồ, hóa mô miễn dịch và chẩn đoán hình ảnh xác định u nguyên bào thần kinh giai đoạn di căn tủy xương. Trường hợp này cho thấy giá trị của việc duy trì nghi ngờ lâm sàng hợp lý và tiếp cận đa chiều trong đánh giá các biểu hiện đau khớp không điển hình ở trẻ nhỏ. Theo dõi sát và mở rộng chẩn đoán đúng thời điểm giúp phát hiện sớm các bệnh lý ác tính và cải thiện tiên lượng cho người bệnh.</em></p>Trần Thị Trang AnhĐỗ Quang HuyHoàng Thị NhungNguyễn Thành Nam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981516310.52852/tcncyh.v198i1.4427Loét dạ dày tá tràng không nhiễm Helicobacter Pylori ở trẻ em: Đặc điểm bệnh học và biến chứng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4264
<p class="p1"><em>Loét dạ dày tá tràng không nhiễm Helicobacter pylori ở trẻ em ngày càng được ghi nhận, nhưng đặc điểm bệnh học và biến chứng chưa được mô tả đầy đủ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 127 trẻ loét dạ dày tá tràng không nhiễm H. pylori tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 10/2022 đến 9/2024. Tuổi trung bình 10,3 ± 2,8 năm; trẻ trai chiếm 68,5%. Đau bụng là triệu chứng thường gặp nhất (83,5%) nhưng biểu hiện không điển hình. Loét chủ yếu ở hành tá tràng - tá tràng (89,8%), với tỷ lệ loét đa ổ (30,7%), loét khổng lồ (31,5%) và loét đáy sâu (53,5%). Giải phẫu bệnh cho thấy viêm mạn tính mức độ nhẹ - vừa chiếm đa số, hoạt động viêm nhẹ, và 27,6% có tăng bạch cầu ái toan. Biến chứng thường gặp nhất là thiếu máu, khoảng 30% cần truyền máu; gần một nửa có biến dạng tá tràng, 6 trường hợp phải phẫu thuật. Loét dạ dày tá tràng không nhiễm H. pylori ở trẻ em có đặc điểm bệnh học đa dạng, dễ biến chứng, đòi hỏi theo dõi chặt chẽ và điều trị thích hợp.</em></p>Chu Thị Phương MaiTrần Thị Huyền TrangĐỗ Thị Minh PhươngNguyễn Văn TìnhNguyễn Thị Việt Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981647210.52852/tcncyh.v198i1.4264Tiêu cơ vân cấp – biến chứng hiếm gặp ở hai bệnh nhi mắc viêm não tự miễn kháng thụ thể N-Methyl-D-Aspartate
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4263
<p class="p1"><em>Chúng tôi báo cáo hai trường hợp bệnh nhi mắc viêm não tự miễn kháng thụ thể N-methyl-D-aspartate (NMDA) có biến chứng tiêu cơ vân cấp. Trường hợp thứ nhất là bệnh nhi nữ 10 tuổi khởi phát bệnh với triệu chứng suy giảm tri giác, rối loạn hành vi và rối loạn vận động. Trẻ được điều trị bằng methylprednisolon liều cao, immunoglobulin và risperidon. Bệnh nhi xuất hiện tiêu cơ vân cấp sau 7 ngày nhập viện với creatine kinase huyết thanh đạt 56 247 U/L kèm nhiễm khuẩn tiết niệu và đáp ứng tốt với bù dịch tích cực, kiềm hóa nước tiểu, kiểm soát rối loạn vận động bằng benzodiazepin. Sau 6 tháng, bệnh nhi hồi phục một phần với mRS 3 điểm. Trường hợp thứ hai là bệnh nhi nam 9 tuổi, khởi phát triệu chứng rối loạn vận động, co giật. Bệnh nhi được điều trị bằng methylprednisolon và xuất hiện tiêu cơ vân cấp nặng với creatine kinase là 215.000 U/L kèm sốc nhiễm trùng và suy thận cấp, phải lọc máu liên tục. Chức năng thận hồi phục sau điều trị, nhưng bệnh nhi còn di chứng thần kinh (mRS 3 điểm sau 5 năm). Hai ca bệnh cho thấy tiêu cơ vân cấp là biến chứng nặng trong bệnh viêm não tự miễn kháng thụ thể NMDA, đặc biệt khi rối loạn vận động tăng lên sau liệu pháp miễn dịch ban đầu kèm nhiễm trùng. Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời có ý nghĩa quan trọng nhằm dự phòng tổn thương thận và cải thiện tiên lượng.</em></p>Hà Thị LiễuNguyễn Thị Bích VânCao Vũ HùngĐào Thị Nguyệt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981737910.52852/tcncyh.v198i1.4263Kết quả phẫu thuật nội soi một vết mổ qua rốn điều trị thoát vị bẹn ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4222
<p class="p1"><em>Mục tiêu là giới thiệu kỹ thuật và báo cáo kết quả phẫu thuật nội soi một vết mổ qua rốn (PTNSMVMQR) điều trị thoát vị bẹn (TVB) ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Hà Nội. Nghiên cứu tiến cứu trên loạt bệnh nhi (BN) bị TVB tại bệnh viện Nhi Hà Nội từ tháng 10/2024 đến tháng 6/2025. Chúng tôi đặt 2 trocar 3 - 5mm qua một vết mổ 10mm ở rốn. Ống phúc tinh mạc (OPTM) được khâu đóng kín tại lỗ bẹn sâu bằng chỉ không tiêu với kim xuyên từ ngoài da đi ngoài phúc mạc. Có 192 BN thuộc diện nghiên cứu, 82,9% trẻ nam, 17,1% trẻ nữ với tuổi trung vị 54 tháng (từ 1 tháng tới 10 tuổi). Tỷ lệ TVB bên phải là 52,6%, bên trái 40,6% và 2 bên 6,8%. Trong số 179 BN bị thoát vị bẹn 1 bên, trong mổ phát hiện thấy còn ống phúc tinh mạc bên đối diện ở 42,5%. Thời gian mổ trung bình là 22 phút cho OPTM 1 bên và 31 phút cho OPTM 2 bên. Theo dõi sau mổ từ 3 - 11 tháng, không có bệnh nhân nào tái phát, 02 bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ. Kết quả thẩm mỹ là rất tốt. PTNSMVMQR có tính khả thi, an toàn, có khả năng kiểm tra xử lý được OPTM bên đối diện và tính thẩm mỹ cao. Kỹ thuật này có thể là một lựa chọn tốt trong điều trị TVB ở trẻ em.</em></p>Trần Văn QuyếtNgô Quang HùngHoàng Văn BảoHoàng Đình Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981808810.52852/tcncyh.v198i1.4222Một số yếu tố liên quan đến tử vong ở trẻ lọc máu liên tục tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4273
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ tử vong và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tử vong ở trẻ lọc máu liên tục tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 119 bệnh nhi được chỉ định lọc máu liên tục tại Điều trị tích cực Nội khoa, Bệnh viện Nhi Trung ương, từ tháng 5/2023 đến tháng 6/2024. Kết quả cho thấy tỷ lệ tử vong là 47,9%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến tử vong (p < 0,05) gồm: sốc nhiễm khuẩn, hạ thân nhiệt, điểm vận mạch (VIS) cao, tăng số tạng suy, lactat máu tăng và thời gian bắt đầu lọc máu sau khi nhập khoa. Sau phân tích đa biến, các yếu tố sốc nhiễm khuẩn (OR = 3,14; 95%CI: 1,27 - 7,79), hạ thân nhiệt (OR = 4,49; 95%CI: 1,20 - 16,73), số tạng suy (OR = 1,91; 95%CI: 1,21 - 3,02), lactat máu (OR = 1,23; 95%CI: 1,11 - 1,37) và thời gian bắt đầu lọc máu (OR = 1,02; 95%CI: 1,00 - 1,04) là các yếu tố liên quan độc lập với tử vong. Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và xử trí tích cực tình trạng sốc nhiễm trùng, hạ thân nhiệt và suy đa cơ quan, cũng như bắt đầu lọc máu kịp thời để cải thiện kết quả ở bệnh nhi bệnh nặng.</em></p>Tạ Anh TuấnLê Mạnh TrườngHoàng Kim Lâm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-281981899710.52852/tcncyh.v198i1.4273Thực trạng chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm và nuôi con bằng sữa mẹ tại Bệnh viện Đa khoa huyện Gia Lâm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4245
<p class="p1"><em>Chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm (EENC) và Nuôi con bằng sữa mẹ (BF) là những can thiệp quan trọng giúp giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu được thực hiện trên 171 cặp mẹ con tại Bệnh viện Đa khoa huyện Gia Lâm từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023. Kết quả cho thấy tỷ lệ hoàn thành EENC là 84,2% và tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn là 73,7%. Thời gian da kề da trung bình là 84,95 ± 29,02 phút. Nghiên cứu chỉ ra rằng sinh mổ là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến việc không hoàn thành EENC. Trong khi đó, các yếu tố làm tăng nguy cơ trẻ không được bú mẹ hoàn toàn bao gồm cả sinh mổ và việc không hoàn thành EENC trước đó. Nghiên cứu khuyến nghị cần có các biện pháp giảm tỷ lệ sinh mổ và nâng cao chất lượng thực hiện EENC.</em></p>Lê Quang MinhNguyễn Thị Kim NgânNguyễn Thị Kiểm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-2819819810510.52852/tcncyh.v198i1.4245Nhận xét kết quả điều trị thải sắt phối hợp deferiprone và deferoxamine ở trẻ em thalassemia tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4271
<p class="p1"><em>Thalassemia là bệnh lý thiếu máu tan máu di truyền phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đòi hỏi truyền máu thường xuyên với hậu quả quá tải sắt nặng và ứ đọng sắt tại các cơ quan sinh tồn như tim, gan. Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn trên 46 bệnh nhi mắc bệnh thalassemia có chỉ định điều trị thải sắt tham gia nghiên cứu từ 01/03/2023 đến 30/10/2023. Tất các bệnh nhân được điều trị thải sắt bằng Deferiprone đường uống (liều 75 mg/kg) mỗi ngày tại nhà, kết hợp truyền tĩnh mạch Deferoxamine tại bệnh viện (liều 25 - 35 mg/kg) trong 5 ngày trong mỗi tháng, nồng độ ferritin huyết thanh và LIC (liver iron concentration) trên MRI gan trước và sau điều trị được sử dụng làm chỉ số của liệu pháp thải sắt. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả của liệu pháp điều trị thải sắt ở trẻ Thalassemie tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn bằng cách phối hợp thuốc Deferiprone và Deferoxamine thông qua việc so sánh các chỉ số LIC và nồng độ ferritine huyết thanh (SF) trước và sau điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ferritine huyết thanh (SF) sau điều trị giảm xuống 10-20% so với mức ferritine ban đầu. LIC giảm trung bình 1,21 mg/g gan khô (p < 0,05). Điều trị thải sắt cho trẻ bị bệnh thalassemia có quá tải sắt nặng bằng uống Deferiprone phối hợp với truyền tĩnh mạch Deferoxamine định kỳ tại bệnh viện giúp giảm đáng kể ferritine huyết thanh, giảm ứ sắt trong gan. </em></p>Nguyễn Văn LongNguyễn Thị Hồng NhânLưu Thị ChínhQuách Văn Nam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198110611610.52852/tcncyh.v198i1.4271Khảo sát nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở trẻ em mắc hội chứng thận hư tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4353
<p class="p1"><em>Nghiên cứu “Khảo sát nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết thanh và một số yếu tố liên quan ở trẻ em mắc hội chứng thận hư tại Bệnh viện Nhi Trung ương” được thực hiện trên 113 trẻ từ 5 - 17 tuổi. Kết quả cho thấy 96% trẻ mắc hội chứng thận hư có nồng độ vitamin D huyết thanh không đủ, trong đó 64% thiếu nặng. Tình trạng thiếu vitamin D có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giai đoạn tái phát bệnh và liều sử dụng corticosteroid – nhóm dùng liều > 1,5 mg/kg/ngày có tỷ lệ thiếu cao nhất (88,9%). Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên quan giữa thiếu vitamin D và tình trạng hạ protein toàn phần (p = 0,004). Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nồng độ vitamin D và các phác đồ điều trị khác nhau. Những phát hiện này cho thấy việc sàng lọc và bổ sung vitamin D là cần thiết trong quản lý bệnh nhi mắc hội chứng thận hư, nhằm giảm nguy cơ rối loạn chuyển hóa xương và biến chứng do điều trị corticoid kéo dài.</em></p>Nguyễn Thị Thuý HồngNguyễn Thu HươngPhạm Thị HuệTrần Tiến ĐạtPhạm Huy Tráng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198111712710.52852/tcncyh.v198i1.4353Chiến lược bảo vệ thính lực ở trẻ em sau viêm màng não nhiễm khuẩn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4272
<p class="p1"><em>Viêm màng não nhiễm khuẩn là bệnh lý nhiễm trùng cấp tính, tỉ lệ mắc cao ở trẻ em và có nguy cơ để lại nhiều di chứng thần kinh, trong đó phổ biến nhất là giảm thính lực tiếp nhận. Cơ chế gây tổn thương thính giác bao gồm viêm mê nhĩ do vi khuẩn xâm nhập từ khoang dưới nhện vào ốc tai; tắc động mạch mê nhĩ; thoái hóa tế bào lông do phản ứng viêm và độc tính của một số thuốc. Tổn thương có thể diễn biến nhanh dẫn tới xơ hóa và cốt hóa ốc tai, làm giảm khả năng phục hồi thính lực và ảnh hưởng đến hiệu quả cấy điện cực ốc tai. Chẩn đoán dựa vào các xét nghiệm đo thính lực: đo âm ốc tai (OAE - Otoacoustic Emissions), đo điện thính giác thân não (ABR - Auditory Brainstem Respond), đo đáp ứng trạng thái ổn định thính giác (ASSR - Auditory Steady State Response), kết hợp với chụp cộng hưởng từ (MRI - Magnetic Resonance Imaging) và chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT - High Resolution Computed Tomography) tại ốc tai để phát hiện sớm tình trạng cốt hóa ốc tai. Các phương pháp điều trị bao gồm: sử dụng kháng sinh hợp lý, phối hợp corticosteroid sớm, sử dụng máy trợ thính, cấy điện cực ốc tai trong trường hợp giảm thính lực nặng-sâu không hồi phục. Khuyến nghị: Tất cả các trẻ sau viêm màng não cần được đánh giá thính lực sớm và theo dõi định kỳ nhằm phát hiện kịp thời tiến triển cốt hóa ốc tai để có chiến lược can thiệp tối ưu.</em></p>Đỗ Thị Thúy NgaTạ Chí Kiên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198112813610.52852/tcncyh.v198i1.4272Nguyên nhân và kết quả điều trị tăng áp động mạch phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4231
<p class="p1"><em>Tăng áp động mạch phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh (PPHN) là một bệnh lý cấp cứu, tỷ lệ tử vong cao. Sự ra đời của liệu pháp hít NO đã mở ra bước ngoặt trong điều trị PPHN, tuy nhiên do chi phí cao, việc triển khai còn hạn chế tại nhiều cơ sở điều trị. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 24 trẻ sơ sinh được chẩn đoán PPHN tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Hà Nội trong 11 tháng. Nguyên nhân hay gặp nhất là Viêm phổi/ nhiễm khuẩn (41,7%). PPHN mức độ nặng (50%), trong đó tim bẩm sinh là nguyên nhân hay gặp nhất. Kết quả điều trị: 58,3% trẻ sống ra viện, 33,3 % chuyển viện và 8,3% tử vong. Nguyên nhân chính chuyển viện là trẻ mắc tim bẩm sinh cần can thiệp phẫu thuật. Dobutamin là thuốc vận mạch được sử dụng phổ biến nhất trong khi thuốc giãn mạch phổi được sử dụng phổ biến nhất là Milrinone. Hiệu quả các thuốc giãn mạch phổi khác NO cần được nghiên cứu thêm. Chẩn đoán sớm và điều trị tích cực có ý nghĩa quan trọng nhằm giảm tử vong ở trẻ sơ sinh mắc PPHN.</em></p>Thái Bằng GiangHoàng Thị Yến HoaPhạm Văn DuyệtHoàng Thị Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198113714310.52852/tcncyh.v198i1.4231Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị lỗ tiểu thấp thể quy đầu và rãnh quy đầu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4196
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá kết quả điều trị lỗ tiểu thấp ở bệnh nhân. Qua đó đưa ra sự lựa chọn phương pháp mổ phù hợp đặc điểm lâm sàng lỗ tiểu thấp thể qui đầu và rãnh qui đầu. Tuổi trung vị của 61 bệnh nhân là 4 tuổi. Lỗ tiểu thấp thể quy đầu có 47 bệnh nhân (77 %), thể rãnh quy đầu có 14 bệnh nhân (%). Trục dương vật thẳng ở thể quy đầu là 100% (47/47), ở thể rãnh quy đầu là 42,9% (6/14). Hẹp lỗ tiểu ở thể quy đầu là 25,5% (12/47), ở thể rãnh quy đầu là 92,9% (13/14). Lỗ tiểu thấp thể rãnh quy đầu: rãnh niệu đạo sâu có 4/14 (28,6%) bệnh nhân. Tỷ lệ phẫu thuật thảnh công là 100% (61/61). Kết quả này cho thấy phương pháp Mustardé, Mathieu cải tiến điều trị lỗ tiểu thấp thể rãnh quy đầu, cũng như kỹ thuật tịnh tiến lỗ tiểu và Y–V plasty điều trị lỗ tiểu thấp thể quy đầu đều cho tỷ lệ thành công cao.</em></p>Trần Ngọc BíchTrần Ngọc Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198114415010.52852/tcncyh.v198i1.4196Điều trị lỗ tiểu thấp thể dương vật và thể bìu bằng phẫu thuật một thì Devine - Horton cải tiến
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4197
<p class="p1"><em>Để có tỷ lệ thành công cao khi mổ lỗ tiểu thấp nên chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật một thì lỗ tiểu thấp thể dương vật và thể bìu theo phương pháp Devine - Horton cải tiến. Nghiên cứu tiến cứu, mô tả ở những bệnh nhân bị lỗ tiểu thấp thể dương vật và thể bìu được phẫu thuật. Tuổi trung bình của 114 bệnh nhân là 4,7 ± 2,6 tuổi. Lỗ tiểu thấp thể dương vật có tỷ lệ thành công 82,1% (64/78), rò niệu đạo 8,9% (7/78), hẹp niệu đạo 6,4% (5/78), giãn niệu đạo 2,6% (2/78). Lỗ tiểu thấp thể bìu có tỷ lệ thành công 88,9 % (32/36), rò niệu đạo 5,55% (2/36), hẹp niệu đạo 5,55% (2/36). Kết quả trên cho thấy điều trị lỗ tiểu thấp thể dương vật và thể bìu theo phương pháp Devine-Horton cải tiến dễ thực hiện và có tỷ lệ thành công là khả quan với 114 bệnh nhân được mổ. </em></p>Trần Ngọc SơnVũ Duy AnhLê Anh Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198115115710.52852/tcncyh.v198i1.4197Các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị bướu nguyên bào thận giai đoạn II - IV ở trẻ em với hóa trị tân bổ trợ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4238
<p class="p1"><em>Các phác đồ quốc tế đã chuẩn hoá điều trị bướu nguyên bào thận bằng hoá trị tân bổ trợ, tuy nhiên bằng chứng về các yếu tố tiên lượng ở trẻ em có đặc điểm nguy cơ trên chẩn đoán hình ảnh tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị bướu nguyên bào thận có đặc điểm nguy cơ trên chẩn đoán hình ảnh, được hoá trị tân bổ trợ và phẫu thuật trì hoãn. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu thực hiện trên 64 bệnh nhi mắc bướu nguyên bào thận có đặc điểm nguy cơ trên chẩn đoán hình ảnh, được hóa trị trước phẫu thuật và phẫu thuật cắt thận mang bướu trì hoãn từ tháng 04/2013 đến tháng 06/2016; và theo dõi đến tháng 06/2019 tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tỉ lệ sống còn không biến cố với thời gian theo dõi trung bình 46,9 tháng là 92,2%. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị: Bướu nguyên bào thận thuộc nhóm nguy cơ cao sẽ có nguy cơ tái phát hoặc tử vong cao gấp 17,3 lần so với các nhóm nguy cơ thấp và trung bình (p = 0,046). Bướu nguyên bào thận đáp ứng hóa trị thuộc nhóm bệnh ổn định hoặc tiến triển sẽ có nguy cơ tái phát hoặc tử vong cao gấp 12,7 lần so với các nhóm đáp ứng hoàn toàn và một phần (p = 0,01). Tuy nhiên, nhóm nguy cơ theo mô bệnh học và mức độ đáp ứng với hóa trị trước phẫu thuật vẫn là các yếu tố tiên lượng quan trọng ảnh hưởng đến kết quả điều trị bướu nguyên bào thận ở trẻ em. Hoá trị tân bổ trợ giúp kiểm soát bệnh tốt ở nhóm có đặc điểm nguy cơ trên chẩn đoán hình ảnh, nhưng kết cục vẫn phụ thuộc chủ yếu vào phân nhóm nguy cơ theo giải phẫu bệnh và mức độ đáp ứng hoá trị, gợi ý cần tích hợp hai yếu tố này vào chiến lược điều trị sau mổ.</em></p>Vũ Trường Nhân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198115816810.52852/tcncyh.v198i1.4238Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh học trước - sau hoá trị tân bổ trợ ở bướu nguyên bào thận một bên có dấu hiệu xâm lấn tại Bệnh viện Nhi đồng 2
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4240
<p class="p1"><em>Bướu nguyên bào thận là ung thư thận thường gặp nhất ở trẻ em. Những biến đổi đặc điểm chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) sau hoá trị tân bổ trợ và mối liên hệ với giải phẫu bệnh (GPB) hậu phẫu trong các nghiên cứu tại Việt Nam còn hạn chế. Phân tích các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị bướu nguyên bào thận giai đoạn II - IV tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Nghiên cứu cắt ngang tiến hành từ tháng 04/2013 đến tháng 06/2016 trên 64 trường hợp bướu nguyên bào thận có dấu hiệu xâm lấn trên chẩn đoán hình ành (CĐHA) được chẩn đoán và hóa trị tân bổ trợ. 85,7% bướu ở nhóm tuổi 6 tháng - 5 tuổi. Tỉ lệ bướu ở nam nhiều hơn ở nữ. Tỉ lệ bướu ở thận phải nhiều hơn ở thận trái. Thể tích bướu trung bình là 487,9 ± 365,3cm<sup>3</sup>. Sau hóa trị trước phẫu thuật: Tỉ lệ bướu hoại tử tăng từ 4,7% lên 10,9%. Tỉ lệ bướu vỡ đáp ứng với điều trị bảo tồn giảm từ 9,4% xuống 3,2%. Tỉ lệ xâm lấn quanh thận giảm từ 85,9% xuống 43,8%. Tỉ lệ xâm lấn mạch máu giảm từ 20,3% xuống 6,3%, trong đó tỉ lệ xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới giảm từ 4,7% xuống 1,6%. Tỉ lệ di căn hạch rốn thận giảm từ 20,3% xuống 4,7%. Các tổn thương di căn xa đều thoái triển. Thể tích bướu giảm từ 487,9cm<sup>3</sup> xuống 206,8cm<sup>3</sup> (p < 0,001). Mức độ đáp ứng hóa trị trước phẫu thuật: Tỉ lệ đáp ứng chung là 89,1%; bệnh ổn định hoặc tiến triển là 10,9%. Bướu nguyên bào thận thường được phát hiện muộn, có thể tích lớn tại thời điểm chẩn đoán. Hóa trị trước phẫu thuật làm giảm thể tích bướu và các xâm lấn của bướu, tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật cắt thận mang bướu sau hóa trị.</em></p>Vũ Trường Nhân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198116918010.52852/tcncyh.v198i1.4240Đặc điểm chẩn đoán và một số yếu tổ ảnh hưởng tới kết quả phẫu thuật nội soi qua phúc mạc cắt tuyến tiền liệt toàn bộ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4413
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu nhằm đánh giá đặc điểm chẩn đoán và xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả phẫu thuật của 36 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt được phẫu thuật nội soi qua phúc mạc cắt tuyến tiền liệt triệt căn tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 5/2021 tới tháng 2/2025. Bệnh nhân có độ tuổi trung bình 62,5 ± 5,13, trong đó 91,66% trên 60 tuổi với tỷ lệ mắc bệnh lý nền cao, tăng huyết áp 58,33%, đái tháo đường 8,33%. Đa số các bệnh nhân có triệu chứng rối loạn cương dương trước mổ (72,23%). 80,56% bệnh nhân có thể tích tuyến tiền liệt ≤ 40gr. 83,33% bệnh nhân được phân nhóm nguy cơ thấp và trung bình. Tất cả các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao đều được xạ hình xương và chụp cắt lớp vi tính ngực - bụng tầm soát di căn. Kết quả nghiên cứu đã xác định được thời gian phẫu thuật phụ thuộc vào các yếu tố BMI và thể tích của tuyến tiền liệt. Không có mối liên quan giữa thể tích tuyến tiền liệt và lượng máu mất trong mổ.</em></p>Đỗ Thị Thu HiềnChu Văn LâmNguyễn Huy HoàngHoàng Long
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198118119110.52852/tcncyh.v198i1.4413Đánh giá kết quả bơm xi măng sinh học trong điều trị xẹp đốt sống do loãng xương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4335
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên các bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương được bơm xi măng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (01 – 12/2024). Tuổi trung bình là 72,5 ± 8,8; nữ giới chiếm 86,5%. Hình thái gãy chủ yếu là hình chêm (60%), trong đó 31,6% là gãy nặng theo Genant. Trước can thiệp, bệnh nhân có đau nhiều (VAS 6,7), biến dạng cột sống (góc gù 11,1°, Cobb 16,9°), giảm chiều cao thân đốt và loãng xương nặng (T-score -3,9). Sau bơm xi măng, đau giảm rõ rệt (VAS còn 0,7 sau 3 tháng), 99% bệnh nhân đạt kết quả “Tốt” hoặc “Rất tốt” theo MacNab. Hình thái cột sống cải thiện có ý nghĩa: góc gù còn 7,9°, Cobb 14,2° và phục hồi chiều cao thân đốt. Tỷ lệ điều trị loãng xương tăng đáng kể sau mổ (74,5% so với 20,2% trước mổ). Biến chứng chủ yếu là thoát xi măng, không ảnh hưởng lâm sàng. Bơm xi măng sinh học là phương pháp an toàn, hiệu quả, giúp giảm đau nhanh, cải thiện hình thái và chức năng cột sống ở bệnh nhân loãng xương.</em></p>Nguyễn VũTrần Trung KiênNguyễn Trọng Hiệp
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198119220210.52852/tcncyh.v198i1.4335Giải phẫu đường mật trong gan và mối liên quan với kết quả tán sỏi đường mật xuyên gan qua da tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4340
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 68 bệnh nhân sỏi đường mật trong gan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm đánh giá mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu đường mật và hiệu quả điều trị bằng tán sỏi nội soi xuyên gan qua da. Thời gian trung bình thực hiện thủ thuật là 49,6 phút, tỷ lệ sạch sỏi chung đạt 75%, cao hơn ở đường mật gan trái (86,1%) so với gan phải (77,3%). Theo phân loại giải phẫu, tỷ lệ sạch sỏi lần lượt là 90% ở typ 1, 81,8% ở typ 2, 33,3% ở typ 3A và 0% ở typ 5A. Thời gian nằm viện trung bình sau can thiệp là 5,3 ngày. Có 17,6% bệnh nhân gặp biến chứng mức độ nhẹ và vừa như chảy máu đường mật, sốt, tràn dịch màng phổi, tất cả đều được xử trí nội khoa ổn định. Kết quả cho thấy tán sỏi nội soi xuyên gan qua da là phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn, với hiệu quả sạch sỏi phụ thuộc rõ rệt vào đặc điểm giải phẫu của hệ thống đường mật trong gan.</em></p>Trịnh Quốc ĐạtNguyễn Ngọc ÁnhNguyễn Văn HuyTrần Quốc Hòa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198120320910.52852/tcncyh.v198i1.4340Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị Sarcoma cơ vân không di căn tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4408
<p class="p1"><em>Sarcoma cơ vân là bệnh lý hay gặp nhất trong nhóm bệnh ung thư phần mềm ở trẻ em. Bài báo nhận xét đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị 36 trẻ mắc sarcoma cơ vân không di căn xa từ 2021 - 2024 tại Khoa Nội Nhi, Bệnh viện K. Tuổi mắc bệnh trong nghiên cứu là 10,6 tuổi (dao động 5,3 - 14,6 tuổi); nam chiếm 66,7%. Vị trí u hay gặp nhất là đầu mặt cổ (41,7%) và cạnh màng não (19,4%). Nghiên cứu có 36,1% trẻ có đột biến FOXO1; 44,4% có di căn hạch vùng và nhóm nguy cơ cao-rất cao chiếm 66,6%. 17 trẻ (47,2%) được phẫu thuật trước với 9/17 trẻ lấy được u toàn bộ; 84,2% trẻ đáp ứng tốt với 3 đợt hoá chất đầu tiên. Kết thúc nghiên cứu, tỷ lệ sống và sống không bệnh sau 4 năm lần lượt là 64,9% và 32,9%. Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ sống với các đặc điểm khối u và nhóm nguy cơ trước điều trị. Điều trị đa mô thức theo nhóm nguy cơ đem lại kết quả đáng kể cho bệnh nhân mắc sarcoma không di căn xa tuy nhiên cần có các biện pháp chẩn đoán sớm và tiếp cận khối u lớn với sinh thiết và hoá trị trước mổ.</em></p>Hoàng Thu TrangNguyễn Đinh LêTrần Hải NamHoàng Thị Thuỳ LinhNguyễn Minh PhươngĐỗ Hùng KiênĐỗ Cẩm Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198121022210.52852/tcncyh.v198i1.4408Giá trị của cắt lớp vi tính lồng ngực ở trẻ viêm phổi tái diễn tại Bệnh viện Nhi Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4411
<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và giá trị của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ngực trong phát hiện tổn thương phổi ở trẻ mắc viêm phổi tái diễn (VPTD). Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2025 tại Bệnh viện Nhi Hà Nội trên 50 trẻ được chẩn đoán viêm phổi tái diễn. Dữ liệu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình ảnh X-quang và CLVT ngực được thu thập và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả.. Tuổi trung bình của trẻ là 19,4 ± 13,3 tháng. Tỷ lệ nam/nữ là 56%/44%. Căn nguyên vi khuẩn chiếm 52%. Trên X-quang có 88% trường hợp tổn thương dày thành phế quản, Trên CLVT có 42% tổn thương đông đặc. CLVT phát hiện được các tổn thương như dày thành phế quản (82%), giãn phế quản (10%), hạch trung thất (10%), bất thường giải phẫu (8%). So với X-quang, CLVT ưu việt hơn trong ở cả ba nhóm tổn thương được khảo sát (dày thành phế quản, đông đặc tập trung, và tổn thương mô kẽ), số trường hợp được phát hiện trên CLVT đều cao hơn. Sự vượt trội này đặc biệt có ý nghĩa thống kê trong việc phát hiện tổn thương đông đặc tập trung, với p = 0,039. CLVT ngực là phương tiện chẩn đoán có giá trị trong đánh giá tổn thương phổi và phát hiện bất thường giải phẫu ở trẻ viêm phổi tái diễn. Việc chỉ định CLVT ngực nên được cân nhắc ở những trẻ viêm phổi ≥ 2 lần/năm, không đáp ứng điều trị hoặc nghi ngờ bất thường cấu trúc. </em></p>Dương Đại LộcNguyễn Thị Thu TrangNghiêm Minh HiếuNinh Quốc Đạt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198122323110.52852/tcncyh.v198i1.4411Đánh giá tính khả thi kỹ thuật và độ an toàn ban đầu của nút động mạch tử cung bằng keo sinh học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4256
<p class="p1"><em>U xơ tử cung là bệnh phụ khoa thường gặp, nhiều trường hợp gây biến chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Nút động mạch tử cung đã được chứng minh là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp bảo tồn tử cung mà không cần phẫu thuật. Vật liệu nút mạch truyền thống là các hạt vi cầu kích cỡ khác nhau, nhưng khả năng thâm nhập chưa triệt để làm tăng nguy cơ tái tưới máu. Gần đây, keo sinh học N-butyl cyanoacrylate (NBCA) dạng dung dịch được ứng dụng như vật liệu thay thế nhờ khả năng lan sâu, gây tắc nhanh và bền vững. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 20 bệnh nhân u xơ tử cung được nút động mạch tử cung bằng NBCA pha loãng tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội nhằm đánh giá đặc tính kỹ thuật và kết quả ban đầu của phương pháp này. Kết quả cho thấy tất cả các ca can thiệp đều thành công về mặt kỹ thuật, không ghi nhận tai biến, các biến chứng sau can thiệp nhẹ và dễ kiểm soát, gợi ý NBCA là vật liệu an toàn và hứa hẹn trong điều trị u xơ tử cung.</em></p>Nguyễn Ngọc CươngNguyễn Thành KhiêmNguyễn Thị Bích Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198123224210.52852/tcncyh.v198i1.4256Đánh giá kết quả ban đầu nút mạch u xơ tử cung qua đường động mạch quay kết hợp giảm đau đa mô thức
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4277
<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang trên 37 bệnh nhân nút mạch u xơ tử cung qua đường động mạch quay tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho thấy phương pháp này an toàn và hiệu quả. Bệnh nhân có tuổi trung bình 39,9 ± 6,0 tuổi, kích thước khối u trung bình là 6,3 ± 1,7cm. 100% các ca can thiệp đều thành công, không ghi nhận tai biến. Thời gian can thiệp trung bình là 37,4 phút, liều chiếu tia ở mức an toàn. Đau trong và sau can thiệp được kiểm soát tốt nhờ kết hợp phong bế thần kinh và PCA, với cường độ đau giảm rõ sau 48 giờ. Biến chứng sau can thiệp nhẹ, chủ yếu là sốt và ra máu nhẹ. Kết quả cho thấy đường vào qua động mạch quay là lựa chọn phù hợp, kết hợp giảm đau hiệu quả giúp nâng cao chất lượng điều trị.</em></p>Nguyễn Ngọc CươngNguyễn Thành KhiêmNguyễn Thị Bích Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198124325210.52852/tcncyh.v198i1.4277Kết quả bước đầu điều trị ung thư đại tràng di căn bằng phác đồ mFOLFOXIRI phối hợp bevacizumab
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4323
<p class="p1"><em>Ung thư đại tràng (UTĐT) là một trong những ung thư phổ biến và có tỉ lệ tử vong cao ở giai đoạn di căn. Phác đồ mFOLFOXIRI kết hợp bevacizumab đã được nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị ở bệnh nhân UTĐT di căn không thể phẫu thuật. Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc được thực hiện trên 50 bệnh nhân UTĐT di căn điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2020 – 2024. Hiệu quả được đánh giá qua tỷ lệ đáp ứng chung (ORR), đáp ứng sớm (ETS), độ sâu đáp ứng (DpR) và thời gian sống không tiến triển (PFS). Kết quả: nam giới chiếm 72%, tuổi trung vị 60,5 (25 – 76), 100% có chỉ số toàn trạng ECOG 0–1, 76% u bên trái, 74% có di căn gan, 54% mang đột biến RAS. Trung vị số chu kỳ điều trị và có bevacizumab lần lượt là 11,2 và 10,3. ORR đạt 76%, ETS 62%, mDpR 48%, mPFS 14,6 tháng. Kết luận: phác đồ mFOLFOXIRI kết hợp bevacizumab có hiệu quả cao và kéo dài PFS ở bệnh nhân UTĐT di căn không thể phẫu thuật.</em></p>Mai Thị Kim NgânTrịnh Lê HuyPhạm Tuấn AnhNguyễn Văn HùngTrần Đình AnhNguyễn Thị Phương Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198125326210.52852/tcncyh.v198i1.4323Kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp can thiệp đặt Stent tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4347
<p class="p1"><em>Can thiệp đặt stent động mạch cảnh (ĐMC) là phương pháp ít xâm lấn, tỉ lệ thành công cao và biến chứng thấp. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp can thiệp đặt stent tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội giai đoạn từ 1/2022 tới 8/2025 với tổng số 78 bệnh nhân. Kết quả cho thấy có 85,9% nam giới, tuổi trung bình là 70 tuổi, 64,1% hẹp mạch cảnh có triệu chứng, 78,2% hẹp nặng động mạch cảnh trên chụp động mạch cảnh qua da. Tất cả thủ thuật đều thành công, tỉ lệ đột quỵ thiếu máu não nặng là 1,3%, tỉ lệ xuất huyết não là 1,3%, tỉ lệ biến cố mới trong 30 ngày là 0%. Can thiệp đặt stent động mạch cảnh đoạn ngoài sọ là một thủ thuật tương đối an toàn, ít xâm lấn và hiệu quả với tỷ lệ biến chứng thấp.</em></p>Nguyễn Lân HiếuNguyễn Thị Minh LýBùi Văn NhơnTrần Việt Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198126327210.52852/tcncyh.v198i1.4347Đánh giá ảnh hưởng của axit tranexamic trên một số xét nghiệm đông cầm máu ở bệnh nhân phẫu thuật cột sống do lao
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4348
<p class="p1"><em>Chúng tôi thực hiện nghiêm cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của axit tranexamic (TXA) lên một số xét nghiệm đông cầm máu ở bệnh nhân phẫu thuật cột sống do lao. Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng được tiến hành trên 60 bệnh nhân tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2024, chia làm hai nhóm: nhóm TXA và nhóm chứng. Các chỉ số đông cầm máu được đo trước và sau phẫu thuật gồm số lượng tiểu cầu, thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin hoạt hóa từng phần (APTT), fibrinogen và D-Dimer. Kết quả cho thấy số lượng tiểu cầu giảm ít hơn ở nhóm TXA (273,6 ± 73,8 G/L so với 238,6 ± 55,3 G/L; p < 0,05). PT, APTT và fibrinogen tăng ít hơn đáng kể ở nhóm TXA so với nhóm chứng (p < 0,01). Đáng chú ý, D-Dimer sau mổ tăng rõ rệt ở nhóm TXA (1582,4 ± 429,9) trong khi giảm nhẹ ở nhóm chứng (607,6 ± 492,9). Kết quả cho thấy TXA giúp ổn định quá trình đông cầm máu nhưng cần theo dõi chặt chẽ nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu khi sử dụng thuốc này. </em></p>Nguyễn Thanh HiềnNgô Thế NguyenVũ Hoàng Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198127327910.52852/tcncyh.v198i1.4348Hiệu quả giảm đau sau mổ cắt túi mật nội soi của phương pháp gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng chếch dưới sườn hai bên
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4362
<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả giảm đau, an toàn của gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng chếch dưới sườn (OSTAP block) sau phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên trên 70 bệnh nhân chia thành hai nhóm: nhóm T (gây tê lỗ trocar, n = 35) và nhóm O (OSTAP block, n = 35). Nhóm O được thực hiện OSTAP block hai bên dưới siêu âm sau phẫu thuật. Kết quả phân tích hỗn hợp tuyến tính cho thấy điểm đau NRS của nhóm O thấp hơn có ý nghĩa so và mức khác biệt thay đổi theo thời gian (tương tác nhóm×thời gian, p < 0,001); thời gian yêu cầu morphin đầu tiên kéo dài hơn (192 phút so với 102 phút, p < 0,001), lượng morphin tại hồi tỉnh ít hơn (1,2mg so với 3,6mg, p < 0,001), thời gian hồi tỉnh ngắn hơn (81 phút so với 102 phút, p < 0,001) so với nhóm T. Không có khác biệt có ý nghĩa về các tác dụng không mong muốn sau mổ giữa hai nhóm, hơn nữa không ghi nhận biến chứng kỹ thuật hoặc ngộ độc thuốc tê. Gây tê OSTAP là một phương pháp giảm đau hiệu quả, an toàn sau cắt túi mật nội soi.</em></p>Trần Việt ĐứcTrần Hồng ĐứcPhạm Quang MinhNguyễn Thị LinhNguyễn Hữu Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198128028910.52852/tcncyh.v198i1.4362Chẩn đoán tình cờ hội chứng von Hippel-Lindau ở bệnh nhân đái tháo đường mới phát hiện
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4371
<p class="p1"><em>Hội chứng Von Hippel - Lindau (VHL) là bệnh lý di truyền hiếm gặp, được xác định là tình trạng di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, gây ra từ các đột biến trong gen VHL. Bệnh này đặc trưng bởi sự xuất hiện các khối u ở nhiều cơ quan khác nhau. Tổn thương tụy trong bệnh cảnh hội chứng VHL có thể biểu hiện dưới dạng nang tụy hoặc u thần kinh nội tiết tụy (pNET), có khả năng ảnh hưởng đến cả chức năng ngoại tiết và nội tiết của tuyến tụy. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nữ bệnh nhân trẻ được phát hiện đái tháo đường trong bối cảnh có tổn thương đa nang tụy. Các khảo sát hình ảnh chuyên sâu phát hiện thêm u thần kinh nội tiết tụy và ung thư thận hai bên, cùng với kết quả phân tích gen phát hiện đột biến trong gen VHL qua đó xác định chẩn đoán hội chứng Von Hippel - Lindau. Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tầm soát toàn diện khi gặp tổn thương tụy không điển hình ở bệnh bệnh nhân đái tháo đường mới. </em></p>Phan Nguyễn Nhật LinhVũ Bích NgaNguyễn Thị Thanh HươngNguyễn Thị Ngọc Mai
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198129029510.52852/tcncyh.v198i1.4371Đánh giá tác dụng giảm mất máu trong và sau mổ của axit tranexamic trên bệnh nhân phẫu thuật cột sống bệnh lý do lao
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4381
<p class="p1"><em>Phẫu thuật cột sống nói chung và phẫu thuật cột sống bệnh lý do lao nói riêng là loại phẫu thuật có nguy cơ gây chảy máu cao có thể dẫn đến mất máu cấp và các biến chứng nghiêm trọng. Nghiên cứu được thực hiện với mục đích đánh giá hiệu quả giảm mất máu trong và sau mổ của axit tranexamic (TXA) ở bệnh nhân phẫu thuật cột sống bệnh lý do lao. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm dùng TXA (n = 30) và nhóm chứng không dùng TXA (n = 30). Các tiêu chí đánh giá bao gồm: đặc điểm chung, số đốt sống can thiệp, thời gian phẫu thuật, thể tích dịch truyền, và thể tích máu mất trong và sau mổ. Kết quả nghiên cứu cho thấy thể tích máu mất trung bình trong mổ ở nhóm TXA là 140,9 ± 15,8ml, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng 244,2 ± 13,7ml (p < 0,01). Mất máu sau mổ 12 giờ ở nhóm TXA là 164,1 ± 31,4ml, cũng giảm đáng kể so với nhóm chứng 212,6 ± 28,2ml (p < 0,01). Mất máu từ 24 giờ sau mổ đến khi rút dẫn lưu cũng thấp hơn ở nhóm TXA (57,7 ± 14,3ml so với 66,3 ± 8,5ml; p < 0,01). Chúng tôi đưa ra kết luận là axit tranexamic giúp làm giảm đáng kể lượng máu mất trong và sau phẫu thuật cột sống do lao mà không làm tăng thời gian phẫu thuật hay kéo dài thời gian hồi phục sau mổ. Việc sử dụng TXA có thể được xem là biện pháp an toàn và hiệu quả trong dự phòng mất máu ở bệnh nhân phẫu thuật cột sống bệnh lý do lao.</em></p>Vũ Thị QuyênNgô Thế NguyênVũ Hoàng Phương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198129630510.52852/tcncyh.v198i1.4381Hiệu quả giảm đau của gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên dưới hướng dẫn siêu âm ở người bệnh cắt túi mật nội soi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4418
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau trong và sau mổ của gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên dưới hướng dẫn của siêu âm cho người bệnh cắt túi mật nội soi. Nghiên cứu can thiệp có đối chứng, mù đơn trên 80 người bệnh được cắt túi mật nội soi tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 6/2025 đến tháng 10/2025. Người bệnh được chia ngẫu nhiền thành 2 nhóm là nhóm được gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên và gây tê chân lỗ trocar Các biến số nghiên cứu bao gồm liều opioid trong và sau mổ, điểm đau VAS khi vận động, nghỉ ngơi, tỉ lệ nôn, buồn nôn sau mổ, tần số tim, huyết áp trước trong và sau mổ. Kết quả cho thấy ở nhóm được gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên sử dụng fentanyl trong mổ ít hơn (147,50mcg với 236,25mcg), tiêu thụ morphin sau mổ ít hơn (0,58mg so với 1,53mg), điểm VAS trung bình khi vận động và nghỉ ngơi sau mổ thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nhóm gây tê chân lỗ trocar.</em></p>Lưu Xuân VõNguyễn Duy KhánhNguyễn Thị Hạnh ThúyTrần Thanh HùngNguyễn Thanh HuyềnLê Văn TiếnNguyễn Thị LinhNguyễn Lương BằngVũ Hoàng PhươngPhạm Quang MinhNguyễn Hữu Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198130531410.52852/tcncyh.v198i1.4418Khảo sát nồng độ GFAP, UCH-L1 của bệnh nhân chấn thương sọ não nhẹ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4433
<p class="p1"><em>Chấn thương sọ não là một trong những nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu tại Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát nồng độ protein axit fibrillary thần kinh đệm (GFAP) và ubiquitin carboxyl-terminal hydrolase L1 (UCH-L1) ở bệnh nhân chấn thương sọ não (CTSN) nhẹ. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 146 bệnh nhân CTSN nhẹ và 30 người khỏe mạnh. Kết quả cho thấy giá trị trung vị nồng độ GFAP và UCH-L1 ở nhóm CTSN nhẹ lần lượt là 105,47 pg/ml và 456,38 pg/ml, cao hơn so với nhóm khỏe mạnh. Kết quả phân tích dựa trên thuật toán Boolean tại ngưỡng khuyến cáo của nhà sản xuất, tất cả ĐTNC thuộc nhóm khỏe mạnh có kết quả âm tính, tỷ lệ dương tính trong nhóm CTSN nhẹ là 84,25%. Nồng độ GFAP và UCH-L1 ở bệnh nhân CTSN nhẹ do tai nạn giao thông cao hơn so với các nguyên nhân khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Trong khi sự khác biệt giữa nhóm vào viện trước 6 giờ sau khi chấn thương và nhóm vào viện từ 6 - 12 giờ, cũng như giữa nhóm bệnh nhân có điểm Glasgow (GCS) từ 13 - 14 so với nhóm GCS 15 điểm là chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).</em></p>Nguyễn Thu GiangNguyễn Thị Ngọc LanTrần Huy ThịnhLê Thị Hương LanTrần Đức Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198131532210.52852/tcncyh.v198i1.4433Tiến bộ mới trong điều trị tăng huyết áp kháng trị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4316
<p class="p1"><em>Tăng huyết áp kháng trị chiếm khoảng 10 - 20% tổng số bệnh nhân tăng huyết áp và là nhóm có nguy cơ cao gặp biến cố tim mạch, thận và đột quỵ, gây gánh nặng lớn cho hệ thống y tế toàn cầu. Dù đã áp dụng các phác đồ điều trị phối hợp tối ưu, nhiều bệnh nhân vẫn không đạt được huyết áp mục tiêu, cho thấy nhu cầu cấp thiết về các phương pháp điều trị mới. Hai hướng tiếp cận tiên tiến hiện nay gồm: triệt đốt thần kinh giao cảm động mạch thận (RDN) - một thủ thuật can thiệp giúp giảm huyết áp ổn định ở nhóm bệnh nhân chọn lọc; và nhóm thuốc ức chế aldosterone synthase (ASI) - nổi bật là Baxdrostat, chất ức chế chọn lọc enzym CYP11B2, đã chứng minh hiệu quả hạ huyết áp mạnh, bền vững, an toàn qua các nghiên cứu pha III như BaxHTN, BaxAsia, Bax24. Những tiến bộ này mở ra triển vọng mới trong kiểm soát tăng huyết áp kháng trị, hướng tới điều trị cá thể hoá và nhắm trúng cơ chế bệnh sinh.</em></p>Trần Kim SơnNguyễn Thiên Thạch
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198132333010.52852/tcncyh.v198i1.4316Siêu âm tim đánh dấu mô 2D gắng sức với Dobutamin trong chẩn đoán hẹp mạch vành
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4490
<p class="p1"><em>Nghiên cứu này kiểm tra giá trị kết hợp của siêu âm tim đánh dấu mô 2D gắng sức với Dobutamin để khảo sát hẹp động mạch vành có ý nghĩa ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành mạn. Nghiên cứu cắt ngang đã thử nghiệm chẩn đoán trên 166 bệnh nhân nghi ngờ có bệnh động mạch vành mạn được thực hiện kết hợp siêu âm tim gắng sức với Dobutamin, siêu âm tim đánh dấu mô, chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt động mạch vành, chụp động mạch vành chọn lọc. Kết quả cho thấy siêu âm tim đánh dấu mô 2D gắng sức với Dobutamin tại giai đoạn đỉnh và phục hồi sớm đã tăng độ nhạy hơn so với siêu âm tim gắng sức quan sát trực quan. Siêu âm tim gắng sức trực quan cho thấy độ nhạy 74% và đặc hiệu 83,7%. Khi kết hợp siêu âm tim đánh dấu mô 2D gắng sức với Dobutamin, độ nhạy đã tăng đến 94,3% và 95,9% tại các ngưỡng cắt độ biến dạng dọc toàn bộ dưới 16,8 ở giai đoạn đỉnh gắng sức và dưới 16,5 ở giai đoạn phục hồi sớm. Như vậy, siêu âm tim đánh dấu mô 2D gắng sức với Dobutamin giúp tăng giá trị chẩn đoán hẹp mạch vành ý nghĩa trong giai đoạn hồi phục.</em></p>Nguyễn Thị NgọcNguyễn Anh Vũ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198133133810.52852/tcncyh.v198i1.4490Sự thay đổi nồng độ AMH ngay sau hoá trị ở phụ nữ ung thư vú nguyên phát chưa di căn xa và các yếu tố liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4491
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi dọc so sánh trước và ngay sau hóa trị, được tiến hành dựa trên 97 phụ nữ ung thư vú giai đoạn chưa di căn xa, có độ tuổi từ 25 - 45 tuổi tại Bệnh viện K trong năm 2024 - 2025, nhằm xác định sự thay đổi nồng độ AMH ngay sau hoá trị ở phụ nữ ung thư vú nguyên phát chưa di căn xa. Nồng độ AMH suy giảm dáng kể từ mức nền (AMH0) xuống mức gần như không thể phát hiện được ngay sau hóa trị (AMH1; p < 0,0001) không phụ thuộc lứa tuổi, tình trạng BMI, đặc điểm kinh nguyệt, tính chất mô bệnh học, tình trạng hóa mô miễn dịch cũng như thời điểm hay phác đồ hóa chất. Như vậy, hóa trị UTV gây ra sự suy giảm gần như toàn bộ dự trữ buồng trứng chức năng ngay sau kết thúc hóa trị.</em></p>Nguyễn Tuấn MinhĐặng Thị Minh NguyệtLê Thanh ĐứcNguyễn Hữu Hoàng MinhMai Trọng Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198133934610.52852/tcncyh.v198i1.4491Tình trạng đề kháng insulin và gan nhiễm mỡ không do rượu trên nhóm bệnh nhân cao tuổi đến khám tại Bệnh viện Quân Y 175
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4498
<p class="p1"><em>Gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) là bệnh lý chuyển hóa phổ biến ở người cao tuổi, trong đó đề kháng insulin đóng vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh và tiến triển của bệnh. Tại Việt Nam, dữ liệu về đề kháng insulin và mối liên quan với NAFLD ở người cao tuổi còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh dân số già hóa nhanh và bệnh chuyển hóa gia tăng. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 404 bệnh nhân ≥ 60 tuổi đến khám tại phòng khám cán bộ cấp cao, Bệnh viện Quân Y 175 từ tháng 08/2024 đến tháng 06/2025, cho thấy nồng độ insulin, HOMA-IR và tỷ lệ đề kháng insulin đều tăng theo mức độ NAFLD (p < 0,01). Trong đó, tỷ lệ đề kháng insulin tăng từ 11,7% ở nhóm không NAFLD lên 88,9% ở NAFLD độ 3. HOMA-IR có giá trị dự báo trung bình đối với NAFLD (AUC = 0,76), với ngưỡng cắt tối ưu là 2,05. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò trung tâm của đề kháng insulin trong cơ chế sinh bệnh của NAFLD ở người cao tuổi. Phát hiện sớm và kiểm soát đề kháng insulin là chiến lược quan trọng cần được xây dựng trong phòng ngừa và quản lý NAFLD ở nhóm đối tượng này.</em></p>Nguyễn Văn TânPhạm Hoà BìnhTrịnh Thị Bích HàĐặng Long TriêuCao Đình Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198134735710.52852/tcncyh.v198i1.4498Đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ từ 6 đến 8 tuổi tại Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ năm 2023 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4224
<p class="p1"><em>Rối loạn tăng động giảm chú ý là một rối loạn hoạt động não bộ với các biểu hiện triệu chứng dai dẳng về giảm tập trung chú ý, tăng các hoạt động hoặc hành vi quá mức gây ảnh hưởng đến học tập và chức năng xã hội của trẻ. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị 43 trẻ từ 6 - 8 tuổi được chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ từ tháng 6/2023 - 5/2025. Kết quả thu được thể giảm chú ý nổi trội phổ biến nhất (44,2%). Tỷ lệ rối loạn tâm thần đi kèm thấp, rối loạn thách thức chống đối (4,7%), chậm phát triển tâm thần (2,3%). Sau 1 tháng điều trị, có 31 trẻ tái khám (72,1%), 12 trẻ bỏ tái khám (27,9%). Trung bình trẻ được cải thiện 9,94 ± 5,83 điểm so với trước điều trị. Trung bình điểm số triệu chứng đều giảm ở tất cả các nhóm. Trình độ học vấn của cha và trình độ học vấn của mẹ có liên quan đến cải thiện điểm số thang điểm Vanderbilt trước và sau điều trị (p < 0,05). Đây là tiền đề quan trọng gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn.</em></p>Phạm Kiều Anh ThơBùi Minh TríBùi Quang NghĩaPhún Duy LongTrần Quang Khải
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198135836610.52852/tcncyh.v198i1.4224Điều trị tụ máu trong thành ruột non ở trẻ em: Nhân một trường hợp phẫu thuật bảo tồn thành công không cắt nối ruột
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4502
<p class="p1"><em>Tụ máu thành ruột non ở trẻ em là tình trạng hiếm gặp, thường liên quan đến chấn thương bụng, trong khi các trường hợp tự phát chủ yếu gặp ở bệnh nhân Hemophilia. Phần lớn các trường hợp có thể điều trị bảo tồn, tuy nhiên khi xuất hiện triệu chứng tắc ruột hoàn toàn, phẫu thuật là cần thiết. Nhiều báo cáo khuyến nghị cắt đoạn ruột có máu tụ và nối ngay, song vẫn còn tranh luận về chỉ định này. Chúng tôi trình bày một ca bệnh tụ máu thành ruột non sát van hồi manh tràng được điều trị thành công bằng phương pháp mở ruột lấy máu tụ mà không cần cắt ruột. Bệnh nhi nam 9 tuổi, nhập viện vì tắc ruột sau 16 ngày bị tai nạn giao thông (ghi-đông xe đạp đập vào bụng). Bệnh nhân đau bụng tăng dần, nôn nhiều, không đáp ứng điều trị nội khoa. Khám có phản ứng thành bụng và vết bầm tím vùng bụng dưới. Hình ảnh X-quang cho thấy dấu hiệu tắc ruột, chụp cắt lớp vi tính ghi nhận tụ máu thành ruột non sát van Bauhin dài 7 cm gây tắc hoàn toàn lòng ruột. Phẫu thuật mở lớp thanh cơ ruột non lấy máu tụ được thực hiện, không cần cắt nối ruột. Sau mổ, bệnh nhân hồi phục tốt, không biến chứng. Tụ máu thành ruột non sau chấn thương ở trẻ em có thể dẫn tới tắc ruột hoàn toàn. Khi điều trị nội khoa thất bại, phẫu thuật mở thành ruột lấy máu tụ đơn thuần là lựa chọn khả thi, giúp bảo tồn tối đa nhu mô ruột.</em></p>Trần Xuân NamNguyễn Văn LinhPhạm Duy HiềnNguyễn Nguyên HồngĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198136737210.52852/tcncyh.v198i1.4502Kết quả phẫu thuật lồng ruột do Polyp Peutz-Jeghers ở trẻ em
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4504
<p class="p1"><em>Hội chứng Peutz–Jeghers (PJS) là bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, gây polyp hamartoma chủ yếu ở ruột non và dễ dẫn đến lồng ruột hoặc thiếu máu do chảy máu tiêu hóa. Mục tiêu điều trị là loại bỏ tối đa polyp để giảm biến chứng. Dù một số trung tâm đã áp dụng các kỹ thuật ít xâm lấn như nội soi viên nang hay nội soi ruột non bóng đôi, nhiều cơ sở vẫn phải dựa vào phẫu thuật mở. Nghiên cứu hồi cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương (2019 - 2024) gồm 13 trẻ PJS bị lồng ruột cần phẫu thuật, tuổi trung vị 5 tuổi, 6 trường hợp có tiền sử gia đình. Có 4 ca mổ cấp cứu và 9 ca bán cấp cứu; trong mổ, tất cả polyp > 15mm đều được mở ruột cắt bỏ, tối đa 8 polyp mỗi bệnh nhân, không có biến chứng sau mổ. Theo dõi trung bình 43 tháng ghi nhận 5 ca tái phát (trung vị 15 tháng), đều được phẫu thuật lại thuận lợi. Phẫu thuật mở vẫn là lựa chọn an toàn và hiệu quả trong bối cảnh thiếu kỹ thuật nội soi chuyên sâu, nhưng tỷ lệ tái phát nhấn mạnh nhu cầu theo dõi lâu dài và phát triển các phương pháp ít xâm lấn hơn.</em></p>Vũ Mạnh HoànPhạm Duy HiềnTrần Công SơnĐỗ Văn KhangTrần Xuân Nam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198137338110.52852/tcncyh.v198i1.4504Hiệu quả và tính an toàn của huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị nội mạc tử cung mỏng ở các bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4508
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của liệu pháp bơm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) tự thân vào buồng tử cung trên 50 bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm có tiền sử nội mạc tử cung (NMTC) mỏng đáp ứng kém với phác đồ hormone thay thế. Kết quả cho thấy chế phẩm PRP đạt nồng độ tiểu cầu trung bình 1247,53×10<sup>6</sup>/mL (gấp 5,07 lần máu ngoại vi). Về tính an toàn, không ghi nhận biến cố bất lợi nào được xác định liên quan trực tiếp đến thủ thuật. Về hiệu quả, liệu pháp giúp cải thiện độ dày NMTC có ý nghĩa thống kê từ 5,98 ± 0,72mm ở các chu kỳ trước lên 7,19 ± 0,99mm sau can thiệp (p < 0,001), giúp 70% (35/50) bệnh nhân đủ điều kiện chuyển phôi. Tỷ lệ thai lâm sàng trong nhóm chuyển phôi đạt 37,1% (13/35). Kết luận, bơm PRP tự thân là phương pháp an toàn và hiệu quả, giúp cải thiện độ dày NMTC và mang lại cơ hội có thai cho nhóm bệnh nhân NMTC mỏng kháng trị.</em></p>Nguyễn Thanh BìnhNguyễn Mạnh HàĐặng Quang VinhGiang Huỳnh NhưThẩm Thị Thu NgaLê Đức ThắngNguyễn Thị Thanh HuyềnLê Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198138239210.52852/tcncyh.v198i1.4508Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ của bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn T4 tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4509
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả các đặc điểm lâm sàng và hình ảnh MRI của các bệnh nhân ung thư vòm mũi họng giai đoạn T4. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 60 bệnh nhân giai đoạn T4 theo phân loại AJCC 2017 tại Bệnh viện K từ 01/2020 đến tháng 12/2022. Tuổi trung bình là 47,28 ± 12,85. Đa số bệnh nhân là nam giới (chiếm 60%), tỷ lệ nam/nữ là 3/2. 71.67% số bệnh nhân ghi nhận các triệu chứng thần kinh trung ương. Khối u T4 xâm lấn nội sọ chiếm tỷ lệ cao nhất (65%) trong đó chiếm chủ yếu là tổn thương màng não (53,33%). Đặc điểm của khối u trên cộng hưởng từ là đồng hoặc giảm tín hiệu trên T1 (100%), tăng tín hiệu trên T2, ngấm thuốc không đều mức độ từ trung bình tới mạnh (100%). </em></p>Nguyễn Văn ĐăngNguyễn Đình Đức
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198139340110.52852/tcncyh.v198i1.4509Sự thay đổi độ dày mô mềm vùng cằm và môi dưới sau điều trị nắn chỉnh có nhổ bốn răng hàm nhỏ ở người bệnh sai khớp cắn loại I
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4510
<p class="p1"><span class="s1"><em>Nghiên cứu hồi quy trên 34 đối tượng người Việt Nam trưởng thành nhằm mô tả sự thay đổi độ dày mô mềm vùng cằm và môi dưới sau điều trị nắn chỉnh răng có nhổ răng hàm nhỏ ở người bệnh vẩu xương ổ hai hàm và nhận xét mối tương quan giữa thay đổi độ dày mô mềm vùng cằm và môi dưới với các dịch chuyển của răng cửa. Kết quả cho thấy sau điều trị, độ dày môi dưới (LL-L1c) tăng trung bình 1,16 ± 0,87mm (p < 0,01), độ dày nền môi dưới (B-B’) giảm 1,18 ± 1,74mm (p < 0,01), độ dày Pog-Pog’ và Me-Me’ thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Sự thay đổi độ dày LL-L1c có tương quan thuận với mức độ kéo lùi rìa cắn răng cửa trên (U1tip-y), răng cửa dưới (L1tip-y) và điểm B (B-y). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy mô hình giải thích được 37,8% biến thiên độ dày LL-L1c (R² = 0,378; p = 0,002), với phương trình hồi quy: ΔLL-L1c = -2,129 + 0,112 (ΔB-B’tip - y) + 0,038 (ΔL1tip - y) + 0,111 (ΔB-y).</em></span></p>Phạm Như Châu PhươngPhạm Như HảiĐào Thị Dung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198140241110.52852/tcncyh.v198i1.4510Kết quả bước đầu phẫu thuật u màng não đá - dốc nền bằng đường mổ cắt xương đá kết hợp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4518
<p class="p1"><em> U màng não đá - dốc nền là thách thức lớn đối với phẫu thuật viên do vị trí sâu, liên quan đến các cấu trúc mạch máu - thần kinh quan trọng. Đường mổ mài cắt xương đá kết hợp cung cấp hành lang rộng đến đồng thời hố sọ giữa và sau của nền sọ để tiếp cận loại u này. Chúng tôi mô tả kỹ thuật mổ với các bước chính và báo cáo kết quả bước đầu. Nghiên cứu mô tả trên 6 bệnh nhân u màng não đá-dốc nền được phẫu thuật từ tháng 10/2024 đến tháng 6/2025, trong đó có 5 nữ và 1 nam, tuổi trung bình 55 (từ 40 đến 71). Kích thước u trung bình 50mm. Thời gian mổ trung bình 336 phút (từ 140 đến 660 phút). Lấy toàn bộ u đạt 50%, lấy gần toàn bộ 50%. Biến chứng mới sau mổ chiếm 33% với một trường hợp tê mặt và một trường hợp liệt dây VI, đều hồi phục. Không có tử vong hoặc biến chứng nặng, không ghi nhận rò dịch não tủy. Đường mổ cắt xương đá kết hợp là khả thi và an toàn cho u lớn, cho phép lấy u tối đa với tỷ lệ biến chứng chấp nhận được. </em></p>Phạm DuyTrần Sơn TùngNgô Mạnh HùngNguyễn Đức Đông
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198141241910.52852/tcncyh.v198i1.4518Giá trị của mô bệnh học trong tiên lượng bệnh nhân teo mật bẩm sinh sau phẫu thuật Kasai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4535
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả trên 65 bệnh nhân teo mật bẩm sinh (TMBS) tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn từ tháng 5/2022 đến tháng 4/2024 với mục tiêu nhận xét giá trị của mô bệnh học trong tiên lượng bệnh nhân teo mật bẩm sinh sau phẫu thuật Kasai. Thời gian theo dõi trung bình là 13,14 ± 4,73 tháng (6,0 – 23 tháng). Kết quả cho thấy tỉ lệ dẫn lưu mật thành công sau 6 tháng đạt 56,9% với thời gian đạt thoát mật thành công trung bình 2,5 ± 1,6 tháng. Một số đặc điểm giải phẫu bệnh tại thời điểm phẫu thuật có ảnh hưởng tới tiên lượng lâu dài gồm bệnh nhân xơ gan độ III- độ IV có điểm APRI; FIB-4 cao hơn so với nhóm xơ gan độ I - độ II (5 so với 1,7; 0,17 so với 0,07, p18 < 0,05). Bệnh nhân có tổn thương thoái hóa tế bào khổng lồ mức độ trung bình - nặng có điểm PELD trung bình cao hơn so với nhóm tổn thương thoái hóa tế bào khổng lồ mức độ nhẹ (19,67 ± 8,7 so với 1,01 ± 10,81, p18 < 0,05). Bệnh nhân có tổn thương thoái hóa tế bào khổng lồ mức độ trung bình - nặng và nhóm bệnh nhân có DPM (Dị dạng tấm ống) có xác suất sống sót tích lũy sau 18 tháng thấp hơn so với với nhóm tổn thương thoái hóa tế bào khổng lồ mức độ nhẹ (39% so với 100%, p = 0,006) và nhóm không có DPM (61% với 83%, p = 0,038).</em></p>Phạm Thị Hà VânHoàng Ngọc ThạchNguyễn Anh VănLê Phong ThuNguyễn Phạm Anh Hoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198142042810.52852/tcncyh.v198i1.4535Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh tích lũy Glycogen thể gan ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2014 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4539
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh tích lũy Glycogen (GSD) thể gan ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2014 - 2025. Nghiên cứu mô tả trên 88 trẻ GSD thể gan tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả cho thấy tỷ lệ nam/nữ là 61/27. Tuổi trung vị tại thời điểm chẩn đoán là 2,5 tuổi (IQR: 1,5 - 3,8). Các type GSD thể gan gặp nhiều nhất gồm: GSD IX (32,9%), GSD VI (30,7%) và GSD III (15,9%). Triệu chứng lâm sàng điển hình với gan to (94,3%), chậm phát triển thể chất (18,2%). Những bất thường cận lâm sàng chủ yếu gồm tăng AST (98,9%), tăng ALT (100%), tăng LDH (81,4%), tăng lactat (71,8%), tăng acid uric (69%), tăng triglycerid (48,3%), tăng cholesterol (27,9%) và hạ glucose máu (27,9%). Siêu âm ghi nhận gan to ở 95,5% bệnh nhân, lách to ở 6,8% bệnh nhân. Mô bệnh học đặc trưng bởi tế bào gan phồng to, bào tương sáng và nhuộm PAS dương tính.</em></p>Vi Thị GiangBùi Thị Thu HươngHoàng Ngọc ThạchNguyễn Phạm Anh Hoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198142943910.52852/tcncyh.v198i1.4539Đánh giá mức độ biến thiên giữa các phương pháp một số xét nghiệm ngoại kiểm sinh hóa năm 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4542
<p class="p1"><em>Nhiều nghiên cứu trước đã đánh giá độ chính xác của từng phương pháp xét nghiệm, tuy nhiên còn thiếu các khảo sát từ dữ liệu ngoại kiểm nhiều đợt để phản ánh mức độ biến thiên giữa các phương pháp trong điều kiện thực tế. Nghiên cứu này nhằm đánh giá mức độ biến thiên của các phương pháp định lượng Albumin, ALT, Glucose và HDL-Cholesterol dựa trên dữ liệu CV% của 12 đợt ngoại kiểm năm 2024. Kết quả cho thấy phương pháp BCG trong định lượng Albumin có CV% ổn định hơn BCP (IQR 3,81 – 4,75%). Với ALT, Tris buffer without P5P có trung vị CV% thấp và ổn định hơn Tris buffer with P5P. Đối với Glucose, Hexokinase có CV% thấp nhất (2,59%) và ổn định hơn Glucose oxidase và Glucose dehydrogenase. HDL-Cholesterol ghi nhận Direct HDL-Immunoseparation có CV% thấp nhất (6,63%) và ổn định hơn Clearance method và Polyethylene Glycol Modified Enzyme Method. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng về mức độ biến thiên giữa các phương pháp đo, hỗ trợ phòng xét nghiệm lựa chọn phương pháp có độ ổn định cao hơn nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm. </em></p>Võ Ngọc Nguyên Nguyễn Đàm Châu BảoTrần Thanh Hà VyNguyễn Thị Trúc LinhBùi Trắc Ngọc HânLê Trường ThịnhLiên Thị Lâm Oanh Trương Hoài NguyênĐinh Thị Khánh Như
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198144044810.52852/tcncyh.v198i1.4542Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tổn thương gan ở bệnh nhi có hội chứng Caroli
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4543
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng tổn thương gan ở bệnh nhi có hội chứng Caroli tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/01/2016 đến 31/08/2025. Nghiên cứu mô tả trên 40 bệnh nhi, có tuổi tại thời điểm vào nghiên cứu là 6,75 tuổi (IQR: 4,1 - 9,9). Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thường gặp gồm gan to (90%), lách to (85%), giảm tiểu cầu (110 G/L). Đánh giá tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở nhóm 34 bệnh nhân có thời gian theo dõi trên 12 tháng cho thấy 94,1% có triệu chứng này và tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa tiến triển dần theo tuổi. Có sự khác biệt giữa 2 nhóm bệnh nhân dưới 5 tuổi và nhóm trên 5 tuổi, nhóm bệnh nhân lớn có sự khác biệt về các triệu chứng giảm bạch cầu (4,98 so với 7,06 G/L) và tiểu cầu (80 so với 148 G/L), hoạt độ AST, ALT thấp hơn (38,4 và 19,2 so với 59,9 và 27 U/L) và creatinin cao hơn (49 so với 37,4 µmol/L). Siêu âm bụng và chụp cộng hưởng từ đường mật (MRCP) cho thấy tỷ lệ giãn đường mật trong gan lần lượt là 57,1% và 92,3%. Sinh thiết gan cho thấy tất cả trường hợp đều có giãn đường mật thành nang và xơ hóa khoảng cửa. Kiểu đột biến gen phổ biến nhất là PKHD1 dị hợp tử kép (87%). </em></p>Nguyễn Thùy LinhHoàng Thị HuếHoàng Ngọc ThạchNguyễn Phạm Anh Hoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198144945910.52852/tcncyh.v198i1.4543Bước đầu đánh giá hiệu quả lâm sàng của liệu pháp tiêm nội khớp tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn kết hợp huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát tại Bệnh viện Bưu Điện
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4566
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá kết quả lâm sàng trong điều trị tiêm tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn đồng loài kết hợp với huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trên bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp, theo dõi dọc và thực hiện trên 20 người bệnh được chẩn đoán thoái hóa khớp gối (40 khớp gối) theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội thấp khớp học Mỹ ACR 1991 và ở giai đoạn 2 - 3 theo phân loại của Kellgren và Lawrence, tại Bệnh viện Bưu điện. Kết quả nghiên cứu cho thấy: sau 6 tháng điều trị tất cả các triệu chứng đau theo dõi đều cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0,001); sau 3 tháng, tỷ lệ người bệnh còn triệu chứng cứng khớp giảm còn 15% và đến thời điểm 9 tháng là 12,5%. Sự giảm tỷ lệ cứng khớp có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Điểm VAS trung bình trước điều trị là 5,95 ± 0,82 giảm còn 0,1 ± 0,44; điểm WOMAC trung bình giảm từ 55,9 ± 8,4 trước điều trị xuống còn 5,65 ± 2,6 sau 9 tháng. Sự cải thiện có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Liệu pháp tiêm tế bào gốc trung mô từ mô dây rốn kết hợp với huyết tương giàu tiểu cầu tự thân trong điều trị thoái hóa khớp gối mang lại sự cải thiện về các triệu chứng lâm sàng. </em></p>Trần Hùng MạnhĐỗ Gia TrườngNguyễn Văn LongLê Minh ThuậnLê Mạnh ĐứcDương Văn ThànhPhạm Trường GiangVũ Thị Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198146047010.52852/tcncyh.v198i1.4566Kết quả điều trị bằng thuốc ức chế bơm Proton kết hợp Prokinetic ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản kháng trị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4633
<p class="p1"><em>Nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên đánh giá kết quả điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton kết hợp prokinetic ở bệnh nhân có triệu chứng trào ngược dạ dày thực quản (GERD) kháng trị. Nghiên cứu sử dụng 2 phác đồ điều trị trên 81 bệnh nhân: Esomeprazol liều gấp đôi (n = 38) và Esomeprazol 40mg kết hợp Mosaprid (n = 43), theo dõi triệu chứng lâm sàng, điểm GERQ, FSSG sau 4 tuần và 8 tuần, đo lại HRM sau 8 tuần. Sau 8 tuần, có sự cải thiện triệu chứng đáng kể thể hiện ở điểm FSSG và FSSG trào ngược giảm trên cả hai nhóm (p < 0,01). Tỷ lệ nhịp nuốt thất bại giảm, nhịp nuốt bình thường và áp lực cơ thắt thực quản dưới trên HRM tăng lên sau điều trị đối với bệnh nhân được điều trị Esomeprazol và Mosaprid (p < 0,05). Phối hợp PPI và prokinetics cho thấy hiệu quả cải thiện triệu chứng lâm sàng và thông số trên HRM ở bệnh nhân có triệu chứng GERD kháng trị. Không có sự khác biệt về các thông số trên HRM trước và sau điều trị ở nhóm sử dụng PPI liều gấp đôi (p > 0,05).</em></p>Hoàng Mạnh HùngNguyễn Thị Huyền TrangNguyễn Thu ThươngĐỗ Nhật PhươngHoàng Bảo LongĐào Văn LongĐào Việt Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198147148010.52852/tcncyh.v198i1.4633Đánh giá tình trạng liền vết thương và tình trạng sẹo ở người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu sử dụng phương pháp truyền thống tại khoa nam học và y học giới tính - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4379
<p class="p1"><em>Quá trình liền vết thương và hình thành sẹo sau phẫu thuật cắt bao quy đầu ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người bệnh. Nếu vết thương liền chậm hoặc sẹo hình thành quá mức, người bệnh có thể gặp biến chứng như đau, bung vết mổ, sẹo phì đại hoặc sẹo lồi, gây khó chịu khi đi tiểu và trong quan hệ tình dục. Hình dạng sẹo không thẩm mỹ có thể khiến người bệnh, đặc biệt là nam giới trẻ tuổi, giảm tự tin và lo lắng. Bên cạnh đó, chăm sóc sau mổ không đúng cách hoặc nhiễm trùng có thể kéo dài thời gian hồi phục, tăng chi phí điều trị và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Để đánh giá và nâng cao chất lượng chăm sóc sau phẫu thuật, nghiên cứu được thực hiện trên 81 người bệnh cắt bao quy đầu bằng phương pháp truyền thống tại Khoa Nam học và Y học giới tính - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Độ tuổi trung bình là 27 (16 - 53 tuổi), phần lớn có trình độ đại học trở lên (82,7%), sống ở thành thị (70,4%) và chưa kết hôn (70,4%). Sau 3 ngày, 10,6% vết thương liền tốt; tại thời điểm cắt chỉ, đạt 88,9%. Sau 6 tuần, 53,1% có sẹo lành đẹp, 4,9% sẹo xấu cần điều trị.</em></p>Chu Thị ChiNguyễn Hoài Bắc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198148149010.52852/tcncyh.v198i1.4379Tổng quan tường thuật có yếu tố hệ thống về quy trình kỹ thuật số khép kín trong chế tạo hàm chỉnh hình mũi-xương ổ răng (NAM) cho trẻ sơ sinh bị khe hở môi vòm miệng (CL/P)
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4349
<p class="p1"><em>Bài tổng quan tường thuật có yếu tố hệ thống này nhằm mô tả và phân tích chi tiết từng bước của quy trình kỹ thuật số khép kín trong chế tạo hàm chỉnh hình mũi-xương ổ răng (NAM) cho trẻ sơ sinh bị khe hở môi vòm miệng (CL/P). Một cuộc tìm kiếm y văn được thực hiện trên các cơ sở dữ liệu điện tử chuyên ngành đến hết tháng 9 năm 2025. Quy trình lựa chọn nghiên cứu tuân theo Sơ đồ PRISMA. Tiêu chí cốt lõi là các nghiên cứu phải mô tả đầy đủ quy trình kỹ thuật số khép kín trong chế tạo hàm NAM (từ thu thập dữ liệu bằng máy quét trong miệng (IOS) đến sản xuất khí cụ). Tổng cộng 227 bản ghi được xác định ban đầu, và sau quá trình sàng lọc nghiêm ngặt, chỉ có 3 nghiên cứu đáp ứng đầy đủ tiêu chí để đưa vào tổng quan. Quy trình kỹ thuật số khép kín bao gồm các bước: Thu thập dữ liệu 3D bằng máy quét trong miệng, Thiết kế có sự hỗ trợ của máy tính (CAD), Sản xuất có sự hỗ trợ của máy tính (CAM) bằng in 3D hoặc phay, và Giao hàm cùng theo dõi lâm sàng. Phương pháp này đã giải quyết được nguy cơ tắc nghẽn đường thở cố hữu của phương pháp truyền thống và mang lại lợi ích về tính an toàn, độ chính xác cao (giảm sai số thủ công), và hiệu quả về mặt thời gian. Các nghiên cứu được phân tích cho thấy hiệu quả lâm sàng tích cực của hàm NAM kỹ thuật số, đặc biệt là trong việc cải thiện sự thẳng hàng của cung răng và hình thái mũi. Mặc dù kết quả ban đầu đầy hứa hẹn, bằng chứng hiện tại vẫn còn hạn chế về quy mô và mức độ tin cậy. Cần triển khai các nghiên cứu đa trung tâm, thiết kế chặt chẽ hơn, cùng phân tích chi phí–hiệu quả và theo dõi dài hạn để xác định rõ vai trò của quy trình kỹ thuật số trong thực hành tiêu chuẩn của NAM.</em></p>Trương Mạnh NguyênPhùng Thị HuyềnVũ Thị HuệNông Thị Phương ThảoĐỗ Thị Kim OanhHoàng Thị ThảoVũ Thị HạnhTống Thị Kim TuyếnMai Thị ThảoTrần Tiến Thành
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198149150110.52852/tcncyh.v198i1.4349Một số yếu tố liên quan đến suy giáp ở phụ nữ sau mãn kinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4365
<p class="p1"><em>Với mối liên hệ tương hỗ giữa tuyến giáp và trục sinh dục, nhiều bằng chứng cho thấy có sự thay đổi về chức năng tuyến giáp liên quan đến từng giai đoạn của thời kỳ sinh sản nói chung và mãn kinh nói riêng. Tuy nhiên, sàng lọc chức năng tuyến giáp ở phụ nữ sau mãn kinh vẫn là vấn đề còn tranh cãi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 288 phụ nữ mãn kinh từ 50 - 90 tuổi nhằm xác định một số yếu tố liên quan với suy giáp ở phụ nữ sau mãn kinh, trong đó nhấn mạnh mối liên quan với tiền sử sản khoa. Kết quả ghi nhận, đái tháo đường có liên quan đến việc tăng nguy cơ suy giáp (OR = 2,94; p = 0,009). Đồng thời, nguy cơ suy giáp cũng cao hơn 2,27 lần ở những người tăng huyết áp (p = 0,043). Tiền sử mang thai từ 6 lần trở lên làm tăng 3,0 lần nguy cơ suy giáp (p = 0,017). Rối loạn chức năng tuyến giáp, đặc biệt suy giáp, là vấn đề phổ biến ở phụ nữ sau mãn kinh. Sàng lọc chức năng tuyến giáp cần được khuyến nghị đối với phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ cao như mắc đái tháo đường, tăng huyết áp và có tiền sử mang thai nhiều lần để chẩn đoán sớm và quản lý tối ưu.</em></p>Đặng Ngọc Vũ PhanNguyễn Thị Ngọc HânNguyễn Thị Thanh HươngMai Minh ThườngNguyễn Quang Bảy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198150251010.52852/tcncyh.v198i1.4365Thực trạng nuôi dưỡng người bệnh sau phẫu thuật đường tiêu hoá tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4376
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 người bệnh sau phẫu thuật đường tiêu hoá có chuẩn bị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024 - 2025 với mục tiêu nhằm mô tả thực trạng nuôi dưỡng sau phẫu thuật. Đối tượng nghiên cứu gồm 60,2% nam giới và 39,8% nữ giới. Thời gian bắt đầu nuôi dưỡng đường miệng trung bình là 2,2 ± 1,2 ngày, sớm nhất vào ngày đầu tiên sau phẫu thuật. Thời gian trung tiện trung vị ở nhóm bắt đầu nuôi dưỡng đường miệng trong vòng 24 giờ đầu sau phẫu thuật là 22 giờ (sớm hơn so với nhóm nuôi dưỡng sau 24 giờ hậu phẫu là 34,5 giờ, p < 0,05). Năng lượng cung cấp chỉ đạt 48,8 - 65,6% và protein đạt 50 - 66,7% so với nhu cầu khuyến nghị; vitamin và khoáng chất đều thiếu so với nhu cầu. Kết quả cho thấy mặc dù người bệnh được khởi động nuôi dưỡng đường tiêu hóa sớm hơn nhưng chế độ dinh dưỡng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu khuyến nghị.</em></p>Công Thị Ngọc ÁnhTrần Ngọc DũngNguyễn Võ Nhị HàPhạm Thị Tuyết ChinhNguyễn Thùy Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198151152010.52852/tcncyh.v198i1.4376Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận dạng giọng nói ở bệnh nhân Parkinson
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4377
<p class="p1"><em>Nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Al) trong nhận dạng giọng của bệnh nhân Parkinson (PD) so với người khỏe mạnh, dữ liệu tiếng Việt. Nghiên cứu cắt ngang, thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2024 đến 2025, với 20 bệnh nhân được chẩn đoán PD và 60 người đối chứng khỏe mạnh. Giọng nói được ghi âm: kéo dài nguyên âm /a/, /i/, /u/ (≥ 3 giây, lặp lại 3 lần), đọc câu chuẩn 25 âm tiết và nói tự do trong 30 giây. Đanh giá các đặc trưng âm học gồm jitter, shimmer, độ hài thanh (HNR), tần số cơ bản (F0) trung bình/ độ lệch chuẩn và chỉ số âm học (MFCC). Huấn luyện hai mô hình Al: Máy vectơ hỗ trợ với hàm nhân cơ sở (SVM - RBF kernel) và Mạng nơ-ron tích chập trên biểu phổ Mel, đánh giá bằng hệ kiểm định chéo 5 phần. Kết quả: Mô hình CNN đạt độ chính xác với AUC 0,91, độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 84%. </em></p>Phạm Thị Bích ĐàoNguyễn Diệu MyNguyễn Thị HằngNguyễn Thị Anh ĐàoNgô Thị NgọcNguyễn Thị Thái ChungPhan Xuân NamLê Minh ĐạtNguyễn Quang Quyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198152152810.52852/tcncyh.v198i1.4377Sự hài lòng của sản phụ được giảm đau trong chuyển dạ bằng gây tê ngoài màng cứng và một số yếu tố ảnh hưởng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4321
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá tỷ lệ hài lòng và mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng của sản phụ được gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, từ tháng 10/2024 – tháng 6/2025 trên 260 sản phụ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Bộ 18 câu hỏi dạng Likert, phân tích hồi quy logistic đơn biến và đa biến để tìm các yếu tố ảnh hưởng. Kết quả có 88,8% sản phụ hài lòng với gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ. Thời gian chờ được gây tê ≤ 30 phút tăng khả năng hài lòng của sản phụ (OR = 18,65, p < 0,001). Sản phụ được tư vấn về kỹ thuật gây tê trước sinh, trong quá trình chuyển dạ cảm thấy được hỗ trợ đều làm tăng yếu tố hài lòng (OR = 5,97 và 10,84, p < 0,01, theo thứ tự). Gây tê ngoài màng cứng được sản phụ hài lòng ở mức cao, nhiều yếu tố ảnh hưởng như thời gian chờ, hiểu biết trước gây tê và tăng cường cảm giác được chăm sóc của sản phụ.</em></p>Trần Việt ĐứcĐỗ Thế QuyềnTrần Hồng ĐứcPhạm Quang MinhVũ Hoàng PhươngNguyễn Hữu Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198152953810.52852/tcncyh.v198i1.4321Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và yếu tố nguy cơ biến chứng nặng ở trẻ mắc sởi tại Bệnh viện Nhi Hà Nội năm 2024-2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4397
<p class="p1"><em>Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút sởi gây ra, có thể dẫn đến nhiều biến chứng nặng, thậm chí tử vong. Nghiên cứu mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và yếu tố nguy cơ nặng ở trẻ mắc sởi tại Bệnh viện Nhi Hà Nội năm 2024 – 2025. Nghiên cứu thu thập được 659 trường hợp, nhóm tuổi dưới 9 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (43,7%), tỉ lệ nam/nữ là 1,7/1. Hơn 57,4% trẻ chưa được tiêm vắc xin và 8,2% có bệnh nền. Biến chứng thường gặp nhất là viêm phổi (80,1%), tiếp theo là viêm dạ dày ruột (56%). Có 110 trẻ (16,7%) diễn biến nặng. Trẻ có bệnh nền làm tăng nguy cơ biến chứng nặng gấp 3,69 lần (95% CI: 2,04 - 6,67; p < 0,001); sốt cao > 39°C làm tăng nguy cơ 1,57 lần (95% CI: 1,02 - 2,42; p = 0,039). </em></p>Đỗ Thị Thuý NgaNguyễn Sỹ ĐứcTrần Hoàng Thị HoàiĐặng Quang NhậtNguyễn Thị Tú Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198153954710.52852/tcncyh.v198i1.4397Viêm phổi cộng đồng ở trẻ em: Phân tích căn nguyên và tính kháng kháng sinh tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4412
<p class="p1"><em>Việc xác định được căn nguyên viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) có ý nghĩa quan trọng nhằm điều trị có hiệu quả và hạn chế lạm dụng kháng sinh. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 400 bệnh nhân từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán VPCĐ có kết quả cấy dịch tỵ hầu dương tính vi khuẩn tại khoa hô hấp bệnh viện đa khoa Xanh Pôn từ 06/2023 đến 06/2024 nhằm mô tả căn nguyên và tính kháng kháng sinh của vi khuẩn gây VPCĐ ở trẻ em. Căn nguyên phổ biến là: Streptococcus pneumoniae (32,8%), Moraxella catarrhalis (28,1%) và Haemophilus influenzae (27,6%), Staphylococcus aerius (6,5%). Nhóm vi khuẩn Gram âm có tỷ lệ cao hơn nhóm vi khuẩn gram dương ở đặc điểm tăng số lượng bạch cầu > 10 G/L. Haemophilus influenzae có tỷ lệ kháng cao với các dòng kháng sinh nhóm beta-lactam và macrolid. Các kháng sinh cephalosporin thế hệ 3 chỉ có độ nhạy trung bình với cả Streptococcus pneumoniae và Haemophilus influenzae. Tình trạng kháng các kháng sinh beta-lactam và macrolid ở mức báo động, đòi hỏi cần tối ưu hóa phác đồ điều trị theo dữ liệu vi sinh và giám sát chặt chẽ.</em></p>Vũ Thị TrangLê Thị VănNinh Quốc Đạt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198154855510.52852/tcncyh.v198i1.4412Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị nội trú tại khoa nội tiết Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4312
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 269 người bệnh điều trị nội trú tại Khoa Nội Tiết – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 11/2024 đến tháng 3/2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng dinh dưỡng của người bệnh theo BMI: 14,5% suy dinh dưỡng, 48,7% bình thường và 36,8% thừa cân/béo phì. Đánh giá theo SGA: 53,2% Đối tượng có nguy cơ suy dinh dưỡng nhẹ, không có nguy cơ 43,5% và nguy cơ cao 3,3%. Những yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng bao gồm giới tính, chỉ số HbA1c, và chỉ số triglyceride (p < 0,05). </em></p>Hoàng Lý Thúy HườngNguyễn Thị Thu HươngVũ Thùy Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198155656410.52852/tcncyh.v198i1.4312Nồng độ HS-CRP huyết thanh và nguy cơ tim mạch ở người bệnh đái tháo đường típ 2
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4331
<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá, nhận xét mối liên quan giữa nồng độ hs-CRP với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở người bệnh đái tháo đường típ 2. Nghiên cứu tiến hành trên</em> <em>102 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đến khám và điều trị tại khoa Nội tiết và phòng khám Nội tiết Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Kết quả cho thấy nồng độ hs-CRP không khác biệt theo giới và tuổi; hs-CRP tăng có ý nghĩa ở bệnh nhân có tăng huyết áp (p = 0,015), thừa cân/béo phì (p = 0,003). Nồng độ hs-CRP có mối tương quan với glucose máu đói (r = 0,294; p = 0,002) và HbA1c (r = 0,374; p < 0,001). Phân tích hồi quy đa biến xác định BMI (p = 0,016) và HbA1c (p = 0,003) là hai yếu tố liên quan độc lập với hs-CRP. Kết luận: hs-CRP huyết thanh có mối liên quan với tình trạng viêm nền và các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, đặc biệt là BMI và HbA1c.</em></p>Nguyễn Thị QuỳnhVũ Bích Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198156557110.52852/tcncyh.v198i1.4331Kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn tại trung tâm tim mạch - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4344
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 người bệnh tại Trung tâm Tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thực hiện nhằm mô tả kiến thức và thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn và một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu cho thấy kiến thức chung của người bệnh còn ở mức trung bình và khá với điểm trung bình kiến thức của là 13,93 ± 4,17. Thực hành tự chăm sóc của người bệnh suy tim mạn còn thấp ở hành vi ăn giảm muối, theo dõi cân nặng, kiểm soát cân nặng. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, đã từng phẫu thuật tim trước đây.</em></p>Lê Thị TrangTrịnh Thị Thanh TuyềnNguyễn Thị Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198157258010.52852/tcncyh.v198i1.4344Tình trạng rối loạn chức năng tình dục ở phụ nữ dưới 50 tuổi mắc đái tháo đường typ 2
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4356
<p class="p1"><em>Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát chức năng tình dục và tìm hiểu các yếu tố liên quan ở bệnh nhân nữ mắc đái tháo đường typ 2 dưới 50 tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 157 phụ nữ, gồm 78 người mắc đái tháo đường typ 2 và 79 người không mắc bệnh, có đặc điểm nhân khẩu học tương đồng. Chức năng tình dục được đánh giá bằng bộ câu hỏi FSFI (Female Sexual Function Index) và tình trạng sức khỏe tâm lý được đo lường bằng thang điểm DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scale). Kết quả cho thấy, tỷ lệ rối loạn chức năng tình dục ở nhóm đái tháo đường typ 2 là 67,9%, cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (48,1%, p = 0,012). Điểm trung bình FSFI ở nhóm bệnh là 23,4 ± 4,7, thấp hơn nhóm chứng (26,1 ± 3,3), p = 0,001. Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chức năng tình dục với các yếu tố lâm sàng hoặc sinh hóa của bệnh đái tháo đường. Ngược lại, tần suất quan hệ tình dục, rối loạn lo âu và trầm cảm có mối liên quan rõ rệt với rối loạn chức năng tình dục. </em></p>Vũ Bích NgaNguyễn Thị Thanh HươngĐỗ Thu ThảoTrần Thị Hải
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198158159010.52852/tcncyh.v198i1.4356Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4366
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng của người bệnh phẫu thuật đường tiêu hóa có chuẩn bị. Trong 98 người bệnh được phẫu thuật (PT) đường tiêu hóa có chuẩn bị, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) sau PT theo BMI là 11,2% trong đó PT dạ dày chiếm tỷ lệ cao nhất là 27,7%. Tỷ lệ SDD sau PT theo GLIM là 70,4%; nguy cơ SDD ở 2 nhóm PT dạ dày và PT trực tràng/hậu môn diễn ra phổ biến nhất với > 73% trong đó SDD mức độ nặng ở nhóm PT dạ dày chiếm tỷ lệ cao nhất là 52,2%. Người bệnh đều có tình trạng giảm cân trong thời gian nằm viện (giảm < 5% cân nặng) chiếm tỷ lệ cao nhất là 75,5%; 18,4% người bệnh có giảm Albumin < 35 g/l, tỷ lệ thiếu máu sau PT là 30,6%. Thời gian nằm viện sau phẫu thuật của người bệnh suy dinh dưỡng dài hơn so với người bệnh có tình trạng dinh dưỡng bình thường (7 ngày so với 6 ngày ở nhóm không SDD).</em></p>Nguyễn Thùy LinhCông Thị Ngọc ÁnhNguyễn Thị Minh TâmTrần Ngọc Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198159159910.52852/tcncyh.v198i1.4366Thực trạng và khó khăn trong chăm sóc trẻ có phẫu thuật lỗ tiểu lệch thấp tại Việt Nam
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4380
<p class="p1"><em>Lỗ tiểu lệch thấp (LTLT) là dị tật bẩm sinh niệu dục thường gặp ở trẻ trai (1/200-1/300 trẻ nam). Phẫu thuật chỉnh hình niệu đạo là phương pháp điều trị chính, song hiệu quả lâu dài phụ thuộc nhiều vào chăm sóc sau mổ. Mục tiêu: Bài viết tổng hợp các khuyến cáo quốc tế, mô tả thực trạng chăm sóc sau phẫu thuật LTLT tại Việt Nam và đề xuất định hướng chuẩn hóa quy trình chăm sóc điều dưỡng. Nội dung: Các hướng dẫn quốc tế nhấn mạnh vai trò của chăm sóc sau mổ, bao gồm quản lý ống thông tiểu, thay băng, phòng ngừa nhiễm trùng và giáo dục gia đình. Ở Việt Nam, quy trình chăm sóc chưa thống nhất, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm từng cơ sở, thiếu tài liệu hướng dẫn chuẩn hóa. Kết luận: Chăm sóc sau mổ LTLT đóng vai trò then chốt trong giảm biến chứng và cải thiện kết quả điều trị. Cần xây dựng khuyến cáo và đào tạo điều dưỡng chuyên biệt để tiệm cận xu hướng quốc tế.</em></p>Đinh Quang HảiNguyễn Hoài Bắc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198160060910.52852/tcncyh.v198i1.4380Ứng dụng mô hình trí tuệ nhân tạo quản lý bệnh nhân rối loạn giọng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4420
<p class="p1"><em>Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2024 đến năm 2025 nhằm đánh giá hiệu quả mô hình trí tuệ nhân tạo (AI-VoiceCare) quản lý bệnh nhân rối loạn giọng. 312 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn giọng. Mô hình AI sử dụng mạng nơ-ron tích chập (Convolutional Neural Network - CNN) phân tích phổ Mel, tích hợp hệ thống AI-VoiceCare quản lý hồ sơ điện tử ngoại trú. Kết quả thấy mô hình đạt độ chính xác 92,1%, độ nhạy 0,90, đặc hiệu 0,93 trong phân loại giọng bệnh lý; thời gian xử lý hồ sơ giảm 61,1%, sai sót ghi chép giảm 60,9%. Sau sáu tháng triển khai, tỷ lệ bệnh nhân tái khám đúng hẹn tăng từ 48,7% lên 76,3%, 68,5% bệnh nhân ghi nhận cải thiện rõ rệt về giọng sau trị liệu có hỗ trợ AI. 84,3% bác sĩ đánh giá hệ thống “hữu ích” hoặc “rất hữu ích”. Ứng dụng AI-VoiceCare giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán, quản lý và phục hồi giọng, hướng tới mô hình chăm sóc cá thể hóa cho người bệnh.</em></p>Lê Minh ĐạtPhạm Thị Bích ĐàoNguyễn Thị HằngĐỗ Tiến LộcNguyễn Thị Anh ĐàoNguyễn Quý ĐônNguyễn Thị Xuân HoàNguyễn Diệu MyNguyễn Mạnh HưngPhan Xuân Nam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198161061710.52852/tcncyh.v198i1.4420Hiệu quả ứng dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học và học sâu trong tự động đồng bộ và nhận định kết quả đo mật độ xương tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4447
<p class="p1"><em>Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học và học sâu (OCR-DL) trong tự động hóa, chuẩn hóa và đồng bộ dữ liệu đo mật độ xương bằng tia X năng lượng kép (DEXA) tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 6.960 bản đo mật độ xương, so sánh 4 cấp độ ứng dụng công nghệ: thủ công, HIS, HIS tích hợp hệ thống tự động (HTTĐ), HIS tích hợp hệ thống tự động và OCR-DL. Kết quả cho thấy hệ thống tích hợp OCR-DL giúp tăng tổng số điểm dữ liệu có cấu trúc lên 20,49 triệu (tăng 10 lần so với hệ thống tự động và hơn 100 lần so với hệ thống HIS đơn thuần), đồng thời giảm thời gian xử lý kết quả từ 36,1 ± 1,9 phút xuống còn 0,79 ± 0,1 phút/ca, tiết kiệm > 8.000 giờ lao động/năm, tương đương hơn 600 triệu đồng/năm với độ chính xác tổng thể là 100%. Khảo sát định tính trên 28 người dùng cho thấy 100% đánh giá mức độ hài lòng cao, khẳng định hệ thống dễ sử dụng, có giá trị ứng dụng cao. Hệ thống giúp nâng cao hiệu quả chuyên môn và góp phần thúc đẩy kinh tế xanh, tuần hoàn và chia sẻ trong y tế số, hướng tới bệnh viện thông minh, phát triển bền vững.</em></p>Bùi Mỹ HạnhNguyễn Thị Thùy TrangNguyễn Tất HậuKhuất Thị Ngọc Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198161863010.52852/tcncyh.v198i1.4447Hiệu quả ứng dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học trong tự động đồng bộ và nhận định kết quả đo chức năng hô hấp tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4455
<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả ứng dụng công nghệ nhận dạng ký tự quang học trong tự động đồng bộ và nhận định kết quả đo chức năng hô hấp (CNHH). 40 chuyên gia thực hiện phân tích định tính và định lượng ứng dụng hệ thống trên 11.778 bản đo chức năng hô hấp tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong giai đoạn từ 04/2025 đến 09/2025. Kết quả cho thấy 100% người dùng đánh giá cao tính thân thiện, khả năng tích hợp, tính nhanh chóng, độ chính xác và tính sẵn sàng của hệ thống. Thời gian xử lý mỗi bản đo giảm 24 lần, tiết kiệm 4.554 giờ làm việc, tương ứng giảm 204,2 - 536,7 triệu đồng chi phí nhân lực, vận hành; với 2,14 tỷ điểm dữ liệu được lưu trữ. Hệ thống chứng minh hiệu quả vượt trội trong tự động hóa quy trình đo - phân tích - lưu trữ, góp phần chuẩn hóa dữ liệu, giảm sai sót và nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác dữ liệu y tế.</em></p>Bùi Mỹ HạnhVương Thị NgânNguyễn Tất Hậu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198163164110.52852/tcncyh.v198i1.4455Kết quả nhân trắc học sau phẫu thuật nam tính hóa khuôn ngực ở bệnh nhân chuyển giới nam: Đánh giá dựa trên tiêu chuẩn nam giới sinh học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4476
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự thay đổi các chỉ số nhân trắc ngực sau phẫu thuật nam tính hóa và so sánh với tiêu chuẩn nam giới sinh học ở người chuyển giới nam Việt Nam. Thiết kế thuần tập hồi cứu được tiến hành tại hai bệnh viện từ năm 2022 đến 2025 trên 32 bệnh nhân chuyển giới nam được phẫu thuật cắt tuyến vú và tạo hình quầng núm vú, so sánh với nhóm chứng gồm 152 nam giới sinh học. Kết quả cho thấy sau phẫu thuật, khoảng cách liên núm vú, khoảng cách hõm ức–núm vú và đường kính quầng vú đều giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), giúp hình thái ngực tiệm cận đặc điểm nam giới sinh học. Tuy nhiên, nhóm chuyển giới sau mổ vẫn có tỷ lệ khoảng cách liên núm vú/chiều rộng ngực nhỏ hơn và kích thước núm vú lớn hơn so với nhóm chứng (p < 0,05). Phẫu thuật tạo hình ngực nam tính giúp cải thiện đáng kể đặc điểm nhân trắc, song cần tối ưu hóa kỹ thuật nhằm đạt tính thẩm mỹ và hài hòa cao hơn với tiêu chuẩn nam giới Việt Nam.</em></p>Nguyễn Minh NghĩaPham Thị Việt DungTrần Thiết Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198164265210.52852/tcncyh.v198i1.4476Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4145
<p class="p1"><em>Dinh dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển con người, đặc biệt trong những năm đầu đời. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 148 trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn từ tháng 7/2024 đến tháng 7/2025 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tất cả 148 trẻ đến từ Hà Nội. Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt là 7,43%, 12,16%, 12,84%. Tỷ lệ thừa cân/béo phì cũng rất đáng lo ngại, chiếm 5,41%. Tình trạng thiếu kẽm và thiếu sắt rất phổ biến với tỷ lệ cao lần lượt là 65,71% và 63,27%. Thiếu vitamin D cũng là một vấn đề đáng chú ý với 18,24%. Kết quả phản ánh xu hướng chung về ba gánh nặng dinh dưỡng (thiếu dinh dưỡng, thiếu vi chất dinh dưỡng và thừa cân/béo phì) ở trẻ em, đặc biệt là ở nhóm trẻ đến khám tại bệnh viện.</em></p>Lê Thị TìnhNguyễn Thị Kim DungNguyễn Thị Thúy Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198165366210.52852/tcncyh.v198i1.4145Phát triển thể chất ở trẻ sau phẫu thuật cắt ruột và một số yếu tố liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4154
<p class="p1"><em>Phát triển thể chất tốt có vai trò quan trọng đối với trẻ em và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, môi trường sống, gen di truyền và đặc biệt tình trạng bệnh tật kèm theo. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả sự phát triển thể chất ở trẻ sơ sinh sau phẫu thuật cắt ruột 12 tháng và xác định một số yếu tố ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu thu thập được 67 trẻ (61,2% trẻ nam), tỷ lệ trẻ đẻ non 31,3%, 34,3% trẻ có suy chức năng ruột, 86,6% trẻ có cắt đoạn ruột non, 91% trẻ dinh dưỡng đường miệng hoàn toàn. 34,4% suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 38,8% thấp còi, suy dinh dưỡng thể gầy còm (14,9%), 28,4% trẻ có vòng đầu nhỏ. Tình trạng suy chức năng ruột, có hậu môn nhân tạo và chiều dài ruột non < 100cm là yếu tố liên quan tới sự tăng trưởng thể chất của trẻ.</em></p>Nguyễn Thị HằngLê Thị HươngTrần Tiến ĐạtNguyễn Hà ThuNguyễn Thị Thuý Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198166367210.52852/tcncyh.v198i1.4154Khảo sát tỷ lệ biến cố tim mạch trong vòng sáu tháng sau xuất viện và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4419
<p class="p1"><em>Bệnh nhân sống sót sau nhồi máu cơ tim vẫn đối mặt với nguy cơ tử vong cao do xuất hiện các biến cố tim mạch cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Vì vậy, việc xác định tỷ lệ xảy ra các biến cố này cũng như những yếu tố liên quan có ý nghĩa quan trọng trong quản lý và điều trị cho người bệnh. Nghiên cứu tiến hành với mục tiêu: khảo sát tỷ lệ biến cố tim mạch và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim điều trị tại Khoa Tim mạch Can thiệp - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong thời gian từ tháng 12/2024 đến tháng 09/2025. Kết quả, tổng số 196 bệnh nhân với tuổi trung bình: 66,08 ± 10,58 tuổi, nam giới chiếm tỷ lệ là 71,4%. Kết thúc thời gian theo dõi 6 tháng, ghi nhận có 40 bệnh nhân xuất hiện biến cố tim mạch, chiếm tỷ lệ là 20,4%. Các yếu tố như đái tháo đường, rối loạn lipid máu và hút thuốc lá làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch với giá trị lần lượt là OR = 2,93; OR = 2,27 và OR = 2,31. Phân tích đa biến, ghi nhận đái tháo đường (OR = 2,59); rối loạn lipid máu (OR = 3,06), hút thuốc lá (OR = 2,63), điểm GRACE (OR = 0,97) và TIMI (OR = 0,62) là các yếu tố độc lập tác động đến sự xuất hiện của biến cố tim mạch. Bằng chứng trên cho thấy, tỷ lệ biến cố tim mạch sau 6 tháng theo dõi ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp khá cao. Các yếu tố gồm đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc, điểm GRACE và TIMI là những yếu tố độc lập tác động đến sự xuất hiện của biến cố tim mạch trong vòng 6 tháng sau xuất viện.</em></p>Ngô Hoàng ToànTrần Kim Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198167368010.52852/tcncyh.v198i1.4419Mức độ cô đơn, lo âu và khả năng độc lập sinh hoạt ở bệnh nhân trầm cảm cao tuổi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4494
<p class="p1"><em>Trầm cảm ở người cao tuổi là tình trạng phổ biến, gây suy giảm sức khỏe thể chất, tinh thần và khả năng tự chăm sóc, đồng thời thường đi kèm cảm giác cô đơn, lo âu và giảm độc lập trong sinh hoạt. Nghiên cứu này mô tả mức độ cô đơn theo thang UCLA, lo âu theo thang HAM-A và khả năng độc lập sinh hoạt theo thang Katz ADL, đồng thời phân tích mối liên quan giữa các yếu tố này với mức độ trầm cảm ở người cao tuổi. Mô tả cắt ngang thực hiện trên 147 bệnh nhân ≥60 tuổi, chẩn đoán trầm cảm theo thang GDS-30. Phân tích mối liên quan bằng T-test và Mann-Whitney. Kết quả cho thấy điểm UCLA và HAM-A ở nhóm này cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Trung vị điểm Katz là 6 (IQR = 3); có 11,6% người bệnh phụ thuộc một phần và 23,8% phụ thuộc hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày. Nghiên cứu cho thấy cô đơn, lo âu và suy giảm chức năng sinh hoạt là những vấn đề thường gặp ở người cao tuổi trầm cảm, cần được tầm soát và can thiệp sớm trong chăm sóc tâm thần–lão khoa.</em></p>Nguyễn Văn ThốngNguyễn Hoàng Thanh Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198168168910.52852/tcncyh.v198i1.4494Các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh: So sánh giữa hệ chính quy và hệ giáo dục thường xuyên
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4506
<p class="p1"><em>Độ tuổi trung học phổ thông (THPT) được xem là giai đoạn quan trọng và theo các báo cáo các vấn đề sức khỏe tâm thần (SKTT) thường xuất hiện ở độ tuổi này. Chương trình đào tạo tại Việt Nam được chia thành 2 loại hình: hệ chính quy và hệ giáo dục thường xuyên (GDTX) với những điểm đặc trưng riêng biệt và có thể có sự tác động khác nhau lên tình trạng SKTT. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 2631 học sinh THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nhằm so sánh tỷ lệ các vấn đề SKTT ở 2 hệ đào tạo. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc và dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền gồm đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm học tập và đặc điểm SKTT. Tỷ lệ các vấn đề SKTT ở học sinh THPT 2 hệ đào tạo có sự khác nhau, cụ thể hệ chính quy (dao động từ 22,4% đến 53,4%) cao hơn hệ GDTX (từ 18,7% đến 47,1%). Kết quả đơn biến cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trầm cảm, lo âu và ý định tự tử ở học sinh THPT 2 hệ đào tạo. Tuy nhiên, khi hiệu chỉnh theo các yếu tố khác trong phân tích đa biến thì không có khác biệt giữa 2 hệ đào tạo về các vấn đề SKTT. Vì vậy, cần có các chương tình hỗ trợ, can thiệp về SKTT cho học sinh ở cả 2 hệ đào tạo.</em></p>Nguyễn Thị TrangLê Võ Hồng TuyếtThái Thanh Trúc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198169069910.52852/tcncyh.v198i1.4506Đánh giá sự cải thiện điểm trầm cảm, lo âu, căng thẳng (DASS - 21) sau truyền tế bào gốc trung mô tự thân từ mô mỡ ở phụ nữ mắc rối loạn chức năng tình dục
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4528
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của liệu pháp truyền tế bào gốc trung mô tự thân từ mô mỡ (TBGTM) đối với điểm trầm cảm, lo âu và căng thẳng theo thang DASS-21 ở phụ nữ mắc rối loạn chức năng tình dục. Thiết kế nghiên cứu là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 50 phụ nữ từ 40 đến dưới 51 tuổi, chia thành hai nhóm tương đương. Nhóm A được truyền tĩnh mạch TBGTM tại thời điểm ban đầu và nhắc lại sau 3 tháng; nhóm B được theo dõi không can thiệp trong 6 tháng đầu trước khi điều trị theo cùng phác đồ. Điểm DASS-21 được đánh giá tại các thời điểm trước can thiệp và sau 1, 3, 6 và 12 tháng. Sau 6 tháng, nhóm A cho thấy mức giảm điểm DASS-21 rõ rệt và có ý nghĩa thống kê so với nhóm B. Kết quả bước đầu cho thấy liệu pháp TBGTM có tiềm năng cải thiện các triệu chứng trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở phụ nữ rối loạn chức năng tình dục.</em></p>Nguyễn Hoàng PhươngNguyễn Thị Tân SinhHoàng Thanh VânLê Phương Hoàng AnhNguyễn Vân AnhĐỗ Thị Thanh Toàn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198170071410.52852/tcncyh.v198i1.4528Mô hình bệnh tật và tình hình điều trị nội trú bệnh da liễu tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương năm 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4547
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả mô hình bệnh tật và tình hình điều trị nội trú bệnh da liễu tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2024. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu; Kết quả khảo sát 577 hồ sơ bệnh án. Các nhóm bệnh chủ yếu là nhóm bệnh Viêm da chàm (54,9%), nhóm bệnh da do Virus (15,9%) và nhóm bệnh đỏ da có Sẩn vảy (10,1%). Các bệnh thường gặp là Viêm da cơ địa (49,9%), bệnh do Herpes zoster (15,9%), Vảy nến (10,1%), Mày đay (5,2%), Viêm da tiếp xúc (4,2%.). Các chứng bệnh chính theo Y học cổ truyền là Phong chẩn (48,7%), Bạch sang (10,1%), Đới bào chẩn và Tầm sang (15,9%), Thấp chẩn (6,3%), Ân chẩn (5,2%). Phương pháp điều trị kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại chiếm đa số (91,3%); Thuốc Y học cổ truyền được sử dụng chủ yếu dưới dạng thuốc thang sắc uống và thuốc ngâm dùng ngoài. Tình trạng bệnh khi ra viện chủ yếu là đỡ (86,7%).</em></p>Trần Thị Phương Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198171572210.52852/tcncyh.v198i1.4547Phẫu thuật nội soi sau phúc mạc bóc bạch mạch điều trị đái dưỡng chấp: Báo cáo loạt ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4350
<p class="p1"><em>Điều trị đái dưỡng chấp chủ yếu là thay đổi chế độ ăn và các can thiệp ít xâm lấn (bơm các chất gây xơ, can thiệp bạch mạch). Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, can thiệp bạch mạch được xem là lựa chọn đầu tay trong điều trị bệnh lý này. Tuy nhiên, ở các bệnh nhân can thiệp bạch mạch thất bại hoặc không có chỉ định can thiệp bạch mạch thì phẫu thuật lại đóng một vai trò quan trọng. Chúng tôi đã thực hiện phẫu thuật nội soi bóc bạch mạch cho nhóm bệnh nhân này và đã thu được các kết quả bước đầu tích cực. Tuy nhiên cần có các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn để đưa ra kết luận này này.</em></p>Trần Quốc HòaHoàng LongTrần Tuấn AnhNguyễn Đình Bắc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198172373010.52852/tcncyh.v198i1.4350Bệnh viêm hạch Kikuchi ở trẻ em: Báo cáo ca bệnh và tổng quan tài liệu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4269
<p class="p1"><em>Bệnh Kikuchi-Fujimoto là một tình trạng hiếm gặp ở trẻ em đặc trưng bởi viêm hạch hoại tử và sốt, bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch, chẩn đoán xác định bệnh dựa vào xét nghiệm mô bệnh học tổ chức hạch. Chúng tôi báo cáo một ca bệnh trẻ nữ, 11 tuổi, vào viện vì sốt và sưng đau vùng cổ trái ngày thứ 12. Trẻ được điều trị ban đầu theo hướng viêm hạch nhiễm trùng nhưng đáp ứng kém với liệu pháp kháng sinh, sau đó trẻ được tầm soát một số bệnh tự miễn nhưng chưa đủ tiêu chuẩn. Cuối cùng, chúng tôi tiến hành sinh thiết hạch làm mô bệnh học để chẩn đoán. Kết quả mô bệnh học phù hợp với chẩn đoán: Bệnh Kikuchi - Fujimoto. Bệnh nhân hết sốt sau khoảng 3 tuần điều trị, được theo dõi tại nhà, đánh giá lại sau 2 tuần, tình trạng ổn định. Kết luận: Bệnh Kikuchi - Fujimoto là một tình trạng viêm hiếm gặp nhưng tự giới hạn ở trẻ em, chẩn đoán xác định dựa vào mô bệnh học. Bệnh có tỷ lệ tái phát nên cần theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện. </em></p>Đỗ Thị Thúy NgaNguyễn Sỹ ĐứcLê Thị VănNguyễn Thị Thu ThanhTrần Hoàng Thị HoàiNguyễn Hà MỹĐặng Quang Nhật
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198173173810.52852/tcncyh.v198i1.4269Di trú clip hem -o- lok tạo sỏi ống mật chủ thứ phát sau cắt túi mật, mở ống mật chủ nội soi: Ca lâm sàng và điểm lại y văn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4305
<p class="p1"><em>Di trú clip Hem-o-lok vào ống mật chủ (OMC) và hình thành sỏi là một biến chứng muộn, hiếm gặp sau phẫu thuật cắt túi mật, mở ống mật chủ lấy sỏi nội soi. Biểu hiện lâm sàng thường tương tự sỏi OMC, bao gồm cơn đau quặn mật và viêm đường mật. Chúng tôi báo cáo bệnh nhân nữ, 79 tuổi được chẩn đoán sỏi OMC thứ phát hình thành xung quanh clip phẫu thuật di trú chỉ 5 tháng sau phẫu thuật. Bệnh nhân nhập viện với triệu chứng đau hạ sườn phải tăng dần. Chẩn đoán hình ảnh (MRI) xác nhận giãn đường mật và sỏi kẹt ở phần thấp OMC. Bệnh nhân được điều trị bằng Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) có hỗ trợ Spyglass. ERCP lấy ra một viên sỏi lớn chứa hai clip Hem-o-lok. Tình trạng di chuyển clip tạo sỏi có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, thường gặp trong vòng 2 năm sau phẫu thuật. Di trú Hem-o-lok gây sỏi OMC là một biến chứng cần được theo dõi; hầu hết các trường hợp đều yêu cầu can thiệp nội soi hoặc phẫu thuật để xử trí.</em></p>Lê Quang HưngNguyễn Trung ĐứcLê Tuấn AnhHà Lương Duy KhánhPhan Quốc HưngNguyễn Văn Việt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198173974310.52852/tcncyh.v198i1.4305U xơ thần kinh thể đám rối giả dị dạng tĩnh mạch: Báo cáo hai trường hợp lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4204
<p class="p1"><em>U xơ thần kinh dạng đám rối (plexiform neurofibroma, PNF) là thể ít gặp nhất trong ba thể lâm sàng của u xơ thần kinh, thường liên quan đến bệnh lý u xơ thần kinh type 1 (neurofibromatosis type 1, NF1). PNF có đặc điểm tăng sinh lan tỏa theo dọc các bó sợi thần kinh, xâm lấn mô xung quanh và gây nhiều khó khăn trong chẩn đoán phân biệt với dị dạng mạch máu hay các u phần mềm khác. Chúng tôi báo cáo hai ca lâm sàng hai bệnh nhân nam: một bệnh nhân 27 tuổi với khối u vùng vai và một bệnh nhân 16 tuổi với khối u vùng má – thái dương, cả hai đều được chẩn đoán nhầm là dị dạng tĩnh mạch trong nhiều năm trước khi được xác định đúng là PNF. Hình ảnh siêu âm và cộng hưởng từ cho thấy các đặc điểm đặc trưng của PNF như cấu trúc dạng ống giãn ngoằn ngoèo, dấu hiệu “target sign” và sự lan tỏa dạng “túi giun”; kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật khẳng định chẩn đoán. Qua hai trường hợp này, chúng tôi nhấn mạnh vai trò của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong phát hiện, định hướng xử trí và theo dõi PNF, đồng thời lưu ý đến nguy cơ ác tính hóa thành u bao thần kinh ngoại biên ác tính (Malignant peripheral nerve sheath tumor, MPNST). </em></p>Phan Nhân HiểnLê Ngọc TrungĐỗ Đặng Khánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198174474910.52852/tcncyh.v198i1.4204Phẫu thuật điều trị tắc động mạch cảnh chung mạn tính: Báo cáo ca lâm sàng và tổng kết y văn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4382
<p class="p1"><em>Tắc động mạch cảnh chung mạn tính là bệnh lý hiếm gặp, có thể gây tai biến mạch não dù có tuần hoàn bàng hệ tốt. Điều trị tối ưu bệnh lý này còn nhiều tranh luận giữa nội khoa và phẫu thuật/ can thiệp tái thông. Chúng tôi báo cáo trường hợp người bệnh nam 69 tuổi tắc động mạch cảnh chung phải, tuần hoàn bàng hệ tốt, có cơn thiếu máu não thoáng qua tái diễn dù đã điều trị nội khoa tối ưu. Người bệnh được phẫu thuật ghép đoạn động mạch cảnh chung phải bằng mạch nhân tạo. Sau mổ, người bệnh diễn biến ổn định, tưới máu não cải thiện. Báo cáo nhằm mục đích tổng kết y văn về chẩn đoán và điều trị tối ưu bệnh tắc động mạch cảnh chung.</em></p>Vũ Ngọc TúĐoàn Tiến LưuNguyễn Văn HướngLê Văn Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198175075410.52852/tcncyh.v198i1.4382Đặc điểm chăm sóc người bệnh cố định hàm sau phẫu thuật gãy xương hàm tại khoa răng hàm mặt Bệnh viện Đại học Y Hà Nội: Báo cáo chùm ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4330
<p class="p1"><em>Gãy xương hàm là chấn thương thường gặp, gây ảnh hưởng lớn đến chức năng nhai, phát âm, thẩm mỹ và tiềm ẩn nhiều nguy cơ biến chứng nặng. Phẫu thuật kết hợp xương kèm cố định hàm là phương pháp điều trị phổ biến nhưng khiến người bệnh gặp nhiều khó khăn trong ăn uống, vệ sinh và giao tiếp. Nghiên cứu tổng hợp các vấn đề chăm sóc, từ dinh dưỡng, vệ sinh răng miệng, kiểm soát đường thở, giảm đau, đến hỗ trợ tâm lý và phục hồi chức năng. Kết quả cho thấy điều dưỡng đóng vai trò quan trọng chăm sóc toàn diện, góp phần hạn chế biến chứng, rút ngắn thời gian hồi phục và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.</em></p>Phùng Thị HuyềnVũ Thị HuệNông Thị Phương ThảoĐỗ Thị Kim OanhHoàng Thị ThảoVũ Thị HạnhTống Thị Kim TuyếnMai Thị Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198175576310.52852/tcncyh.v198i1.4330Báo cáo ca lâm sàng viêm bàng quang do sử dụng Ketamine lâu dài
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4390
<p class="p1"><em>Viêm bàng quang do ketamine (Ketamine-induced cystitis - KIC) là bệnh tiết niệu nghiêm trọng do lạm dụng ketamine, gây triệu chứng đường tiết niệu dưới (lower urinary tract symptoms - LUTS) dai dẳng, dễ chẩn đoán nhầm, nguy cơ tổn thương bàng quang không hồi phục. Chúng tôi trình bày ca bệnh, nữ 26 tuổi, lạm dụng ketamine 4 năm, có LUTS phức tạp 2 năm với tiểu nhiều (5 - 10 phút/lần), tiểu gấp, đau vùng trên xương mu. Bệnh nhân không có triệu chứng nhiễm trùng và lao, cấy nước tiểu âm tính, không đáp ứng kháng sinh điều trị trước đó. Chụp cắt lớp vi tính tiết niệu thấy bàng quang co nhỏ, thành dày lan tỏa, không tắc nghẽn. Bệnh nhân được chẩn đoán KIC, điều trị bảo tồn gồm ngừng ketamine, dùng thuốc (giảm đau thần kinh, kháng cholinergic), tập phục hồi sàn chậu. Sau 10 ngày, triệu chứng cải thiện rõ, khoảng cách đi tiểu 60 - 120 phút, không có hội chứng cai. Bệnh nhân được xuất viện và quản lý ngoại trú. KIC cần được nghĩ đến ở người trẻ có LUTS dai dẳng. Khai thác tiền sử lạm dụng chất là chìa khóa chẩn đoán, ngừng ketamine là nền tảng điều trị.</em></p>Lê Ngọc HàPhạm Thị Ngọc BíchNguyễn Văn ThanhCao Mạnh LongNguyễn Thị Thu HằngHạ Hồng CườngNguyễn Minh Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198176476810.52852/tcncyh.v198i1.4390Tổn thương thận do lắng đọng amyloid: Báo cáo loạt ca lâm sàng và nhìn lại y văn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4436
<p class="p1"><em>Bệnh lắng đọng amyloid là một nhóm các rối loạn nghiêm trọng, hiếm gặp do lắng đọng protein amyloid trong các mô như thận, tim và não. Chúng tôi báo cáo 3 trường hợp tổn thương thận do lắng đọng amyloid được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ tháng 1/2024 đến tháng 3/2025. Tất cả các trường hợp đều được xác lập chẩn đoán thông qua sinh thiết thận, chứng minh lắng đọng amyloid tại thận với kỹ thuật nhuộm đỏ Công - gô đặc trưng. Kết quả đáp ứng trên thận không khả quan của cả ba trường hợp cho thấy bệnh thận do lắng đọng amyloid vẫn là một thách thức trong chẩn đoán và điều trị. Báo cáo này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc amyloid như một nguyên nhân thứ phát gây ra hội chứng thận hư ở người lớn tuổi, đồng thời, nhấn mạnh tầm quan trọng của sinh thiết thận trong việc chẩn đoán và điều trị hội chứng thận hư ở nhóm bệnh nhân này.</em></p>Đường Mạnh LongHồ Thị Kim NgânNghiêm Trung DũngĐặng Thị Việt HàĐỗ Gia TuyểnNguyễn Thị Minh ThứcPhạm Tiến Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198176977910.52852/tcncyh.v198i1.4436Phẫu thuật điều trị u nội mô mạch máu dạng biểu mô ở gan: Nhân một trường hợp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4440
<p class="p1"><em>U nội mô mạch máu dạng biểu mô (epithelioid hemangioendothelioma - EHE) ở gan là bệnh lý hiếm gặp, dễ bị chẩn đoán nhầm với ung thư biểu mô tế bào gan hoặc tổn thương di căn. Bệnh nhân nam 37 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, đi khám với triệu chứng đau tức vùng hạ sườn phải kèm sút cân nhẹ vài tuần. Khám lâm sàng không ghi nhận bất thường, trên phim cộng hưởng từ nhu mô gan phải và phân thùy bên có vài nốt tổn thương, lớn nhất ở phân thùy bên kích thước 27x12mm, nhu mô HPT VI có nốt 8 x 12mm, HPT VIII có nốt 12x15mm, kết quả sinh thiết gan trước mổ cho thấy đặc điểm mô học phù hợp với u nội mô mạch máu dạng biểu mô - một bệnh lý hiếm gặp và dễ bị chẩn đoán nhầm. Sau hội chẩn đa chuyên khoa, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ khối u. Ca mổ diễn ra thuận lợi, các khối u được lấy trọn, không xâm lấn mạch máu lớn hay cơ quan lân cận. Giải phẫu bệnh sau mổ và nhuộm hóa mô miễn dịch xác nhận lại chẩn đoán. Bệnh nhân hồi phục tốt, không ghi nhận biến chứng và được theo dõi định kỳ. Trường hợp này góp phần làm rõ đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và nhấn mạnh vai trò của mô bệnh học trong chẩn đoán bệnh lý hiếm gặp này.</em></p>Trần Bảo LongCao Mạnh ThấuNguyễn Đức Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198178078610.52852/tcncyh.v198i1.4440Nhân một trường hợp sarcoma mạch ở vú sau xạ trị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4479
<p class="p1"><em>Sarcoma mạch ở vú (angiosarcoma of the breast) là một khối u ác tính hiếm gặp có nguồn gốc từ tế bào nội mô mạch máu. Bệnh có thể xuất hiện nguyên phát hoặc thứ phát sau điều trị ung thư vú. Trong đó, sarcoma mạch liên quan xạ trị (radiation-associated angiosarcoma - RAA) là một biến chứng hiếm gặp nhưng có tiên lượng xấu. Chúng tôi báo cáo một trường hợp RAA điển hình ở bệnh nhân nữ 72 tuổi, xuất hiện nhiều năm sau điều trị ung thư vú bằng phẫu thuật và xạ trị. Tổn thương lâm sàng ban đầu dễ bị nhầm với các thay đổi da sau xạ trị, tuy nhiên kết quả mô bệnh học và hóa mô miễn dịch đã xác định chẩn đoán sarcoma mạch. Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm các tổn thương da bất thường và chỉ định sinh thiết kịp thời, giúp chẩn đoán xác định và lập kế hoạch điều trị phù hợp.</em></p>Vũ Thị PhươngTrần Duy ThanhNguyễn Viết TrungHà Thị Thu HiênNguyễn Văn KhánhGiang Bảo HoànBùi Thị Kim Dung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198178779110.52852/tcncyh.v198i1.4479Vai trò của vạt phức hợp da cơ đùi trước ngoài trong điều trị viêm xương gót: Báo cáo hai ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4450
<p class="p1"><em>Xương gót giữ vai trò chịu lực chính cho bàn chân, tuy nhiên, vùng này lại có lớp mô mềm bao bọc mỏng và nguồn cấp máu kém. Điều này khiến cho viêm xương gót trở thành một thách thức lâm sàng phức tạp, đặc trưng bởi tình trạng viêm, khuyết xương, và thường đi kèm với khuyết phần mềm (do bệnh lý hoặc sau phẫu thuật cắt lọc) Do đó, phẫu thuật tạo hình đóng một vai trò quan trọng trong quá trình điều trị viêm xương gót. Trong nghiên cứu này chúng tôi báo cáo kinh nghiệm điều trị viêm xương gót bằng kỹ thuật chuyển vạt đùi trước ngoài tự do lấy kèm theo cơ. Qua đó cho thấy đây là một lựa chọn đáng tin cậy, cung cấp cả chất liệu độn và che phủ. Vạt có sức sống tốt, có khả năng chống chịu được đối với vết thương nhiễm trùng. </em></p>Hoàng Tuấn AnhVũ Thị DungNguyễn Hợp NhânNguyễn Ngọc DươngTrần Thị Diệu Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-01-282026-01-28198179279710.52852/tcncyh.v198i1.4450