Tạp chí Nghiên cứu Y học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh
Trường Đại Học Y Hà Nộivi-VNTạp chí Nghiên cứu Y học2354-080XĐa hình rs9934336 gen SLC5A2 và mối liên quan với đường huyết lúc đói ở người bệnh đái tháo đường típ 2
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4646
<p class="p1"><em>Trên cơ sở các bằng chứng về vai trò quan trọng của yếu tố di truyền trong kiểm soát đường huyết, nghiên cứu này khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs9934336 của gen SLC5A2 với nồng độ glucose máu lúc đói (FPG) ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 tại Việt Nam. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 123 bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 tại Bệnh viện Quận Phú Nhuận từ 07/2025 đến 11/2025. Kiểu gen của đa hình rs9934336 được xác định bằng kỹ thuật real-time polymerase chain reaction (PCR). So sánh FPG giữa các nhóm kiểu gen, hiệu chỉnh nhiễu bằng hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả cho thấy tỷ lệ kiểu gen GG, GA và AA lần lượt là 26,8%, 65,9% và 7,3%. Nhóm GA+AA có FPG trung vị cao hơn có ý nghĩa so với nhóm GG (p = 0,013). Trong mô hình hồi quy đa biến, mỗi alen A làm tăng 10,3% nồng độ FPG sau điều chỉnh các yếu tố nhiễu và đa kiểm định FDR (p = 0,018). Đa hình rs9934336 gen SLC5A2 liên quan đến FPG ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2, gợi ý vai trò điều hòa đường huyết qua kênh SGLT2.</em></p>Lê Bích TrânPhan Hữu HênNguyễn Trần Khánh DuyĐoàn Thị Kim Châu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-0919921910.52852/tcncyh.v199i2.4646Đa hình rs1799971 gen OPRM1 và một số yếu tố liên quan trên người bệnh nghiện chất dạng thuốc phiện điều trị Methadone thay thế
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4574
<p class="p1"><em>Methadone là thuốc chủ vận (agonist) giảm đau thuộc nhóm opioid được sử dụng để điều trị thay thế ở bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện. Với chiến lược điều trị đa hướng bao gồm cách tiếp cận dựa trên bằng chứng khoa học, đặc điểm di truyền có thể cung cấp dữ liệu quan trọng liên quan đến kết quả điều trị. Đa hình gen OPRM1 mã hóa thụ thể MOP (µ-opioid receptor), vị trí tác động chính của methadone, có nhiều nghiên cứu tập trung về đặc điểm tính dễ tổn thương với rối loạn sử dụng chất, đáp ứng điều trị. Phân tích tính đa hình rs1799971 gen OPRM1 nhằm xác định đặc điểm kiểu gen và một số yếu tố liên quan trên 200 bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện. Trong</em> <em>quần thể nghiên cứu,</em> <em>alen G xuất hiện với tỷ lệ 41,8%, quần thể đạt trạng thái cân bằng Hardy-Weinberg - HWE (χ² = 0,11). Trong mô hình hồi quy đa biến, phân tích các yếu tố liên quan đến liều điều trị, điểm lạm dụng rượu (AUDIT-C), không ghi nhận yếu tố lâm sàng hay kiểu gen OPRM1 có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Khi đánh giá các yếu tố liên quan đến điểm thuốc lá, kiểu gen OPRM1 GG liên quan nghịch có ý nghĩa thống kê với điểm thuốc lá so với kiểu gen AA (Coef = −0,893; p = 0,005).</em></p>Nguyễn Quỳnh GiaoTrịnh Thị Phương DungLê Huy HoàngĐặng Thị Ngọc Dung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992101910.52852/tcncyh.v199i2.4574Đa hình rs1260326 gen GCKR và đường huyết lúc đói ở người bệnh gút Việt Nam: Nghiên cứu thăm dò
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4571
<p class="p1"><em>Bệnh gút là một rối loạn chuyển hóa thường đi kèm với rối loạn chuyển hóa và tăng đường huyết, trong đó đa hình rs1260326 gen GCKR được xem là yếu tố di truyền có liên quan. Chúng tôi tuyển chọn 45 bệnh nhân gút tại Việt Nam, xác định kiểu gen rs1260326 và đo glucose máu đói (FPG). Mức FPG trung bình được so sánh giữa các nhóm kiểu gen (CC với CT+TT) và giữa các alen (C với T) sau khi hiệu chỉnh các yếu tố sinh trắc học gồm tuổi, giới tính và chỉ số khối cơ thể. Sau đó, ngưỡng ý nghĩa thống kê tiếp tục được hiệu chỉnh bằng phương pháp FDR. Kết quả cho thấy bệnh nhân mang kiểu gen CC có FPG trung bình cao hơn đáng kể so với nhóm mang alen T (CT+TT) (pFDR < 0,05). Tương tự, alen C liên quan với mức FPG cao hơn so với alen T (pFDR < 0,05). Kết luận: Đa hình rs1260326 gen GCKR bước đầu cho thấy có liên quan đến tình trạng tăng đường huyết đói ở bệnh nhân gút, góp phần vào rối loạn chuyển hóa đi kèm ở bệnh gút.</em></p>Phan Đức DuyNguyễn Thái Hòa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992202810.52852/tcncyh.v199i2.4571Đa hình rs12129861 gen PDZK1 và nồng độ acid uric máu ở bệnh nhân chẩn đoán gút lần đầu: Dữ liệu thăm dò bước đầu tại Việt Nam
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4603
<p class="p1"><em>Gút là rối loạn chuyển hóa purin thường gặp, trong đó đa hình rs12129861 gen PDZK1 đã được ghi nhận có ảnh hưởng đến nồng độ acid uric nhưng dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 49 bệnh nhân gút chẩn đoán lần đầu tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Đa hình rs12129861 gen PDZK1 được xác định bằng kỹ thuật Real-time PCR. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập với nồng độ acid uric và hiệu chỉnh theo phương pháp Benjamini-Hochberg trên phần mềm R 4.5.0. Kết quả cho thấy nồng độ acid uric có xu hướng tăng theo các kiểu gen CC, CT và TT dù chưa đạt ý nghĩa thống kê. Alen T liên quan độc lập với tăng acid uric máu với mức tăng trung bình 47,1 µmol/L (KTC 95%: 13,4 – 80,8). Giới nữ liên quan độc lập với giảm nồng độ acid uric. Kết quả bước đầu cho thấy đa hình rs12129861 gen PDZK1 có vai trò trong điều hòa acid uric ở bệnh nhân gút người Việt Nam.</em></p>Nguyễn Thị Mai LiênNguyễn Thái Hòa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992293610.52852/tcncyh.v199i2.4603Yếu tố tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cao tuổi được can thiệp thân chung động mạch vành trái
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4667
<p class="p1"><em>Bệnh lý hẹp thân chung động mạch vành trái ở bệnh nhân cao tuổi đặt ra thách thức lớn do tính tổn thương phức tạp và đa bệnh. Dữ liệu về tiên lượng dài hạn sau can thiệp tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu nhằm xác định yếu tố tiên lượng tử vong dài hạn ở bệnh nhân cao tuổi được can thiệp thân chung động mạch vành trái. Nghiên cứu hồi cứu có theo dõi dọc thu nhận được 116 bệnh nhân ≥ 60 tuổi được can thiệp thân chung động mạch vành trái tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/07/2019 đến 30/06/2020 và còn liên lạc được qua điện thoại sau 5 năm. Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tử vong 5 năm là 31,9% và sống còn 5 năm là 68,1%. Phân tích hồi quy Cox đa biến hiệu chỉnh, các yếu tố tiên lượng độc lập của tử vong 5 năm gồm tuổi lớn hơn 70 (HR 3,4); choáng khi nhập viện (HR 3,2); CKMB tăng mỗi 50 U/L (HR 1,1); bệnh mạch vành 3 nhánh (HR 2,2) và tổn thương tại lỗ (HR 2,6). </em></p>Bàng Ái ViênNguyễn Văn TânMai Trí LuậnLý Ích Trung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992374610.52852/tcncyh.v199i2.4667Đặc điểm lâm sàng và mức độ nặng của phản ứng quá mẫn do chất cản quang chứa IOD tại Bệnh viện E
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4699
<p class="p1"><em>Chất cản quang chứa iod (Iodinated Contrast Media - ICM) là công cụ quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh nhưng có thể gây phản ứng quá mẫn khó tiên lượng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 60 trường hợp tại Bệnh viện E từ tháng 7/2024 đến 7/2025 nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan. Dữ liệu về nhân khẩu học, tiền sử dị ứng, loại ICM và biểu hiện lâm sàng được thu thập. Kết quả cho thấy 78,3% phản ứng xuất hiện trong 6 giờ đầu, chủ yếu là phản ứng nhanh. Biểu hiện da niêm mạc gặp ở tất cả các trường hợp, hô hấp 20% và tiêu hóa 13,3%. Phản vệ độ I chiếm 80%, phản vệ độ II 20%. Không có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nặng, thời gian xuất hiện hay yếu tố nhân khẩu học và tiền sử dị ứng giữa hai loại ICM là Iopamiro và Omnipaque. Phản ứng quá mẫn do ICM tại Bệnh viện E chủ yếu là quá mẫn nhanh, mức độ nhẹ; do không có yếu tố dự báo nặng rõ ràng, việc theo dõi chặt chẽ sau tiêm vẫn thực sự cần thiết để đảm bảo an toàn.</em></p>Bùi Văn DânĐàm Thu HiềnNguyễn Lê Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992475410.52852/tcncyh.v199i2.4699Tỷ lệ và đặc điểm hội chứng chuyển hoá ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4692
<p class="p1"><em>Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn mạn tính có liên quan chặt chẽ đến các rối loạn chuyển hóa và tăng nguy cơ tim mạch. Hội chứng chuyển hóa thường gặp ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và có thể ảnh hưởng đến mức độ hoạt động bệnh cũng như đáp ứng điều trị. Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 152 bệnh nhân VKDT được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2010 đang theo dõi và điều trị tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (05/2025 – 09/2025) cho thấy tỷ lệ mắc HCCH theo tiêu chuẩn JC 2009 là 26,3%. Nhóm bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa có xu hướng biểu hiện hoạt động bệnh và chỉ dấu viêm cao hơn so với nhóm không mắc, tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê. Hội chứng chuyển hóa là vấn đề cần được quan tâm ở bệnh nhân VKDT do không chỉ làm gia tăng gánh nặng bệnh lý tim mạch mà còn có thể tác động tới diễn tiến và đáp ứng điều trị.</em></p>Cao Đình HưngLê Thị Cẩm KhuyênHuỳnh Lý Vân AnhNguyễn Đình Thông
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992556510.52852/tcncyh.v199i2.4692Giá trị tiên lượng tử vong của thang điểm HOPE-EVL ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản được thắt vòng cao su qua nội soi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4653
<p class="p1"><em>Thắt vòng cao su qua nội soi (Endoscopic Variceal Ligation - EVL) là phương pháp ưu tiên trong kiểm soát chảy máu cấp và dự phòng tái phát ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản; đánh giá tiên lượng sớm sau EVL giúp phân tầng nguy cơ và định hướng điều trị phù hợp. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu, tiến hành trên 213 bệnh nhân xuất huyết tiêu hoá được can thiệp EVL, tại Trung tâm tiêu hoá gan mật - Bệnh viện Bạch Mai. Nhằm mục đích đánh giá giá trị tiên lượng tử vong trong 30 ngày sau EVL của điểm HOPE-EVL. Tỷ lệ tử vong trong 30 ngày sau EVL là 12,2%. Điểm HOPE-EVL liên quan rõ rệt đến lâm sàng và kết cục điều trị. Tỷ lệ tử vong 30 ngày chênh lệch lớn giữa các nhóm nguy cơ theo HOPE-EVL, từ 1,3% ở nhóm nguy cơ thấp đến 80% ở nhóm nguy cơ cao. Điểm HOPE-EVL cho thấy khả năng tiên lượng tử vong rất tốt với AUC = 0,95 (95% CI: 0,909 - 0,988), p < 0,05. Kết quả nghiên cứu cho thấy HOP-EVL có giá trị trong tiên lượng tử vong 30 ngày ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa do tăng áp cửa sau EVL.</em></p>Chu Thị ThanhNguyễn Công LongTrần Thanh HảiNguyễn Thị Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992667410.52852/tcncyh.v199i2.4653Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng răng khôn hàm dưới mọc lệch/ngầm với độ khó từ trung bình đến cao theo Pederson
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4648
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 265 người bệnh đến nhổ răng tại Trung tâm Kỹ thuật cao Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Hà Nội nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng và X-quang của răng khôn hàm dưới mọc lệch hoặc ngầm có độ khó trung bình đến cao theo phân loại Pederson. Người bệnh được khai thác bệnh sử, khám lâm sàng và chụp phim; dữ liệu được phân tích bằng các kiểm định thống kê và mô hình hồi quy logistic đa biến. Độ tuổi trung bình là 27,92 ± 7,64, nữ chiếm 63,02%. Các tư thế mọc thường gặp gồm lệch gần, ngang và ngầm, trong đó lệch gần chiếm tỷ lệ cao nhất. Biến chứng ghi nhận ở 58,55% trường hợp, chủ yếu là viêm quanh thân răng. Răng mọc thẳng hoặc lệch xa có nguy cơ viêm quanh thân răng cao hơn và liên quan đến mức độ khó phẫu thuật tăng đáng kể. Phần lớn răng có chân cách ống thần kinh răng dưới ≥ 1mm, và nhóm răng mọc thẳng hoặc lệch xa có tỷ lệ biến chứng cũng như độ khó phẫu thuật cao hơn các tư thế khác.</em></p>Đinh Thị TháiNguyễn Phú ThắngLê Thị Thu HàTạ Thị Tươi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992758310.52852/tcncyh.v199i2.4648Tác động không mong muốn của kỹ thuật đào thải CO2 qua màng ngoài cơ thể trên bệnh nhân ARDS nghiên cứu hồi cứu tại một trung tâm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4553
<p class="p1"><em>Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên 15 bệnh nhân ARDS được áp dụng kỹ thuật đào thải CO<sub>2</sub> qua màng ngoài cơ thể (ECCO<sub>2</sub>R) tại Trung tâm Hồi sức tích cực, Bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn từ tháng 7/2024 đến tháng 9/2025, nhằm mô tả các tác động không mong muốn và biến chứng liên quan đến kỹ thuật trong thực hành lâm sàng. Trong quá trình theo dõi, các thông số huyết động nhịp tim và huyết áp tủng bình được duy trì ổn định và không ghi nhận nhu cầu tăng liều hoặc khởi động thêm thuốc vận mạch sau khi bắt đầu ECCO<sub>2</sub>R. Về huyết học, giá trị tiểu cầu trung vị giảm từ 145 G/L trước lọc xuống 101 G/L vào ngày thứ hai, bên cạnh đó là nồng độ hemoglobin được duy trì ổn định. Huyết khối quả lọc là biến chứng thường gặp nhất (20%), tiếp theo là chảy máu tại vị trí catheter và hạ thân nhiệt (6,7%), không có trường hợp nào có rối loạn đông máu hay chảy máu trên lâm sàng. Tóm lại, ECCO<sub>2</sub>R duy trì ổn định huyết động, gây giảm tiểu cầu nhẹ và biến chứng thường gặp nhất là huyết khối quả lọc.</em></p>Đỗ Ngọc SơnĐặng Quốc TuấnBùi Văn CườngVõ Quang TrungTrần Hữu ThôngNguyễn Văn TrọngTrương Thị Huyền Trang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992849010.52852/tcncyh.v199i2.4553Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị ẩn tinh hoàn không sờ thấy hai bên ở trẻ em
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4626
<p class="p1"><em>Phẫu thuật nội soi là phương pháp được ưu tiên lựa chọn trong chẩn đoán và điều trị ẩn tinh hoàn không sờ thấy, tuy nhiên cách tiếp cận đối với các trường hợp hai bên vẫn còn nhiều tranh luận. Nghiên cứu hồi cứu trên 21 bệnh nhân (42 tinh hoàn) tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 01/2021 - 12/2024, tuổi phẫu thuật trung vị là 23 tháng. 7 bệnh nhân (33,3%) được hạ tinh hoàn một thì hai bên; 8 bệnh nhân (38,1%) thực hiện Fowler-Stephens hai thì đồng thời; các trường hợp còn lại áp dụng kỹ thuật phối hợp hoặc có một bên tinh hoàn đã teo. Thời gian theo dõi trung bình 21,9 ± 9,4 tháng cho tỷ lệ thành công chung đạt 82,1%; tỷ lệ teo 3,6%. Riêng nhóm Fowler-Stephens hai bên, 80% tinh hoàn nằm ở bìu, 1 tinh hoàn teo (10%). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thể tích tinh hoàn trước và sau mổ. Kết quả cho thấy phẫu thuật nội soi, bao gồm cả can thiệp đồng thời hai bên, là phương pháp an toàn và hiệu quả cho nhóm bệnh lý này.</em></p>Nguyễn Thị Mai ThủyĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-091992919810.52852/tcncyh.v199i2.4626Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán ẩn tinh hoàn không sờ thấy
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4627
<p class="p1"><em>Ẩn tinh hoàn không sờ thấy chiếm khoảng 20% các trường hợp ẩn tinh hoàn, việc xác định vị trí tinh hoàn có vai trò quan trọng trong lập kế hoạch điều trị. Nghiên cứu hồi cứu đánh giá giá trị siêu âm trên 95 bệnh nhân ẩn tinh hoàn không sờ thấy một bên được phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2021 - 2024, tuổi trung vị 30 tháng. Nội soi ghi nhận tinh hoàn nằm thấp trong ổ bụng chiếm 53,7%, tỷ lệ không có tinh hoàn/teo 23,2%. Siêu âm có độ nhạy 68,5%, độ đặc hiệu 63,6% và độ chính xác 67,4%; độ nhạy giảm ở nhóm tinh hoàn nằm cao trong ổ bụng (42,9%). Ở trẻ 6 - 24 tháng, tăng kích thước tinh hoàn đối bên dự đoán teo tinh hoàn bệnh tốt với AUC 0,917; ngưỡng chiều dài 16mm cho độ nhạy 89% và độ đặc hiệu 92%. Siêu âm kết hợp đo kích thước tinh hoàn đối bên hữu ích trong thăm khám ban đầu và tư vấn trước mổ, tuy nhiên nội soi ổ bụng vẫn giữ vai trò quyết định trong chẩn đoán.</em></p>Nguyễn Thị Mai ThủyĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-0919929910710.52852/tcncyh.v199i2.4627Đặc điểm huyết áp lưu động 24 giờ và phác đồ điều trị ở bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4717
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 166 bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú nhằm mô tả đặc điểm huyết áp lưu động 24 giờ và thực hành điều trị THA trong thực tế lâm sàng. Tuổi trung vị của dân số nghiên cứu là 63 (IQR: 57 - 71) năm, nam giới chiếm 51,2%. Trên huyết áp lưu động 24 giờ, huyết áp tâm thu và tâm trương trung vị lần lượt là 117 mmHg và 68 mmHg. Quá tải huyết áp ban ngày có trung vị 12,9%, với 41,6% bệnh nhân có quá tải ≥ 20%. Quá tải huyết áp ban đêm có trung vị 50%, với 74,1% bệnh nhân có quá tải ≥ 20%. Phân tích kiểu hình huyết áp ban đêm cho thấy mất trũng và trũng đảo ngược chiếm tỷ lệ cao (77,7%), trong khi chỉ 18,1% bệnh nhân duy trì kiểu trũng sinh lý. Về điều trị, 86,7% bệnh nhân được sử dụng phác đồ phối hợp thuốc, với số nhóm thuốc trung bình là 2,4 ± 0,8; nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất là ACEi/ARB (77,7%), theo sau là chẹn beta (68,1%) và chẹn kênh canxi (52,4%). Kết quả cho thấy rối loạn huyết áp ban đêm và quá tải huyết áp vẫn còn phổ biến ở bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú, ngay cả khi đang điều trị thuốc. Điều này nhấn mạnh vai trò của đo huyết áp lưu động 24 giờ trong đánh giá kiểm soát huyết áp và hỗ trợ cá thể hóa định hướng điều trị trong thực hành lâm sàng.</em></p>Hoàng Huy TrườngNguyễn An Nhàn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199210812010.52852/tcncyh.v199i2.4717Một số yếu tố liên quan đến biến cố tim mạch chính trong 6 tháng ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên được can thiệp mạch vành qua da
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4734
<p class="p1"><em>Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu kết hợp hồi cứu thực hiện trên 240 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên (NMCT KSTCL) được can thiệp mạch vành qua da (CTMVQD) nhằm xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến biến cố tim mạch chính (BCTMC) trong 6 tháng theo dõi. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 69,4 ± 12,1, 62,1% nam giới. Tỷ lệ BCTMC trong 6 tháng là 29,2%, trong đó nhập viện vì suy tim chiếm tỷ lệ cao nhất (10,0%), tiếp theo là tử vong nội viện (7,9%) và NMCT tái phát sau xuất viện (5,4%). Phân tích logistic đơn biến cho thấy BCTMC có liên quan với tuổi, bệnh đồng mắc, phân độ Killip, chức năng thận, NT-proBNP, LVEF, điểm GRACE và tổn thương thân chung động mạch vành trái (TCĐMVT). Phân tích đa biến cho thấy, rối loạn lipid máu (OR = 3,13; KTC 95%: 1,58 - 6,20), Killip ≥ II (OR = 4,33; KTC 95%: 2,19 - 8,56) và tổn thương TCĐMVT (OR = 4,62; KTC 95%: 2,17 - 9,85) là các yếu tố liên quan độc lập với BCTMC. Kết quả cho thấy bệnh nhân NMCT KSTCL sau CTMVQD có nguy cơ biến cố cao trong 6 tháng, đặc biệt ở nhóm nguy cơ lâm sàng và giải phẫu cao, gợi ý giá trị của phân tầng nguy cơ sớm trong quản lý và theo dõi sau can thiệp.</em></p>Hoàng Huy TrườngĐinh Đức HuyHuỳnh Quốc HiếuPhạm Huy Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199212113110.52852/tcncyh.v199i2.4734Đánh giá thay đổi khớp cắn ở bệnh nhân mòn răng sau điều chỉnh chọn lọc dưới sự hỗ trợ của T-Scan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4768
<p class="p1"><em>Nghiên cứu chùm ca bệnh với 20 bệnh nhân theo phương pháp lựa chọn mẫu thuận tiện nhân tại Trung tâm Trung tâm kỹ thuật cao khám chữa bệnh Răng Hàm Mặt - Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt, từ tháng 7/2024 đến tháng 9/2025. Đánh giá các chỉ số quan trọng của khớp cắn gồm thời gian chạm khớp (OT), trung tâm cắn (COF), chỉ số bất cân xứng lực cắn (AOF), sự chênh lệch phân bố lực cắn trước – sau (ΔAOD). Kết quả cho thấy nhóm bệnh nhân mòn nhiều răng có các chỉ số đều nằm ngoài phạm vi bình thường và có sự thay đổi sau điều chỉnh OT: 0,23s (p < 0,001), COF: 100% nằm trong vùng lý tưởng. AOF: 7,65%, ΔAOD có giá trị gần 0 hơn, rút ngắn quãng đường di chuyển của hàm dưới từ vị trí tiếp xúc khớp cắn ban đầu đến lồng múi tối đa. Điều chỉnh khớp cắn có chọn lọc dưới sự hướng dẫn T- Scan cho thấy tiềm năng cải thiện tình trạng mất ổn định khớp cắn ở nhóm bệnh nhân mòn nhiều răng.</em></p>Hoàng Kim LoanTrần Văn SơnĐinh Thị Thái
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199213213910.52852/tcncyh.v199i2.4768Kết quả điều trị viêm gân nhị đầu bằng tiêm Corticosteroid tại chỗ dưới hướng dẫn của siêu âm tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4595
<p class="p1"><em>Viêm đầu dài gân cơ nhị đầu cánh tay thuộc thể đau khớp vai đơn thuần, là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân trên 50 tuổi hoặc những người trẻ chơi thể thao. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị bằng tiêm corticosteroid tại chỗ dưới hướng dẫn của siêu âm ở bệnh nhân viêm đầu dài gân cơ nhị đầu tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh từ tháng 1/2024 đến tháng 9/2025. Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, can thiệp lâm sàng có đối chứng so sánh trước và sau tiêm methylprednisolon acetate và so sánh với nhóm đối chứng (Uống thuốc); chọn mẫu thuận tiện; đánh giá sự thay đổi tại các thời điểm: sau 1 tuần (T1), 4 tuần (T4), 8 tuần (T8) và 12 tuần (T12). Kết quả nghiên cứu ghi nhận: tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là 62,77. Nhóm can thiệp có thang điểm đánh giá mức độ đau trước điều trị khi nghỉ và khi hoạt động lần lượt là 5,4 ± 0,12 và 7,86 ± 0,86; điểm đánh giá hoạt động khớp là 9,38 ± 1,67; chỉ số đau và chức năng của khớp vai là 57,62 ± 3,17. Sau điều trị 1 tuần, 4 tuần, 8 tuần và 12 tuần điểm đánh giá mức độ đau, điểm đánh giá hoạt động khớp, chỉ số đau và chức năng của khớp vai ở nhóm can thiệp có sự cải thiện rõ rệt.</em></p>Hoàng Thị Hải YếnVõ Hồng SơnBùi Thị QuýTrần Thị Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199214014710.52852/tcncyh.v199i2.4595Mô tả đặc điểm và phân bố kiểu hình ANA miễn dịch huỳnh quang gián tiếp theo các bệnh lý tự miễn tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4575
<p class="p1"><em>Bệnh lý tự miễn là một nhóm gồm rất nhiều các bệnh lý khác nhau có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng. Sự xuất hiện các tự kháng thể ở bệnh nhân mắc bệnh lý tự miễn được xác định bằng dấu ấn ANA trong đó phương pháp ANA miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (ANA – indirect immunofluorescence assay - IFA) được coi là dấu ấn sinh học quan trọng. Nghiên cứu tiến hành khảo sát mối liên quan kiểu hình ANA miễn dịch huỳnh quang gián tiếp và các bệnh lý tự miễn ở Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng. Nghiên cứu tiến hành trên tất cả các mẫu máu của bệnh nhân được chỉ định làm xét nghiệm ANA - IFA tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng từ tháng 12/2024 đến tháng 09/2025. 61,4% bệnh nhân có kết quả ANA – IFA nghi ngờ và dương tính kể từ khi xuất hiện triệu chứng đến khi được chẩn đoán chính xác bệnh lý tự miễn trong 06 tháng. Kiểu lắng đọng dạng đốm nhân (Speckled) chiếm tỷ lệ cao nhất, tương ứng là 58,1% (n = 25), tiếp đến là dạng đốm nhân mịn (Densfine Speckled) và dạng đồng nhất (Homogeneous) chiếm tỷ lệ lần lượt là 9,3% (n = 4) và 7% (n = 3). </em></p>Hoàng Văn DũngTrần Quang ĐônNguyễn Việt Khánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199214815310.52852/tcncyh.v199i2.4575So sánh hiệu quả phong bế rễ thần kinh cạnh sống dưới hướng dẫn siêu âm và tiêm ngoài màng cứng qua lỗ xương cùng trong điều trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4618
<p class="p1"><em>Nghiên cứu tiến cứu so sánh kĩ thuật phong bế thần kinh chọn lọc cạnh đốt sống và tiêm ngoài màng cứng qua lỗ xương cùng dưới hướng dẫn siêu âm trên 120 bệnh nhân đau thần kinh toạ do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (CSTL) từ tháng 06/2024 - tháng 06/2025: (1) phong bế rễ thần kinh cạnh sống dưới hướng dẫn siêu âm và (2) tiêm ngoài màng cứng qua lỗ xương cùng; tất cả tiêm dexamethasone 3,3 mg/1 mL một lần. Đánh giá điểm VAS, ODI và đáp ứng phối hợp tại tuần 4 và 12. Tiêu chí đánh giá đáp ứng là giảm ≥ 50% VAS và ≥ 10 điểm ODI. Các đặc điểm ban đầu của hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê. VAS giảm ở cả hai nhóm; tuần 1 nhóm siêu âm có VAS thấp hơn (p = 0,01), tuần 4 đến tuần 12 không khác biệt. ODI cải thiện tốt hơn ở nhóm siêu âm tại tuần 4 (p = 0,01) và tuần 12 (p = 0,006). Tỷ lệ đáp ứng tuần 4 cao hơn ở nhóm siêu âm (69,0% so với 47,4%; p = 0,01), không có khác biệt tại tuần 12 (p = 0,24). Không ghi nhận biến cố nghiêm trọng. Cả hai kỹ thuật cải thiện đến 12 tuần; phong bế cạnh sống dưới hướng dẫn siêu âm cho lợi ích giảm đau sớm và cải thiện chức năng tốt hơn trong ngắn hạn.</em></p>Hoàng Văn DũngNguyễn Bá Ngọc Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199215416110.52852/tcncyh.v199i2.4618Nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số Triglyceride - Glucose (TyG) và tổn thương thận ở người bệnh tăng huyết áp tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4687
<p class="p1"><em>Tổn thương thận là biến chứng thường gặp ở người bệnh tăng huyết áp và đề kháng insulin được xem là cơ chế bệnh sinh quan trọng. Chỉ số Triglyceride - Glucose (TyG) được đề xuất như một chỉ dấu phản ánh đề kháng insulin; tuy nhiên, mối liên quan giữa TyG và tổn thương thận ở người bệnh tăng huyết áp vẫn chưa được làm rõ, đặc biệt tại Việt Nam. Nghiên cứu cắt ngang trên 327 người bệnh tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ (05 - 10/2025) nhằm xác định tỷ lệ tổn thương thận và khảo sát mối liên quan giữa chỉ số TyG và tổn thương thận ở người bệnh tăng huyết áp. Kết quả cho thấy 23,9% người bệnh có tổn thương thận và nhóm có chỉ số TyG thấp (< 9,39)có nguy cơ tổn thương thận gấp 1,64 lần so với nhóm còn lại (RR = 1,64; 95% CI: 1,05 - 2,54; p = 0,023).Kết quả ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ tổn thương thận giữa các nhóm TyG ở người bệnh tăng huyết áp.</em></p>Trần Thị Thu ThảoHuỳnh Thị Kim AnhNguyễn Hồ Vân AnhTrần Nguyễn Thanh ThưLê Công TrứHồ Sỹ Kiên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199216217110.52852/tcncyh.v199i2.4687Giá trị của chỉ số khối cơ thể trước khi mang thai trong dự báo sự xuất hiện tiền sản giật ở phụ nữ có thai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4713
<p class="p1"><em>Mục tiêu xác định giá trị của chỉ số khối cơ thể ở thời điểm trước mang thai trong dự báo sự xuất hiện tiền sản giật. Thiết kế mô tả cắt ngang, trên thai phụ khám tại Khoa sản Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long từ 03/2025 đến 09/2025. Kết quả tổng số 78 thai phụ, tuổi là 26,67 ± 6,62. Tỷ lệ thai phụ có trọng lượng trước mang thai ở mức thừa cân là 17,9% và béo phì là 7,7%. Có 14 bệnh nhân xuất hiện tiền sản giật, tỷ lệ là 17,9%. Trong phân tích đa biến, thừa cân và béo phì là yếu tố độc lập của tiền sản giật với OR = 5,76 (KTC 95%: 1,34 - 24,71). Điểm cắt chỉ số khối cơ 22,90 kg/m<sup>2</sup> có diện tích dưới đường cong 0,748 (KTC 95%: 0,59 - 0,91) trong dự báo tiền sản giật. Kết quả trên cho thấy, tình trạng thừa cân béo phì trước khi mang thai là yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ xuất hiện tiền sản giật. Chỉ số khối cơ thể có giá trị khá trong dự báo sự phát triển của tiền sản giật trong thai kỳ.</em></p>Hồ Thị Thu HằngTrần Mỹ Dung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199217217810.52852/tcncyh.v199i2.4713Giá trị của PI-RADS 2.1 trên cộng hưởng từ đa tham số kết hợp kháng nguyên đặc hiệu trong chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4614
<p class="p1"><em>Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là bệnh lý ác tính phổ biến ở nam giới, trong đó việc ứng dụng hệ thống PI-RADS 2.1 trên cộng hưởng từ đa tham số (mpMRI) có ý nghĩa thiết thực trong chẩn đoán và điều trị. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 46 bệnh nhân nghi ngờ UTTTL tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế và Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng (5/2024 - 5/2025). Tất cả bệnh nhân được thực hiện mpMRI, xét nghiệm PSA và mô bệnh học. Hiệu suất chẩn đoán của PI-RADS 2.1 được phân tích bằng đường cong ROC và so sánh với mô bệnh học trên phần mềm R 4.5.0. Kết quả cho thấy nồng độ PSA toàn phần và mật độ PSA tăng có ý nghĩa ở nhóm UTTTL (p < 0,001). Phân loại PI-RADS 2.1 đạt hiệu suất chẩn đoán cao (AUC = 0,933). Tỷ lệ UTTTL tăng rõ rệt theo phân loại PI-RADS (p < 0,001). Chỉ định sinh thiết khi PI-RADS ≥ 4 giúp tránh được 52,2% ca sinh thiết không cần thiết với độ đặc hiệu 85,2% và độ nhạy 94,7%. Tóm lại, hệ thống PI-RADS 2.1 trên mpMRI có giá trị hỗ trợ chẩn đoán trong phát hiện ung thư tuyến tiền liệt và có tiềm năng góp phần giảm các chỉ định sinh thiết không cần thiết.</em></p>Lê Thị Mỹ LinhNguyễn Ngọc Vĩnh HânPhạm Ngọc ĐềLê Trọng KhoanHồ Xuân Tuấn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199217918810.52852/tcncyh.v199i2.4614Mối liên quan giữa đa hình gen STAT4 rs7574865 và bệnh lupus ban đỏ hệ thống
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4593
<p class="p1"><em>Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn đa cơ quan phức tạp. Đa hình gen STAT4 rs7574865 có liên quan với LBĐHT. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xác định mối liên quan giữa đa hình gen STAT4 rs7574865 và bệnh LBĐHT. Đây là một nghiên cứu cắt ngang bao gồm 147 người bệnh Lupus ban đỏ hệ thống và 159 người khỏe mạnh thuộc nhóm chứng được tuyển chọn tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Phân tích kiểu gen STAT4 rs7574865 được thực hiện bằng kỹ thuật giải trình tự Sanger. Kết quả cho thấy tần suất allen T cao hơn đáng kể ở nhóm Lupus ban đỏ hệ thống (48,30%) so với nhóm chứng (33,96%) (p < 0,001). Allen T có liên quan đến tăng nguy cơ mắc Lupus ban đỏ hệ thống, với OR là 1,81 (KTC 95%: 1,31 – 2,52; p < 0,001). Các kiểu gen GT và TT cũng cho thấy mối liên quan đáng kể với nguy cơ mắc Lupus ban đỏ hệ thống so với kiểu gen tham chiếu GG (OR<sub>GT</sub> = 2,16, p = 0,003; OR<sub>TT</sub> = 2,89, p = 0,001). Đây là nghiên cứu đầu tiên ở người Việt Nam về đa hình gen STAT4 rs75748865, cung cấp thêm dữ liệu di truyền học cho y văn trong nước cũng như thế giới. </em></p>Huỳnh Phan Phúc LinhVõ Tam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199218919610.52852/tcncyh.v199i2.4593Nghiên cứu kết quả điều trị người bệnh viêm quanh khớp vai thể đông cứng bằng phương pháp tiêm nong phá đông khớp vai sử dụng thuốc Hydrocortison-Lidocain
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4563
<p class="p1"><em>Nghiên cứu can thiệp tiến cứu, mô tả cắt ngang so sánh 03 thời điểm nhằm đánh giá kết quả điều trị viêm quanh khớp vai thể đông cứng bằng phương pháp tiêm nong phá đông khớp vai bằng Hydrocortison–Lidocain trên đối tượng 26 người bệnh viêm quanh khớp vai thể đông cứng, điều trị tại Khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện A Thái Nguyên. Kết quả cho thấy sau can thiếp điều trị: Điểm VAS giảm từ 7,27 ± 1,0 xuống 0,54 ± 0,7 sau 3 tháng (p < 0,01). Tầm vận động vai cải thiện rõ rệt ở cả 3 hướng: gấp vai, xoay trong và xoay ngoài (p < 0,01).</em></p>Triệu Văn MạnhDương Sơn Thùy LinhVi Thị LinhTriệu Quốc Đạt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199219720410.52852/tcncyh.v199i2.4563Đánh giá kết quả phẫu thuật giải ép lối sau điều trị viêm thân sống đĩa đệm cột sống ngực - thắt lưng tự phát do vi khuẩn sinh mủ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4693
<p class="p1"><em>Viêm thân sống đĩa đệm tự phát do vi khuẩn sinh mủ là bệnh lý nhiễm trùng cột sống ít gặp nhưng có thể gây biến chứng thần kinh nặng nếu chẩn đoán và điều trị chậm trễ. Trong những trường hợp có chèn ép thần kinh, phẫu thuật giải ép đóng vai trò quan trọng. Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca trên các bệnh nhân được chẩn đoán viêm thân sống đĩa đệm tự phát và phẫu thuật cắt bản sống giải ép tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ 01/2020 đến 10/2023. Đa số bệnh nhân ở độ tuổi trung niên và cao tuổi, có nhiều bệnh lý đi kèm. Đau lưng và thiếu hụt thần kinh là các triệu chứng thường gặp. Sau phẫu thuật, điểm đau VAS giảm, chức năng thần kinh cải thiện có ý nghĩa thống kê, đa số bệnh nhân duy trì hoặc cải thiện mức AIS tại thời điểm xuất viện và sau 6 tháng theo dõi. Tỷ lệ biến chứng phẫu thuật thấp. Chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời góp phần cải thiện kết quả điều trị.</em></p>Lê Viết ThắngPhạm Anh TuấnNgô Xuân Định
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199220521410.52852/tcncyh.v199i2.4693Tình trạng di căn hạch cổ và kết quả sớm phẫu thuật ung thư tuyến giáp thể nhú biến thể xơ hóa lan tỏa tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4709
<p class="p1"><em>Ung thư tuyến giáp thể nhú biến thể xơ hóa lan tỏa là dưới nhóm ít gặp. Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng di căn hạch cổ và kết quả sớm phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân biến thể này tại Bệnh viện K. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 72 bệnh nhân được phẫu thuật từ tháng 1/2016 - 1/2025. Kết quả sau phẫu thuật có 54,2% bệnh nhân ở giai đoạn u pT3–pT4 và 84,7% có di căn hạch cổ, di căn xa là 4,2%. Di căn hạch cổ bên gặp nhiều hơn ở bệnh nhân ≤ 30 tuổi, u hai thùy và giai đoạn u pT3–pT4 (p < 0,05). Phẫu thuật chủ yếu là cắt toàn bộ tuyến giáp (97,2%), vét hạch cổ bên (75%) và 94,4% được điều trị I131. Thời gian nằm viện trung bình là 5,9 ± 1,4 ngày. Các biến chứng thường gặp là suy cận giáp tạm thời (29,2%) và liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược tạm thời (13,9%). Kết luận, ung thư tuyến giáp thể nhú biến thể xơ hóa lan tỏa có tỷ lệ di căn hạch cổ cao, phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp kết hợp vét hạch cổ và điều trị bổ trợ I131 là chiến lược điều trị hiệu quả với kết quả sớm chấp nhận được.</em></p>Ngô Quốc DuyTrần Hùng AnhNgô Xuân Quý
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199221522210.52852/tcncyh.v199i2.4709Mối tương quan giữa Ferritin và Transferrin với mức độ hoạt động ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4581
<p class="p1"><em>Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là bệnh viêm mạn tính gây rối loạn chuyển hóa, bao gồm chuyển hóa sắt, nhưng giá trị của ferritin và transferrin như các chỉ dấu phản ánh mức độ hoạt động bệnh vẫn còn được nghiên cứu. Nghiên cứu nhằm làm rõ giá trị của ferritin và transferrin huyết thanh trong phản ánh mức độ hoạt động bệnh và rối loạn chuyển hóa sắt ở bệnh nhân VKDT. Nghiên cứu mô tả cắt ngang 56 bệnh nhân VKDT (theo ACR/EULAR 2010) và 56 đối chứng khỏe mạnh. Ferritin và transferrin được định lượng bằng ECLIA và PETIA; mức độ hoạt động bệnh đánh giá bằng DAS28-CRP, chỉ số Ritchie và VAS; xét nghiệm gồm CRP, RF, anti-CCP, hemoglobin, sắt huyết thanh. Phân tích tương quan và hồi quy đa biến được sử dung để xác định các yếu tố liên quan. Ferritin tương quan thuận với DAS28-CRP, CRP, RF, Ritchie và VAS; trong khi transferrin tương quan nghịch với CRP, DAS28-CRP, RF, VAS và tương quan thuận với hemoglobin và sắt huyết thanh (p < 0,05). Hồi quy đa biến cho thấy CRP là yếu tố độc lập liên quan với ferritin tăng (β = 2,606; p = 0,019) và transferrin giảm (β = −0,003; p = 0,006); anti-CCP liên quan nghịch độc lập với ferritin (β = −0,975; p = 0,01). Ferritin và transferrin liên quan chặt chẽ với mức độ hoạt động bệnh, có tiềm năng trở thành các chỉ dấu bổ trợ trong đánh giá VKDT.</em></p>Nguyễn Cảnh KhánhVũ Lê Ngọc BíchNguyễn Hoàng Thanh Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199222323110.52852/tcncyh.v199i2.4581Nghiên cứu mật độ xương ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hoá và một số mối liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4583
<p class="p1"><em>Hội chứng chuyển hóa bao gồm béo phì nội tạng, giảm HDL-C, tăng đường huyết, triglyceride cao và tăng huyết áp ảnh hưởng đến xương thông qua các cơ chế khác nhau. Nghiên cứu nhằm đánh giá mật độ xương ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa và một số yếu tố liên quan. 106 bệnh nhận mắc hội chứng chuyển hóa và 105 trường hợp nhóm chứng được thu thập tại Bệnh viện Vinmec Đà Nẵng trong thời gian từ tháng 4/2024 đến 5/2025. Qua nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận mật độ xương tại cổ xương đùi và cột sống thắt lưng ở nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng (p < 0,001), tỷ lệ loãng xương ở nhóm bệnh cao gấp 3 lần so với nhóm chứng. Hội chứng chuyển hoá có mối liên quan chặt chẽ và có ý nghĩa thống kê với tình trạng loãng xương (OR = 4,61; 95% CI: 2,33 - 9,13; p < 0,001).</em></p>Nguyễn Thị MỹTrần Hữu DàngNguyễn Hoàng Thanh Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199223223910.52852/tcncyh.v199i2.4583Đặc điểm tổn thương khớp cùng chậu trên hình ảnh cộng hưởng từ và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân viêm khớp cột sống thể trục
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4601
<p class="p1"><em>Viêm khớp cột sống thể trục là bệnh lí với biểu hiện lâm sàng đa dạng và thường được chẩn đoán trễ. Hình ảnh cộng hưởng từ được xem là yếu tố quan trọng nhằm chẩn đoán sớm, theo dõi tình trạng viêm và đáp ứng điều trị. Với mục tiêu đánh giá tổn thương khớp cùng chậu trên cộng hưởng từ nghiên cứu đã rút ra được một số kết quả như sau: HLAB27 dương tính 48,9%, Tăng CRP tỉ lệ 64,4%. 36/45 bệnh nhân (80%) có hình ảnh viêm khớp cùng chậu theo ASAS, trong đó mỗi trường hợp xuất hiện đồng thời trung bình 4/12 hình thái tổn thương KCC trên cộng hưởng từ. Phù tủy xương là dấu hiệu phổ biến với 36/45 trường hợp (80%). Có sự khác biệt có ý nghĩa tỉ lệ tổn thương khớp cùng chậu âm tính trên X-quang so với tỉ lệ dương tính trên cộng hưởng từ. Tuổi, thời gian mắc bệnh, các chỉ số mức độ hoạt động bệnh trên lâm sàng, CLS liên quan với tổn thương khớp cùng chậu trên cộng hưởng từ. Các chỉ số như CRP, BASDAI, ASDAS-CRP tỷ lệ thuận với số lượng hình thái tổn thương khớp cùng chậu trên phim cộng hưởng từ. Tuổi và thời gian mắc bệnh tương quan nghịch với chỉ số mức độ viêm trên cộng hưởng từ.</em></p>Nguyễn Hoàng MinhLê Thị Hồng VânHoàng Minh LợiNguyễn Hoàng Thanh Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199224024810.52852/tcncyh.v199i2.4601Tán sỏi qua da đường hầm nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm cho bệnh nhân sỏi san hô thận
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4552
<p class="p1"><em>Tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ (miniPCNL) trong nhiều năm gần đây đã có những cải tiến đáng kể về kỹ thuật và năng lượng tán, tuy nhiên miniPCNL cho sỏi san hô thận vẫn luôn gây ra rất nhiều khó khăn cho các phẫu thuật viên tiết niệu. Nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của miniPCNL dưới hướng dẫn của siêu âm trong điều trị sỏi san hô thận. Nghiên cứu mô tả tiến cứu 57 trường hợp sỏi san hô thận được miniPCNL dưới hướng dẫn của siêu âm tại khoa Phẫu thuật Tiết niệu Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Kết quả cho thấy: thời gian mổ trung bình 85,9 ± 22,3 phút, sạch sỏi sau tán lần 1 là 91,2%, sau tán bổ sung lần 2 là 98,2%, biến chứng sau mổ chiếm 13,95% đều là các biến chứng nhẹ. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy miniPCNL dưới hướng dẫn siêu âm là an toàn và khả thi để điều trị sỏi san hô thận.</em></p>Nguyễn Huy HoàngVõ Văn Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199224925810.52852/tcncyh.v199i2.4552Đặc điểm mặt phẳng nhai trước và sau trên bệnh nhân sai hình xương hạng II và hạng III ở bộ răng vĩnh viễn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4774
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc điểm mặt phẳng nhai trước (anterior occlusal plane-AOP) và mặt phẳng nhai sau (posterior occlusal plane-POP) ở bệnh nhân sai hình xương hạng II và hạng III trong giai đoạn bộ răng vĩnh viễn. Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 80 bệnh nhân chưa điều trị chỉnh nha. Độ nghiêng của mặt phẳng nhai (occlusal plane-OP), AOP và POP được đo bằng phần mềm WebCeph với mặt phẳng tham chiếu Sella-Nasion (SN) và Frankfort (FH). Kết quả cho thấy các giá trị SN-AOP và SN-POP ở nhóm sai hình xương hạng II cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm hạng III, trong đó POP là phân đoạn thể hiện sự khác biệt rõ rệt nhất giữa hai nhóm (p < 0,001). Khi sử dụng FH làm tham chiếu, chỉ số FH-POP vẫn ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết luận, độ nghiêng OP, đặc biệt là POP, có mối liên hệ chặt chẽ với kiểu sai hình xương hạng II và hạng III.</em></p>Nguyễn Lê Thu Thảo
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199225926710.52852/tcncyh.v199i2.4774Kết quả trung hạn phẫu thuật điều trị hẹp van động mạch chủ tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4556
<p class="p1"><em>Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả trung hạn phẫu thuật điều trị bệnh hẹp van động mạch chủ (ĐMC) tại Trung tâm tim mạch, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 8/2018 đến tháng 1/2024. 29 bệnh nhân với tuổi và cân nặng trung vị là 1,2 tuổi (IQR: 0,4 - 3,3 tuổi) và 9,1kg (IQR: 5,2 - 15,2kg). 3 bệnh nhân được phẫu thuật ở tuổi sơ sinh. 26,7% cần hỗ trợ thở máy trước mổ. Phẫu thuật mở van ĐMC trên 25 bệnh nhân (86,2%), Ross – Konno thì đầu trên 4 bệnh nhân. Thời gian trung vị cặp chủ và chạy máy lần lượt là 57 phút (IQR: 36 - 90,5 phút) và 99 phút (IQR: 66,5 - 133 phút. 2 bệnh nhân (6,9%) tử vong sớm và 2 (6,9%) tử vong muộn sau mổ. Theo dõi trong 1 và 5 năm, tỷ lệ sống không có biến cố bất lợi (tử vong và mổ lại) lần lượt là 93,1% (95% CI: 84,3% - 100%) và 84,4% (95% CI: 71,2 - 100%). Kết quả trung hạn phẫu thuật điều trị hẹp van ĐMC tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Nhi Trung ương là khả quan. Cần nghiên cứu dài hạn hơn để đánh giá hiệu quả phẫu thuật. </em></p>Nguyễn Lý Thịnh TrườngNguyễn Tuấn MaiNguyễn Thị Vân AnhLê Hồng Quang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199226827510.52852/tcncyh.v199i2.4556Thiếu hụt biểu lộ phức hợp hòa hợp mô lớp 2: Hội chứng rối loạn miễn dịch nguyên phát hiếm gặp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4655
<p class="p1"><em>Thiếu hụt biểu lộ phức hợp hòa hợp mô lớp 2 (MHC II) là một rối loạn miễn dịch nguyên phát do đột biến yếu tố điều chỉnh phiên mã của gen MHC II. Biểu hiện lâm sàng là nhiễm trùng tái diễn, suy dinh dưỡng và nguy cơ tử vong sớm. Chúng tôi báo cáo một trẻ trai 8 tháng tuổi với bệnh cảnh lâm sàng viêm phổi, tiêu chảy tái diễn, xét nghiệm máu có số lượng tuyệt đối lympho T CD4+ giảm, tỷ lệ CD4+/CD8+ đảo ngược, không có biểu hiện HLA-DR trên tế bào lympho, giảm nồng độ immunoglobulin G (IgG) huyết thanh. Kết quả di truyền tìm thấy đột biến dị hợp tử kép trên gen CIITA, trẻ chẩn đoán xác định thiếu hụt biểu lộ phức hợp hòa hợp mô lớp 2. Trẻ được điều trị tích cực bằng kháng sinh, chống nấm, truyền globulin miễn dịch, ghép tế bào gốc tạo máu nhưng thất bại. Bác sỹ lâm sàng cần lưu ý tới khả năng rối loạn miễn dịch nguyên phát ở những trẻ có nhiễm trùng tái diễn khởi phát sớm trong năm đầu đời. </em></p>Hà Phương AnhĐặng Thị HàTrần Thị Thúy HạnhNguyễn Thị Vân AnhNguyễn Thị Thanh HươngNguyễn Thanh BìnhCao Việt TùngNguyễn Ngọc Quỳnh Lê
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199227628310.52852/tcncyh.v199i2.4655Liên quan giữa sức căng nhĩ trái với khởi phát rung nhĩ sớm sau phẫu thuật bắc cầu động mạch chủ - vành
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4643
<p class="p1"><em>Rung nhĩ là một biến chứng phổ biến sau phẫu thuật bắc cầu động mạch chủ - vành, liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong và nhu cầu chăm sóc y tế. Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát sức căng nhĩ trái bằng siêu âm ở người bệnh trước phẫu thuật bắc cầu động mạch chủ - vành và tìm hiểu mối liên quan của sức căng nhĩ trái với khởi phát rung nhĩ sớm sau phẫu thuật ở nhóm người bệnh trên. Kết quả cho thấy sức căng nhĩ trái của nhóm bệnh nhân nghiên cứu giảm ở cả ba pha hoạt động với giá trị trung bình sức căng nhĩ trái lần lượt là: pha chứa máu: 25,5 ± 12 (%), pha tống máu: 13,7 ± 7,9 (%), pha dẫn máu: 11,4 ± 7,1 (%). Giá trị trung bình sức căng nhĩ trái của nhóm xuất hiện rung nhĩ sau phẫu thuật ở ba thì hoạt động của nhĩ trái đều có xu hướng giảm hơn so với nhóm không xuất hiện rung nhĩ với các giá trị tương ứng lần lượt là: pha chứa máu: 22,6 ± 15,5 (%) với 26 ± 11,8 (%), pha tống máu: 12,5 ± 12,4 (%) với 13,9 ± 7,4 (%), pha dẫn máu: 10,2 ± 5,2 (%) với 11,6 ± 7,5 (%). Kết luận: Giảm sức căng nhĩ trái có liên quan tới xuất hiện rung nhĩ sớm sau phẫu thuật ở người bệnh mổ bắc cầu động mạch chủ - vành.</em></p>Nguyễn Thị Minh LýNguyễn Thị Thanh ThảoNguyễn Lân HiếuHoàng Thị Ánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199228429310.52852/tcncyh.v199i2.4643Tuân thủ quy trình hồi phục sớm sau mổ ở người bệnh phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định năm 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4714
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ áp dụng và một số yếu tố liên quan đến mỗi thành tố trước và sau phẫu thuật theo thực hành chương trình quy trình hồi phục sớm sau mổ (ERAS) trong phẫu thuật ung thư đại trực tràng (ĐTT) tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định năm 2024 - 2025. Thiết kế mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu 100 người bệnh ung thư ĐTT được phẫu thuật nội soi cắt ĐTT theo ERAS từ tháng 03/2025 đến tháng 06/2025. Tuân thủ ERAS, thời gian nằm viện, và tỷ lệ biến chứng (Clavien-Dindo ≥ II) được đánh giá qua hồ sơ bệnh án. Tỷ lệ tuân thủ ERAS tốt chung đạt 86,0% (n = 86). Thành tố có tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là vận động sớm sau phẫu thuật (86,0%). Hai yếu tố giảm tuân thủ ERAS: ASA III (OR<sub>hiệu chỉnh</sub>= 0,03; p < 0,001) và suy dinh dưỡng trước mổ (OR<sub>hiệu chỉnh</sub>= 0,29; p = 0,029). Tuân thủ tốt có liên quan đến thời gian nằm viện sau phẫu thuật ngắn hơn (p < 0,001) và tỷ lệ biến chứng thấp hơn (p = 0,007). Bệnh hệ thống và tình trạng suy dinh dưỡng là rào cản với việc tuân thủ ERAS.</em></p>Nguyễn Thị Thu HàNgô Quang DuyTrần Thị Nguyên ThủyLâm Thị Ngọc BíchNguyễn Hoài Minh ChâuNguyễn Thị Nguyên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199229430210.52852/tcncyh.v199i2.4714Tình trạng sâu răng, sỏi tủy trên bệnh nhân tạo xương bất toàn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4576
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả tình trạng sâu răng và sỏi tủy ở bệnh nhân tạo xương bất toàn (Osteogenesis Imperfecta – OI). Tổng cộng 98 bệnh nhân OI từ 2 – 19 tuổi được khảo sát trong thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang. Tình trạng sâu răng được đánh giá bằng hệ thống ICDAS và chỉ số dft/DFT; sỏi tủy được ghi nhận trên phim panorama hoặc cận chóp ở các bệnh nhân có răng hỗn hợp và răng vĩnh viễn. Kết quả cho thấy tỷ lệ sâu răng cao (79,6%). Nhóm răng sữa bị ảnh hưởng nặng nhất với điểm dft trung bình 7,3 ± 5,88, tiếp theo là nhóm răng hỗn hợp và nhóm răng vĩnh viễn; sự khác biệt giữa ba nhóm có ý nghĩa thống kê. Số răng được trám ở cả ba nhóm đều thấp, phản ánh nhu cầu chăm sóc răng miệng chưa được đáp ứng đầy đủ. Sỏi tủy chỉ được phát hiện ở một bệnh nhân, cho thấy tỷ lệ thấp trong nhóm tuổi nghiên cứu.</em></p>Nguyễn Thị Thu Hương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199230330810.52852/tcncyh.v199i2.4576Hiệu quả và tính an toàn của bổ sung Carbohydrate đường uống trước nội soi dạ dày - tá tràng có gây mê ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4354
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của dung dịch maltodextrin 12,5% đường uống trước nội soi dạ dày – tá tràng có gây mê ở trẻ em. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không ngẫu nhiên có đối chứng được tiến hành trên 380 trẻ tại Bệnh viện Nhi Thái Bình (6/2024 – 7/2025), gồm 118 trẻ được uống dung dịch maltodextrin 12,5% (10 ml/kg, tối đa 200 ml) trước nội soi 2 giờ và 262 trẻ nhịn ăn thường quy. Kết quả cho thấy nhóm can thiệp giảm rõ rệt cảm giác đói, khát và lo lắng so với nhóm chứng (p < 0,05). Thể tích dịch tồn lưu dạ dày cao hơn nhưng vẫn trong giới hạn an toàn (< 1,5 ml/kg) và không ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh hay tỷ lệ trào ngược. Uống maltodextrin 12,5% 2 giờ trước nội soi giúp cải thiện cảm giác khó chịu tiền thủ thuật, đảm bảo an toàn và có tính khả thi trong thực hành gây mê nhi khoa.</em></p>Nguyễn Thị Thuý HồngNguyễn Hữu QuyềnTrần Tiến Đạt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199230931810.52852/tcncyh.v199i2.4354Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ung thư vòm mũi họng ở trẻ em tại Bệnh viện K giai đoạn 2019 - 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4597
<p class="p1"><em>Ung thư vòm mũi họng (UTVMH) ở trẻ em là bệnh lý ác tính hiếm gặp, chiếm dưới 1% tổng số các loại ung thư. Việc xác định các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân (BN) này có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán sớm và lựa chọn chiến lược điều trị. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 38 BN UTVMH ở trẻ em < 18 tuổi tại Bệnh viện K từ 1/2019 đến 12/2024. Kết quả cho thấy tỷ lệ nam/nữ là 2,8/1; 100% thuộc thể ung thư biểu mô không biệt hóa; 57,9% có nồng độ EBV-DNA huyết tương ≥ 300 copies/ml tại thời điểm chẩn đoán. Triệu chứng thường gặp nhất là nổi hạch cổ (78,9%). Về hình thái, khối u thường biểu hiện dạng sùi (94,8%) và thường đã lan rộng toàn bộ vòm tại thời điểm chẩn đoán (55,3%). Tất cả các bệnh nhân đều đến viện ở giai đoạn tiến triển, giai đoạn III chiếm 57,9%, giai đoạn IVA chiếm 42,1%.</em></p>Nguyễn Văn ĐăngNguyễn Thị Lan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199231932610.52852/tcncyh.v199i2.4597Đặc điểm lâm sàng và siêu âm của viêm cân gan chân và kết quả điều trị viêm cân gan chân bằng tiêm Corticoid dưới hướng dẫn của siêu âm tại Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4602
<p class="p1"><em>Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng và siêu âm của bệnh nhân bị viêm cân gan chân, đồng thời đánh giá hiệu quả điều trị viêm cân gan chân bằng tiêm corticosteroid tại chỗ dưới hướng dẫn siêu âm và khảo sát các tác dụng không mong muốn của phương pháp này tại Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu bao gồm 24 bệnh nhân được chẩn đoán viêm cân gan chân từ tháng 9/2025 đến tháng 11/2025. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 53,04 (30 – 70 tuổi), 79,2% là nữ, BMI trung bình 22,44 kg/m². Điểm đau VAS trung bình giảm từ 8 trước tiêm xuống còn 2,25 sau 1 tuần và 2,21 sau 4 tuần. Chỉ số chức năng bàn chân FFI giảm từ 58,27% trước tiêm xuống 18,17% sau 1 tuần và 18,05% sau 4 tuần. Sự khác biệt về điểm VAS và FFI trước và sau tiêm tại các thời điểm 1 tuần và 4 tuần đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Không ghi nhận trường hợp nào gặp biến chứng hoặc tác dụng không mong muốn sau tiêm. Kết quả cho thấy tiêm corticosteroid tại chỗ dưới hướng dẫn siêu âm là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp giảm đau, cải thiện chức năng vận động và an toàn cho bệnh nhân viêm cân gan chân.</em></p>Phạm Thị Mai QuyênNguyễn Ngọc BíchPhùng Đức TâmNgô Thị Thục NhànNguyễn Vĩnh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199232733410.52852/tcncyh.v199i2.4602Đánh giá kết quả điều trị rách bán phần gân cơ trên gai bằng liệu pháp tiêm collagen typ I tại chỗ dưới hướng dẫn của siêu âm tại Bệnh viện E
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4605
<p class="p1"><em>Bệnh lý khớp vai ngày càng càng phổ biến gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống. Hiện nay, liệu pháp tiêm collagen tại chỗ đã và đang được ứng dụng trong điều trị bệnh lý rách bán phần gân cơ trên gai. Nghiên cứu này được đề ra nhắm đánh giá kết quả điều trị rách bán phần gân cơ trên gai bằng liệu pháp<span class="Apple-converted-space"> </span>tiêm Collagen typ I dưới hướng dẫn siêu âm. Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp tiến hành trên 52 bệnh nhân (53 khớp vai) được chẩn đoán rách bán phần gân trên gai tại Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện E từ tháng 8/2024 đến tháng 6/2025. Bệnh nhân được tiêm Collagen typ I 2 ml/tuần trong 5 tuần liên tiếp, tiêm dưới hướng dẫn của siêu âm và tiến hành theo dõi sau 12 tuần. Điểm VAS giảm <span class="Apple-converted-space"> </span>75,64%, điểm SPADI giảm 78,47%, góc dạng khớp vai tăng 27,09% (p < 0,001), trên siêu âm diện tích vết rách giảm 49,5% và bề dày giảm 29,5%,11,3% bệnh nhân đau nhẹ tại chỗ và không có biến chứng nghiêm trọng. Liệu pháp tiêm Collagen typ I dưới hướng dẫn siêu âm có hiệu quả tốt trong giảm đau, cải thiện vận động và hỗ trợ tái tạo cấu trúc gân và là liệu pháp an toàn.</em></p>Hoàng Thị NhungĐặng Chí HiếuPhùng Đức TâmPhạm Thị Mai QuyênNgô Thị Thục NhànNguyễn Vĩnh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199233534110.52852/tcncyh.v199i2.4605Một số yếu tố liên quan giữa đau do nguyên nhân thần kinh theo thang điểm DN4 với các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân thoái hóa cột sống thắt lưng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4606
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 101 bệnh nhân thoái hóa cột sống thắt lưng có đau (VAS ≥ 3) điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ 8/2024 đến 8/2025 cho kết quả tỷ lệ đau cột sống thắt lưng do nguyên nhân thần kinh ở bệnh nhân thoái hóa cột sống thắt lưng theo thang điểm DN4 là 34,7%. Các yếu tố liên quan đến đau thần kinh theo thang điểm DN4 ở bệnh nhân thoái hóa cột sống thắt lưng: tuổi cao (≥ 70), BMI thừa cân, béo phì (≥ 23), mức độ đau nhiều (VAS ≥ 7), X-quang cột sống thắt lưng có hẹp lỗ liên hợp, hẹp khe khớp, mất đường cong sinh lý, số đốt sống có gai xương ≥ 4 có nguy cơ đau thần kinh (OR) lần lượt là 2,52; 3,31; 18,39; 22,29; 3,78; 3,07; 8,46. Có mối tương quan đồng biến giữa điểm đau VAS, số đốt sống có gai xương với thang điểm DN4. Kết quả cho thấy đau thần kinh hay gặp ở bệnh nhân thoái hóa cột sống thắt lưng, liên quan đến mức độ đau và tổn thương cấu trúc trên X-quang, do đó cần được phát hiện sớm nhằm định hướng điều trị phù hợp.</em></p>Hoàng Thị VânTrần Thị Tô ChâuLương Duy ThịnhLương Thị Thùy LinhTrương Minh HảiNguyễn Thị Bích NgọcVương Thị Thu HiềnBùi Long GiangNgô Thị Thục NhànNguyễn Lê Phương ThảoNguyễn Vĩnh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199234235010.52852/tcncyh.v199i2.4606Các yếu tổ ảnh hưởng đến kết quả tiêm Corticosteroid nội khớp trong điều trị viêm khớp cổ chân do gút cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4624
<p class="p1"><em>Tiêm corticosteroid nội khớp là phương pháp điều trị hiệu quả trong viêm khớp cổ chân do gút cấp. Tuy nhiên, đáp ứng điều trị ở các bệnh nhân không đồng nhất. Nghiên cứu của chúng tôi gồm 34 bệnh nhân viêm khớp cổ chân do gút cấp được tiêm corticosteroid nội khớp. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tái phát sau tiêm corticosteroid được phân tích bao gồm: đặc điểm nhân trắc bệnh nền, chỉ số viêm và rối loạn chuyển hóa. Nhóm bệnh nhân có rối loạn lipide máu, tăng CRP-hs và tăng bạch cầu có mối tương quan tuyến tính nghịch với sự cải thiện điểm VAS (p < 0,05). Bệnh nhân có số lượng bạch cầu >10 G/L có nguy cơ tái phát cơn gút cao gấp 7,8 lần so với nhóm không tăng bạch cầu. Bệnh nhân có CRP-hs ≥ 36,2 mg/L có khả năng tái phát sau tiêm corticosteroid cao gấp 2,7 lần so với nhóm có CRP-hs < 36,2 mg/L (OR = 2,7; p > 0,05). Việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị góp phần nâng cao hiệu quả can thiệp và hạn chế tái phát sau tiêm corticosteroid nội khớp.</em></p>Bùi Thị HườngNguyễn Thị TràPhùng Đức TâmNgô Thị Thục NhànNguyễn Vĩnh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199235135710.52852/tcncyh.v199i2.4624Kết quả bước đầu phẫu thuật u màng não lỗ chẩm và dốc nền bằng đường mổ xa bên
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4636
<p class="p1"><em>Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả bước đầu phẫu thuật u màng não vùng lỗ chẩm và dốc nền bằng đường mổ xa bên. Đây là vùng giải phẫu phức tạp tại nền sọ, nơi tập trung các cấu trúc quan trọng như thân não, động mạch đốt sống và các dây thần kinh sọ thấp (IX-XII), khiến phẫu thuật qua đường mổ này gặp nhiều thách thức. Phương pháp: nghiên cứu mổ tả tiến cứu trên 05 bệnh nhân được phẫu thuật từ tháng 01/2023 đến 06/2025. Kết quả: 5 ca gồm 4 nữ, 1 nam; tuổi trung bình 58 (từ 48 đến 65). Kích thước u trung bình là 29,6mm. Tỉ lệ lấy toàn bộ u đạt 100%. Các biến chứng như rò dịch não tủy, liệt dây VI, chậm liền vết mổ đều điều trị bảo tồn thành công. Không có biến chứng nặng hoặc tử vong. Kết luận, đường mổ xa bên là đem lại một hành lang tiếp cận u màng não vùng lỗ chẩm và dốc nền ở phía trước-bên đồng thời hạn chế việc vén não, bảo tồn tốt các cấu trúc thần kinh - mạch máu quan trọng.</em></p>Phạm DuyNguyễn Lê Minh TiếnTrần Sơn TùngNgô Mạnh Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199235836710.52852/tcncyh.v199i2.4636Ứng dụng cắt mỏm yên trước ngoài màng cứng trong phẫu thuật bệnh lý nền sọ quanh mỏm yên
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4663
<p class="p1"><em>Mỏm yên trước liên quan mật thiết với các cấu trúc quan trọng như thần kinh thị giác, động mạch cảnh trong, xoang hang. Để bộc lộ các tổn thương quanh mỏm yên đòi hỏi cắt mỏm yên trước và kỹ thuật cắt mỏm yên trước ngoài màng cứng có nhiều ưu điểm trong việc bảo vệ các cấu trúc quan trong dưới màng cứng. Chúng tôi mô tả kỹ thuật cắt mỏm yên trước và báo cáo kết quả bước đầu. Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 11 bệnh nhân đã được điều trị phẫu thuật các tổn thương nền sọ quanh mỏm yên với kỹ thuật cắt mỏm yên trước ngoài màng cứng tại Bệnh viện Việt Đức từ 8/2024 – 5/2025, trong đó tuổi trung bình: 46,91 ± 20,11; 7 nữ và 4 nam. 3 trường hợp phình động mạch cảnh trong cạnh mỏm yên, 1 trường hợp phình động mạch thông sau, 4 trường hợp u màng não cánh xương bướm, 2 trường hợp u sọ hầu sau giao thoa thị giác và 1 trường hợp loạn sản xơ nền sọ. Cắt mỏm yên trước ngoài màng cứng có vai trò quan trọng trong phẫu thuật các bệnh lý nền sọ quanh mỏm yên. Hiểu biết về giải phẫu mỏm yên trước và các cấu trúc mạch máu - thần kinh lân cận giúp phẫu thuật an toàn. </em></p>Phạm DuyNguyễn Xuân NghiêmTrần Sơn TùngNgô Mạnh Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199236837710.52852/tcncyh.v199i2.4663Đặc điểm Sarcopenia ở bệnh nhân loãng xương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4589
<p class="p1"><em>Liệu pháp điều trị loãng xương chủ yếu tập trung vào mật độ xương, trong khi sarcopenia và osteosarcopenia ngày càng được xem là yếu tố làm tăng nguy cơ té ngã, gãy xương và suy giảm chức năng của người bệnh loãng xương. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 149 bệnh nhân loãng xương nguyên phát tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 2/2025 đên tháng 10/2025, chẩn đoán sarcopenia theo tiêu chuẩn AWGS 2019, nhằm xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc sarcopenia ở bệnh nhân loãng xương là 32,9% và tỷ lệ mắc sarcopenia nặng chiếm 12,8%. Sarcopenia gặp nhiều từ 75 tuổi trở lên, BMI thấp hơn 23 kg/m² và bệnh nhân có tiền sử sử dụng corticoid; nhóm này cũng có T-score cổ xương đùi và L1–L4 thấp hơn có ý nghĩa thống kê. Hồi quy đa biến xác định giới tuổi ≥ 75, BMI < 23 kg/m² và sử dụng corticoid là các yếu tố liên quan độc lập đến sarcopenia.</em></p>Nguyễn Thị ThoaTrần Thị Thu TrangPhạm Thị HiềnĐinh Quang MinhPhạm Hoài Thu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199237838510.52852/tcncyh.v199i2.4589Thực trạng sử dụng thuốc sinh học trong điều trị viêm khớp cột sống tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4577
<p class="p1"><em>Liệu pháp điều trị sinh học đã mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị viêm khớp cột sống cả thể trục và thể ngoại vi. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 89 người bệnh viêm khớp cột sống thể trục và viêm khớp vảy nến được chẩn đoán theo tiêu chuẩn ASAS 2009 và 2011 có điều trị thuốc sinh học với mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng thuốc sinh học trong điều trị viêm khớp cột sống tại khoa Cơ xương khớp - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội điều trị từ tháng 3/2024 đến tháng 11/2025. Kết quả nghiên cứu: nhóm thuốc được sử dụng khởi trị nhiều nhất là kháng TNF-α với 58,43%, tiếp theo đó là thuốc ức chế IL-17A (secukinumab, chiếm 41,57%). Có 21,35% người bệnh đổi thuốc sinh học. Secukinumab là thuốc được lựa chọn phổ biến nhất sau lần đổi thuốc đầu tiên, chiếm 36,11%. Adalimumab, golimumab và secukimumab được lựa chọn gần tương đương nhau sau lần đổi thuốc thứ 2. Tỷ lệ duy trì điều trị thuốc sinh học sau 3 năm là 77,53%, giãn liều là 59,55% và 22,47% người bệnh ngừng điều trị thuốc sinh học. Lý do giãn liều, tự ngừng thuốc và không tuân thủ điều trị phổ biến nhất là đáp ứng điều trị tốt và vấn đề về chi phí.</em></p>Đỗ Thị Huyền TrangPhạm Hoài ThuPhạm Thu HằngPhạm Văn Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199238639410.52852/tcncyh.v199i2.4577Đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật cắt dạ dày nội soi của gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng dưới hướng dẫn siêu âm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4719
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau, ảnh hưởng lên tim mạch, hô hấp và tác dụng không mong muốn của gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng hai bên dưới hướng dẫn siêu âm bằng levo-bupivacain 0,25% sau phẫu thuật cắt dạ dày nội soi. Nghiên cứu mô tả trên 60 người bệnh từ 18 tuổi trở lên, phân loại ASA I-III, được phẫu thuật cắt dạ dày nội soi tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, từ tháng 9/2024 đến tháng 10/2025. Các chỉ tiêu đánh giá gồm: mức độ đau thang điểm VAS, tổng liều morphin sử dụng trong 24 giờ đầu, các thay đổi mạch, huyết áp, hô hấp và tác dụng không mong muốn. Kết quả điểm đau VAS trung bình trong ngày đầu sau mổ duy trì ở mức trung bình, 3-4 khi nghỉ ngơi và 4-5 khi vận động, giảm dần theo thời gian. Tổng liều morphin trung bình trong 24 giờ đầu là 19,75 ± 7,23mg; liều morphin giảm đau giải cứu trung bình 3,23 ± 0,83mg. Các chỉ số tim mạch và hô hấp ổn định trong giới hạn bình thường. Tỉ lệ buồn nôn và/hoặc nôn là 13,33%; suy hô hấp nhẹ gặp ở một người bệnh (1,67%). Không có biến chứng về kỹ thuật gây tê hoặc ngộ độc thuốc tê. Gây tê mặt phẳng cơ ngang bụng dưới hướng dẫn siêu âm là phương pháp giảm đau hiệu quả, an toàn cho bệnh nhân phẫu thuật cắt dạ dày nội soi khi kết hợp trong giảm đau đa mô thức.</em></p>Trần Minh LongNguyễn Tuấn AnhNguyễn Hữu BằngNguyễn Hữu LợiĐỗ Văn LợiĐậu Việt Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199239540410.52852/tcncyh.v199i2.4719Ứng dụng cảnh báo thần kinh trong phẫu thuật ít xâm lấn điều trị trượt đốt sống đơn tầng cột sống vùng thắt - lưng cùng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4696
<p class="p1"><em>Phẫu thuật cột sống ít xâm lấn có sử dụng cảnh báo thần kinh với độ an toàn cao hiện nay đang là xu thế phát triển và được mở rộng chỉ định, đặc biệt trong các bệnh lý trượt đốt sống thắt lưng - cùng phức tạp. 50 bệnh nhân trượt đốt sống đơn tầng vùng cột sống thắt lưng - cùng được phẫu thuật MIS TLIF có sử dụng cảnh báo thần kinh từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2024. Các bệnh nhân được gây mê không giãn cơ, lấy baseline và theo dõi theo quy trình dựa trên các chỉ số EMG, MEP và TrEMG. Độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng: EMG, MEP và EMG/MEP lần lượt là: 33,3% và 95,7%, 66,7% và 95,7% và 66,7% và 97,8%. Chỉ số TrEMG sử dụng ở 10 bệnh nhân, ở vùng an toàn. Có 2 trường hợp biến đổi sóng kèm đau rễ sau mổ, đáp ứng với điều trị bảo tồn. Mức độ cải thiện lâm sàng của nhóm âm tính là tương đồng và có sự khác biệt giữa nhóm dương tính và dương tính giả. Sự cải thiện triệu chứng sau mổ 6 tháng có liên quan đến mức cải thiện chỉ số khi theo dõi qua các phương thức cảnh báo thần kinh, từ 6 tháng đến 12 tháng, không có sự khác biệt. Không ghi nhận biến chứng hay tổn thương thần kinh vận động sau mổ. Sử dụng cảnh báo thần kinh đa mô thức trong mổ đảm bảo sự an toàn với độ nhạy cũng như độ đặc hiệu cao. Mức độ cải thiện biên độ sóng sau mổ tương đương tiến triển của triệu chứng sau mổ 6 tháng.</em></p>Trần Trung KiênKiều Đình Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199240541310.52852/tcncyh.v199i2.4696Giá trị acid uric dịch khớp và tỷ số acid uric dịch khớp/ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân gút
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4584
<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang với 61 bệnh nhân gút nhằm mô tả nồng độ acid uric (AU) dịch khớp, tỷ số AU dịch khớp/huyết thanh (SSR) và các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy AU dịch khớp luôn cao hơn đáng kể so với AU huyết thanh (479,75 so với 424,01 µmol/L; p < 0,001) và khác biệt rõ rệt với nhóm thoái hóa khớp. SSR trung bình của nhóm gút đạt 1,16 ± 0,18, cao hơn rõ rệt so với nhóm thoái hóa khớp (0,99 ± 0,08). AU dịch khớp và AU huyết thanh có tương quan thuận rất mạnh (r = 0,881; p < 0,001), trong khi SSR tương quan nghịch mức trung bình với AU huyết thanh (r = –0,539; p < 0,001). </em></p>Võ TamTrần Thị Ly NiNguyễn Hoàng Thanh Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199241442010.52852/tcncyh.v199i2.4584Đặc điểm mảng xơ vữa động mạch vành trên siêu âm trong lòng mạch và các yếu tố tiên lượng kết cục nội viện ở bệnh nhân hội chứng vành cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4572
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 794 bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (HCVC) được can thiệp dưới hướng dẫn IVUS tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (01/2023 - 12/2024) nhằm khảo sát đặc điểm mảng xơ vữa và yếu tố tiên lượng. Kết quả cho thấy nhóm HCVC không ST chênh lên (HCVCKSTCL) có tỷ lệ mắc các bệnh nền (tăng huyết áp, đái tháo đường, suy thận) cao hơn nhóm nhồi máu cơ tim ST chênh lên (NMCTSTCL). Về hình ảnh IVUS, NMCTSTCL đặc trưng bởi mảng xơ vữa mềm (47,7%) và huyết khối; ngược lại, HCVCKSTCL thường gặp mảng vôi hóa nặng, góc vôi lớn và tổn thương dài hơn. Tỷ lệ biến cố tim mạch chính nội viện thấp (1,4%). Phân tích hồi quy xác định chẩn đoán đau thắt ngực không ổn định là yếu tố bảo vệ độc lập đối với các biến cố gộp (OR = 0,331). Kết luận, có sự khác biệt rõ rệt về kiểu hình mảng xơ vữa: NMCTSTCL liên quan mảng mềm dễ vỡ, trong khi HCVCKSTCL gắn liền với tổn thương vôi hóa phức tạp.</em></p>Vũ Hoàng VũĐào Đức QuangTrần HòaTrương Quang Bình
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199242143010.52852/tcncyh.v199i2.4572Đặc điểm lâm sàng, kết quả can thiệp thân chung động mạch vành trái: Sổ bộ đơn trung tâm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4753
<p class="p1"><em>Nghiên cứu quan sát này nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết cục sống còn sau một năm của can thiệp thân chung động mạch vành trái tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 03/2023 đến tháng 12/2023, 69 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được tuyển chọn và theo dõi dọc trong 12 tháng. Tuổi trung bình là 66,2 ± 11,3; tỷ lệ đái tháo đường chiếm 50,7%. Điểm SYNTAX trung bình là 26,6 ± 9,2 và 52,2% trường hợp là sang thương phân nhánh thực sự. Kết cục chính là tử vong do mọi nguyên nhân ước lượng bằng phương pháp Kaplan-Meier. Kết quả ghi nhận tỷ lệ tử vong tích lũy tại thời điểm 30 ngày là 0% và tại thời điểm một năm là 5,8% (KTC95%: 2,2% - 14,7%). Nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng can thiệp thân chung qua da là chiến lược an toàn, hiệu quả với tỷ lệ tử vong thấp trong giai đoạn nội viện và trung hạn, đặc biệt trên nhóm bệnh nhân có độ phức tạp giải phẫu từ thấp đến trung bình.</em></p>Vũ Hoàng VũNguyễn Dương KhangTrương Quang Bình
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199243144110.52852/tcncyh.v199i2.4753Mô tả tính an toàn và hiệu quả của dụng cụ đóng mạch máu (MANTA) trong đóng mạch đùi sau can thiệp sử dụng đường vào mạch máu lớn tại Bệnh viện Tim Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4555
<p class="p1"><em>Thiết bị đóng mạch MANTA được đánh giá trong nghiên cứu tiến cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội từ 3/2025 đến 9/2025 trên 13 bệnh nhân thực hiện 20 thủ thuật gồm 2 TAVI, 4 TEVAR và 7 EVAR qua đường động mạch đùi chung, thu thập đầy đủ đặc điểm lâm sàng, thông số thủ thuật, tỷ lệ thành công, biến chứng tức thì và siêu âm sau 6 tháng. Tất cả các trường hợp dùng sheath 16 – 18F và đóng mạch bằng MANTA 18F, với đường kính động mạch đùi chung trung bình 6,5 ± 0,3mm. Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 95% (19/20), chỉ một ca phải chuyển phẫu thuật và một ca chảy máu nhẹ xử trí bằng băng ép, không ghi nhận tắc mạch, giả phình hay thông động–tĩnh mạch. Thời gian đóng mạch trung bình 60 ± 4 giây, siêu âm sau 6 tháng của toàn bộ 13 bệnh nhân không phát hiện biến chứng muộn, khẳng định tính an toàn và hiệu quả của MANTA trong đóng mạch sau can thiệp dùng sheath lớn.</em></p>Hoàng VănNguyễn Đăng DươngTrần Đình TiếnTrần Văn Đông
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199244244910.52852/tcncyh.v199i2.4555Nghiên cứu tạo mô hình chuột mang khối u ghép bằng tế bào HT29 Hyper-IL-6
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4585
<p class="p1"><em>Tín hiệu IL-6/STAT3 giữ vai trò quan trọng trong tiến triển ung thư đại trực tràng. Ức chế chọn lọc IL-6 trans-signaling là hướng tiếp cận tiềm năng nhưng còn thiếu mô hình tiền lâm sàng phù hợp để đánh giá. Vì vậy chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình chuột mang khối u đại trực tràng biểu hiện tăng cường IL-6, nhằm cung cấp nền tảng khảo sát sinh học con đường tín hiệu IL-6. Mô hình xenograft được thiết lập trên chuột BALB/c “nude” bằng cách tiêm dưới da hông lưng chuột 3x106 tế bào HT29 hyper IL-6; kích thước khối u theo dõi định kỳ 3 ngày/ lần. Khi kết thúc, mô được phân tích mô bệnh học (H&E) và IHC (p40, CDX-2). Mô hình tạo được khối u sờ thấy trong 4 ngày, khối u tăng trưởng đều gấp đôi sau 3 ngày. IHC cho thấy âm tính p40 và dương tính CDX-2 xác nhận nguồn gốc biểu mô tuyến đại trực tràng và tính liên quan của mô hình đối với CRC người. Từ đó, nghiên cứu đã tạo thành công mô hình xenograft ở chuột “nude” với khối u đại trực tràng tăng cường biểu hiện IL-6, mô bệnh học và nhuộm hóa mô miễn dịch cho kết quả xác nhận khối u ung thư đại trực tràng điển hình.</em></p>Nguyễn Như NgọcNguyễn Thị Mai LyNguyễn Thanh ToànNguyễn Lĩnh ToànBùi Khắc Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199245045710.52852/tcncyh.v199i2.4585Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của dền toòng quả dài (gomphogyne bonii gagnep.) trên động vật thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4512
<p class="p1"><em>Gan là bộ phận quan trọng, đảm nhận nhiều vai trò trong cơ thể. Các bệnh lý gan có thể là hậu quả của nhiều nguyên nhân. Nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ gan của dịch chiết nước cây Dền toòng quả dài (DTQD - Gomphogyne bonii Gagnep.) trên động vật thực nghiệm. Chuột nhắt trắng chủng Swiss được chia thành các lô để uống mẫu thử hoặc nước cất liên tục trong 10 ngày. Đến ngày thứ 10, sau khi uống mẫu thử 2h, tiến hành gây tổn thương tế bào gan bằng paracetamol liều 400 mg/kg. Các chỉ số xét nghiệm được đánh giá gồm trọng lượng gan, hoạt độ AST, ALT và đánh giá đại thể, vi thể gan chuột. Kết quả nghiên cứu cho thấy DTQD liều 4 g/kg/ngày và liều 12 g/kg/ngày làm giảm hoạt độ AST, ALT so với mô lô hình. Cả 2 mức liều đều làm giảm trọng lượng gan và cải thiện tổn thương trên đại thể và vi thể so với lô mô hình. DTQD liều thấp 4 g/kg/ngày có tác dụng tốt hơn liều 12 g/kg/ngày. Như vậy, DTQD thể hiện tác dụng bảo vệ trên mô hình gây viêm gan cấp bằng paracetamol. </em></p>Dương Văn PhúNguyễn Duy ThuầnPhạm Quốc BìnhPhạm Thị Vân AnhDương Văn PhongĐặng Thị Thu Hiên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199245846410.52852/tcncyh.v199i2.4512Tác dụng chống trào ngược dạ dày thực quản của bài thuốc Dạ khôi cốt trên mô hình thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4529
<p class="p1"><em>Bài thuốc Dạ khôi cốt gồm các vị thuốc Dạ cẩm, Lá khôi, Ô tặc cốt, Chỉ thực, Thảo quả, Bạch thược có tác dụng hành khí, chỉ thống, điều hoà dịch vị; chủ trị chứng vị quản thống, trong đó có bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản trên lâm sàng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng của Dạ khôi cốt trên mô hình thực nghiệm gây tổn thương thực quản do trào ngược dạ dày trên chuột cống chủng Wistar bằng phương pháp phẫu thuật kết hợp sử dụng indomethacin. Các lô chuột được điều trị với esomeprazol hoặc Dạ khôi cốt (tương đương 24 mL/kg/ngày và 48 mL/kg/ngày) trong vòng 7 ngày. Kết quả cho thấy, Dạ khôi cốt làm giảm thể tích dịch vị; giảm điểm đánh giá đại thể thực quản; giảm rõ rệt diện tích tổn thương thực quản, với % ức chế tổn thương lần lượt là 86,69% và 88,63%; đồng thời làm giảm tổn thương trên hình ảnh vi thể thực quản; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 liều nghiên cứu. Diện tích thực quản ở lô dùng Dạ khôi cốt giảm có ý nghĩa thống kê so với lô dùng esomeprazol. Tóm lại, Dạ khôi cốt thể hiện tác dụng làm giảm tổn thương thực quản trên mô hình trào ngược thực nghiệm.</em></p>Trần Thị Hồng NgãiKiều Hoàng YếnPhạm Thị Vân AnhNguyễn Thiên NgaHà Thị Thúy HằngĐào Thị NgoãnĐậu Thuỳ Dương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199246547410.52852/tcncyh.v199i2.4529Khảo sát một số hoạt tính sinh học in vitro của mẫu trà thảo dược Tuệ Tĩnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4677
<p class="p1"><em>Trà Thảo Dược Tuệ Tĩnh là sản phẩm trà túi lọc được bào chế từ các dược liệu truyền thống gồm nấm lim xanh (Ganoderma lucidum), nhân trần (Adenosma caeruleum), kim ngân (Lonicera japonica), hoa nhài (Jasminum sambac), nụ vối (Cleistocalyx operculatus) và cam thảo (Glycyrrhiza uralensis). Nghiên cứu này nhằm sàng lọc một số hoạt tính sinh học in vitro của Trà Thảo Dược Tuệ Tĩnh. Hoạt tính chống oxy hóa được đánh giá bằng phép thử DPPH; hoạt tính chống viêm được khảo sát trên dòng đại thực bào RAW264.7 kích thích bằng lipopolysaccharid (LPS) thông qua khả năng ức chế tạo nitric oxid (NO) và giảm biểu hiện các cytokin tiền viêm IL-1β và IL-6; tác dụng bảo vệ tế bào gan được đánh giá trên mô hình tế bào HepG2 gây độc bởi CCl<sub>4</sub>. Kết quả cho thấy Trà Thảo Dược Tuệ Tĩnh có khả năng chống oxy hóa đáng kể (SC<sub>50</sub> = 54,58 ± 3,32 µg/mL), ức chế tạo NO theo phụ thuộc nồng độ (IC<sub>50</sub> = 59,52 ± 2,17 µg/mL), làm giảm nồng độ IL-1β và IL-6, đồng thời thể hiện tác dụng bảo vệ tế bào gan (EC<sub>50</sub> = 56,93 ± 4,71 µg/mL). Các dữ liệu này cho thấy tiềm năng chống oxy hóa, chống viêm và bảo vệ gan của sản phẩm, tạo cơ sở khoa học ban đầu cho các nghiên cứu tiếp theo trên mô hình in vivo.</em></p>Phạm Thị AnhVũ Đức LợiBùi Thị HảoTrương Anh TuânTriệu Thị Gấm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199247548410.52852/tcncyh.v199i2.4677Tình trạng tuân thủ giãn liều thuốc sinh học ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại trung tâm cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4621
<p class="p1"><em>Thuốc sinh học (biologic disease modifying anti-rheumatic drug- bDMARD) là một lựa chọn mới trong điều trị viêm khớp dạng thấp, tuy nhiên ở Việt Nam thuốc có giá thành đắt và các tác dụng phụ khi dùng kéo dài, do đó quyết định giãn liều thuốc được cân nhắc khi người bệnh đạt mục tiêu điều trị. Nghiên cứu tiến hành với mục tiêu đánh giá tình trạng tuân thủ giãn liều thuốc sinh học và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tuân thủ giãn liều ở các bệnh nhân viêm khớp dạng thấp tại Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu theo dõi dọc hồi cứu kết hợp tiến cứu tiến hành trên 75 bệnh nhân được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được chỉ định dùng bDMARD và theo dõi trong vòng ít nhất 6 tháng từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2025 tại Trung tâm Cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai. Trong số 62 bệnh nhân giãn liều, 32,3% giãn liều theo đúng khuyến cáo, 29% giãn liều do đáp ứng tốt với thuốc nhưng không theo khuyến cáo và 38,7% do các nguyên nhân khác. Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc và số lượt khám tuân thủ điều trị lần lượt là 93,3% và 88,5%. Mức độ tuân thủ của infliximab thấp nhất và của adalimumab cao nhất, adalimumab cũng là thuốc có số lượng tái khám cao nhất nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thuốc. Nguyên nhân khách quan thường gặp nhất khiến cho người bệnh không tuân thủ khám là do nguồn cung cấp thuốc của bệnh viện bị gián đoạn. Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc và số lượt khám tuân thủ điều trị lần lượt là 93,3% và 88,5%. Tuổi < 65 và yếu tố chưa điều trị bDMARD có liên quan đến khả năng tuân thủ.</em></p>Vũ Thị Thanh HằngNguyễn Văn HùngBùi Hải Bình
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199248549510.52852/tcncyh.v199i2.4621Một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Hữu Nghị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4674
<p class="p1"><em>Bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối điều trị lọc máu chu kỳ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 122 bệnh nhân lọc máu chu kỳ ngoại trú tại Khoa Thận tiết niệu - Lọc máu, Bệnh viện Hữu Nghị từ tháng 5/2024 đến tháng 7/2024 nhằm đánh giá một số yếu tố nguy cơ tim mạch. Các yếu tố được khảo sát bao gồm tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, mức độ hoạt động thể lực và rối loạn chuyển hóa calci-phospho-PTH theo KDIGO 2017. Tuổi trung bình của bệnh nhân là 68,83 ± 15,42; nam giới chiếm 67,2%. Các yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp gồm rối loạn lipid máu (86,1%), tăng huyết áp (81,1%), đái tháo đường (45,1%), lối sống ít vận động (62,3%) và hút thuốc lá (41%). Phân tích hồi quy logistic cho thấy hút thuốc lá liên quan có ý nghĩa với giới nam và nhóm tuổi trẻ hơn, trong khi tăng huyết áp phổ biến hơn ở nam giới. Nồng độ parathyroid hormone máu có mối tương quan thuận với thời gian lọc máu. Kết quả cho thấy bệnh nhân lọc máu chu kỳ có gánh nặng nguy cơ tim mạch cao, cần được quản lý và can thiệp toàn diện.</em></p>Bùi LongTrịnh Thị Thanh Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199249650410.52852/tcncyh.v199i2.4674Suy dinh dưỡng ở người cao tuổi đái tháo đường tăng huyết áp: Hội chứng lão khoa và chu vi bắp chân
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4665
<p class="p1"><em>Suy dinh dưỡng là bệnh lý đồng mắc phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt là ở người cao tuổi mắc đái tháo đường típ 2 (ĐTĐ típ 2) và tăng huyết áp (THA) do ảnh hưởng trực tiếp trên chuyển hoá thông qua cơ chế tăng đường huyết mạn tính, viêm mạn mức độ thấp, tăng dị hóa protein và đề kháng insulin. Tình trạng này gắn liền với nhiều hậu quả bất lợi bao gồm kéo dài thời gian nằm viện, tăng biến chứng, tăng tỉ lệ tái nhập viện, tăng tử vong ngắn và dài hạn ở người cao tuổi điều trị nội trú. Nghiên cứu trên 296 người bệnh ≥ 60 tuổi đồng mắc ĐTĐ típ 2 và THA điều trị nội trú cho thấy có 6,8% bệnh nhân thiếu cân, 47,3% thừa cân theo BMI; 33,8% có nguy cơ suy dinh dưỡng, 15,2% suy dinh dưỡng theo MNA-SF và 38,5% (114/296) suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi mắc ĐTĐ típ 2 và THA đang ở mức cao.<span class="Apple-converted-space"> </span>Những người cao tuổi có giảm chu vi vòng bắp chân, kết hợp suy yếu, trầm cảm và không hoạt động thể lực cần được tầm soát tình trạng dinh dưỡng.</em></p>Nguyễn Văn TânPhạm Hòa BìnhTrương Minh KhánhCao Đình Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199250551710.52852/tcncyh.v199i2.4665Mối liên quan giữa loãng xương và suy yếu ở phụ nữ cao tuổi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4588
<p class="p1"><em>Nghiên cứu cắt ngang mô tả 294 bệnh nhân nữ cao tuổi tại</em> <em>phòng khám Nội Cơ xương khớp và phòng khám Lão khoa, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 08/2024 đến tháng 07/2025 nhằm xác định mối liên quan giữa loãng xương và suy yếu. Kết quả cho thấy</em> <em>loãng xương có mối liên quan độc lập với suy yếu (OR = 2,33; p = 0,048). Ngoài ra các yếu tố khác như tuổi mãn kinh (OR = 0,87; p = 0,002), phụ thuộc IADL (OR = 9,59; p < 0,001), chu vi bắp chân (OR = 0,82; p = 0,018) cũng liên quan độc lập với suy yếu ở phụ nữ cao tuổi. Tóm lại,</em> <em>loãng xương, tuổi mãn kinh, phụ thuộc IADL, chu vi bắp chân có liên quan đến tình trạng suy yếu ở phụ nữ cao tuổi. </em></p>Nguyễn Cẩm TúĐặng Ngọc SơnTrần Hồng ThụyPhạm Ngọc Thuỳ TrangCao Thanh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199251852510.52852/tcncyh.v199i2.4588Mối liên quan giữa hội chứng chuyển hoá và mức độ nặng thoái hoá khớp gối trên lâm sàng ở người cao tuổi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4604
<p class="p1"><em>Nghiên cứu khảo sát mối liên quan giữa hội chứng chuyển hoá, các thành phần của hội chứng chuyển hoá với mức độ nặng thoái hoá khớp gối trên lâm sàng ở người cao tuổi. Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 414 bệnh nhân ≥ 60 tuổi được chẩn đoán thoái hoá khớp gối theo tiêu chuẩn ACR lâm sàng và X-quang 1986 tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ 09/2024 đến 05/2025. Hội chứng chuyển hoá được xác định theo tiêu chuẩn AHA/NHLBI 2009. Mức độ đau và hạn chế chức năng được đánh giá bằng thang điểm VAS (Visual Analog Scale – Thang điểm đánh giá mức độ đau) và WOMAC (Western Ontario and McMaster Universities Osteoarthritis Index – Chỉ số đánh giá đau, cứng khớp và chức năng ở bệnh nhân thoái hóa khớp). Kết quả cho thấy tỷ lệ hội chứng chuyển hoá là 63,5%. Trong phân tích đơn biến, hội chứng chuyển hoá liên quan với điểm VAS và WOMAC cao hơn. Sau hiệu chỉnh đa biến, hội chứng chuyển hoá không còn là yếu tố liên quan độc lập với mức độ nặng thoái hoá khớp gối. Trong các thành phần hội chứng chuyển hoá, vòng eo là yếu tố duy nhất duy trì mối liên quan độc lập với cả điểm VAS và WOMAC. Kết quả cho thấy béo phì trung tâm có vai trò nổi bật hơn hội chứng chuyển hoá trong mức độ nặng lâm sàng của thoái hoá khớp gối ở người cao tuổi.</em></p>Vũ Thị Khánh LinhHuỳnh Khôi NguyênNguyễn Đức CôngCao Thanh Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199252653510.52852/tcncyh.v199i2.4604Mối liên quan giữa các dạng thể chất y học cổ truyền và tình trạng stress ở sinh viên y khoa tại Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4675
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang này nhằm xác định mối liên quan giữa các dạng thể chất y học cổ truyền và tình trạng stress ở sinh viên y khoa tại Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi tự điền, sử dụng thang đo DASS-21 để đánh giá stress và bộ câu hỏi bộ chuẩn hóa CCMQ (Constitution in Chinese Medicine Questionnaire) để đánh giá dạng thể chất y học cổ truyền trên 1.320 sinh viên ngành Y khoa và Y học cổ truyền. Kết quả cho thấy 44,1% sinh viên có tình trạng stress; tỷ lệ stress cao hơn ở sinh viên nữ và khác biệt theo năm học (p < 0,05). Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy thể Khí uất có mối liên quan độc lập với stress và mức độ liên quan cao nhất (aOR = 4,51; KTC 95%: 3,20 - 6,36), tiếp theo là thể Khí hư (aOR = 2,22; KTC 95%: 1,38 - 3,56).</em></p>Huỳnh Thị Hồng NhungPhạm Thị Mỹ LinhĐặng Bảo AnhPhạm Đăng MạnhVũ Kim DungĐặng Hồng Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199253654710.52852/tcncyh.v199i2.4675Thực trạng cơ sở vật chất và năng lực chẩn đoán, điều trị tắc động mạch phổi cấp tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4772
<p class="p1"><em>Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng cơ sở vật chất, nguồn lực chẩn đoán - điều trị tắc động mạch phổi cấp và năng lực tự đánh giá của nhân viên y tế tại các bệnh viện tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ 09 - 11/2025 tại 21 bệnh viện tuyến tỉnh và cơ sở, sử dụng bảng khảo sát cấu trúc về nhân lực, trang thiết bị, xét nghiệm, thuốc, quy trình và bảng hỏi tự lượng giá cho 223 nhân viên y tế. Kết quả cho thấy 100% bệnh viện có điện tim, siêu âm, Xquang và monitor, nhưng chỉ 57% có máy cắt lớp vi tính, 33% có khí máu động mạch và 14% làm được Ddimer; thuốc tiêu sợi huyết chỉ hiện diện ở 14,3% bệnh viện, chủ yếu tuyến tỉnh, trong khi nhiều cơ sở miền núi thiếu thuốc chống đông và phương tiện hồi sức chuyên sâu. Điểm tự đánh giá năng lực chẩn đoán, phân tầng nguy cơ và sử dụng thuốc tiêu sợi huyết của bác sĩ tuyến huyện/miền núi thấp hơn có ý nghĩa so với tuyến tỉnh. Nghiên cứu cho thấy còn chênh lệch lớn về năng lực quản lý tắc động mạch phổi giữa các tuyến, cần ưu tiên tăng cường nguồn lực và đào tạo chuẩn hóa.</em></p>Hoàng Bùi HảiĐỗ Giang PhúcLâm Tiến DũngHoàng Thị ĐịnhLê Thị XuânLê Duy LongTrần Thị LinhLê Ngọc ThànhLê Văn Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199254856010.52852/tcncyh.v199i2.4772Chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4728
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng giấc ngủ<span class="Apple-converted-space"> </span>và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 73 bệnh nhân viêm cột sống dính khớp, thu thập dữ liệu bằng bộ câu hỏi tự điền, gồm thang Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI), thang Bath Ankylosing Spondylitis Disease Activity Index (BASDAI), thang Visual Analog Scale (VAS), và thông tin lâm sàng-cận lâm sàng. Mối liên quan được trình bày bằng tỷ suất hiện mắc (PR), khoảng tin cậy 95% và p < 0,05. Kết quả ghi nhận 69,9% bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém theo PSQI. Tỷ lệ bệnh hoạt động theo BASDAI là 65,8%. Điểm đau VAS trung bình là 45,7 ± 12,8, với nhóm đau nhẹ chiếm 50,7%. Chất lượng giấc ngủ kém có liên quan đến mức độ hoạt động bệnh và mức độ đau. Nhân viên y tế cần tăng cường sàng lọc chất lượng giấc ngủ, giáo dục sức khỏe và hướng dẫn các biện pháp giảm đau. Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp cần tuân thủ điều trị để kiểm soát triệu chứng bệnh và cải thiện chất lượng giấc ngủ.</em></p>Huỳnh Hồ Ngọc QuỳnhHuỳnh Thanh Bảo LuânNguyễn Thị Như NgânLê Trường Vĩnh Phúc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199256157010.52852/tcncyh.v199i2.4728Các yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực học đường ở học sinh Trung học Cơ sở tại Hải Dương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4668
<p class="p1"><em>Bạo lực học đường (BLHĐ) gây tổn thương nghiêm trọng đến sự phát triển của thanh thiếu niên. Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 400 học sinh tại 04 Trường THCS tỉnh Hải Dương từ tháng 05/2025 đến tháng 06/2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ học sinh từng gây BLHĐ là 30,8%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) bao gồm: học sinh lớp 8 (OR = 1,9); có bạn thân tham gia BLHĐ (OR = 9,9); sử dụng internet (OR = 7,9); mang vũ khí đến trường như dao, gậy, côn, dùi cui… (OR = 7,1); hút thuốc lá (OR = 3,9); uống rượu bia (OR = 2,8). Về tâm lý, nguy cơ gây ra BLHĐ tăng ở học sinh cô đơn (OR = 2,7), khó tập trung (OR = 2,4) và lo lắng biếng ăn (OR = 1,9). Về gia đình, nguy cơ này cao nhất ở nhóm không hạnh phúc (OR = 4,7), mâu thuẫn anh chị em (OR = 4,1), là con một (OR = 3,5) hoặc chứng kiến bố mẹ mâu thuẫn (OR = 3,1). Ngược lại, nhóm học sinh không biết tình trạng kinh tế gia đình có tỷ lệ gây bạo lực thấp hơn (OR = 0,4). Phát hiện này cho thấy sự khác biệt về nguy cơ gây ra BLHĐ theo mức độ nhận thức về điều kiện kinh tế gia đình, chỉ ra rằng yếu tố nhận thức kinh tế có thể liên quan đến việc giảm thiểu hành vi BLHĐ. Kết quả nghiên cứu gợi ý cần can thiệp đa chiều, chú trọng kiểm soát nhóm bạn và cải thiện môi trường gia đình.</em></p>Lê Thị Ngọc AnhĐặng Thị Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199257158110.52852/tcncyh.v199i2.4668Đặc điểm dịch tễ học và các týp vi rút Dengue lưu hành gây bệnh sốt xuất huyết Dengue tại khu vực Tây Nguyên, 2020 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4654
<p class="p1"><em>Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue (DENV) gây nên. Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết quả xét nghiệm Realtime RT-PCR các mẫu bệnh phẩm của các trường hợp chẩn đoán lâm sàng mắc SXHD tại các tỉnh của khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2020 - 2025 nhằm mô tả đặc điểm dịch tễ học và sự lưu hành của các týp DENV gây bệnh. Kết quả cho thấy trong giai đoạn 2020 - 2025 tại khu vực Tây Nguyên ghi nhận sự lưu hành của các týp DENV-1, DENV-2, DENV-3, DENV-4 với tỉ lệ lần lượt là: 25,68%, 72,46%, 0,03% và 1,84%; trong đó týp DENV-3 chỉ lưu hành tại Đắk Lắk năm 2022, năm 2024 toàn khu vực chỉ ghi nhận 2 týp DENV-1 và DENV-2 lưu hành, năm 2025 týp DENV-4 lưu hành trở lại nhưng với tỉ lệ rất thấp 0,97%. Ca bệnh sốt xuất huyết Dengue bắt đầu tăng dần từ tháng 5, tập trung chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 11; các đỉnh khác vào các thời điểm khác nhau tùy theo năm. Không có sự khác biệt về giới tính khi mắc bệnh và giữa các nhóm tuổi. Nhóm 11 - 20 và 31 - 40 tuổi có tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue cao nhất, chiếm tỷ lệ lần lượt là 22,72% và 18,37%. Cần tăng cường giám sát týp vi rút để cảnh báo sớm dịch đặc biệt trước và trong mùa mưa, ưu tiên các biện pháp kiểm soát véc-tơ và truyền thông tại trường học, ký túc xá và khu dân cư có mật độ thanh thiếu niên cao, đồng thời củng cố năng lực hệ thống y tế trong phát hiện sớm và quản lý ca bệnh ở nhóm tuổi nguy cơ.</em></p>Lê Văn TuấnTrần Lê Thiên HươngNguyễn Hoàng QuânNguyễn Thị Thu Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199258258910.52852/tcncyh.v199i2.4654Thực trạng bệnh viêm lợi và các yếu tố liên quan ở người trưởng thành tại quận Thanh Xuân, Hà Nội năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4610
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện trên 170 người trưởng thành tại quận Thanh Xuân nhằm mô tả thực trạng viêm lợi và phân tích các yếu tố liên quan. Tình trạng viêm lợi được đánh giá thông qua các chỉ số lâm sàng bao gồm chỉ số mảng bám (DI), chỉ số viêm lợi (GI), chảy máu khi thăm dò (BOP) và tiêu chuẩn viêm lợi do mảng bám. Kết quả cho thấy viêm lợi vẫn phổ biến trong cộng đồng với tỷ lệ 57,1%, kèm theo tình trạng mảng bám và viêm mô lợi ở mức trung bình (BOP trung bình 23,1%). Phân tích đa biến cho thấy chải răng một lần mỗi ngày (OR = 2,78; KTC 95%: 1,17 - 6,59), không sử dụng chỉ nha khoa (OR = 2,66; KTC 95%: 1,37 - 5,16) và không khám răng định kỳ (OR = 2,38; KTC 95%: 1,24 - 4,54) làm tăng nguy cơ viêm lợi có ý nghĩa thống kê. Hút thuốc có xu hướng làm tăng nguy cơ viêm lợi nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê. Kết quả nhấn mạnh mối liên quan chặt chẽ giữa hành vi vệ sinh răng miệng và tình trạng viêm lợi, qua đó khẳng định vai trò then chốt của kiểm soát mảng bám hằng ngày và duy trì khám răng định kỳ trong dự phòng viêm lợi tại cộng đồng đô thị.</em></p>Chu Thị Quỳnh HươngLưu Thành TrungPhạm Dương HiếuPhạm Lê Hương LinhLưu Văn Tường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199259059710.52852/tcncyh.v199i2.4610Độ nhạy và độ đặc hiệu của chẩn đoán viêm lợi qua ảnh chụp bằng điện thoại thông minh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4611
<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của chẩn đoán viêm lợi qua ảnh chụp bằng điện thoại thông minh trên 170 người trưởng thành tại quận Thanh Xuân, Hà Nội năm 2025. Viêm lợi được xác định bằng khám lâm sàng dựa trên chỉ số viêm lợi (GI) và chảy máu khi thăm dò (BOP), đồng thời được đánh giá độc lập qua ảnh chụp trong miệng theo quy trình chuẩn hóa. Kết quả cho thấy chẩn đoán qua ảnh đạt độ nhạy 86,6%, độ đặc hiệu 75,3% và độ chính xác tổng thể 81,8%, với mức phù hợp đáng kể so với khám lâm sàng (Kappa = 0,625). Độ đồng thuận giữa hai người đánh giá ảnh đạt mức tốt (Kappa = 0,74). Nghiên cứu cho thấy phương pháp có độ tin cậy cao và khả thi trong sàng lọc viêm lợi tại cộng đồng, đặc biệt tại các khu vực còn hạn chế nguồn nhân lực chuyên ngành răng hàm mặt.</em></p>Chu Thị Quỳnh HươngLưu Thành TrungPhạm Dương HiếuPhạm Lê Hương LinhLưu Văn Tường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199259860510.52852/tcncyh.v199i2.4611Thực trạng bệnh viêm lợi ở sinh viên năm nhất ngành y khoa năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4697
<p class="p1"><em>Viêm lợi là biểu hiện sớm và có khả năng hồi phục của bệnh quanh răng nhưng vẫn phổ biến ở nhóm người trưởng thành trẻ. Nghiên cứu này mô tả thực trạng viêm lợi và phân tích mối liên quan với vệ sinh răng miệng ở 259 sinh viên năm nhất ngành Y khoa tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2025. Khám răng miệng được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới, sử dụng các chỉ số GI, OHI-S và CPI; viêm lợi được xác định khi GI ≥ 1. Kết quả cho thấy 72,2% sinh viên có viêm lợi, chủ yếu ở mức độ nhẹ đến trung bình; tình trạng nha chu ghi nhận chủ yếu ở giai đoạn sớm theo CPI. Phân tích hồi quy logistic đa biến, sau khi hiệu chỉnh các yếu tố hành vi chăm sóc răng miệng, không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê độc lập với tình trạng viêm lợi. Những phát hiện này cho thấy sinh viên năm nhất ngành Y khoa đang nằm trong “cửa sổ dự phòng” thuận lợi, nhấn mạnh vai trò của kiểm soát mảng bám và sàng lọc định kỳ trong môi trường đại học nhằm phòng ngừa tiến triển bệnh quanh răng.</em></p>Chu Thị Quỳnh HươngLương Ngọc KhuêNguyễn Thị DungLưu Văn Tường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199260661410.52852/tcncyh.v199i2.4697Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc răng miệng ở sinh viên năm nhất ngành y khoa năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4698
<p class="p1"><em>Khảo sát mô tả cắt ngang được thực hiện trên 259 sinh viên năm nhất ngành Y khoa tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2025 nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc răng miệng. Kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền có cấu trúc; tình trạng viêm lợi được ghi nhận thông qua khám lâm sàng theo chỉ số Gingival Index (GI) nhằm mô tả bối cảnh lâm sàng liên quan đến các thành phần KAP. Kết quả cho thấy đa số sinh viên có kiến thức và thái độ chăm sóc răng miệng ở mức trung bình đến tốt, trong khi thực hành chăm sóc răng miệng còn hạn chế. Khoảng cách rõ rệt giữa nhận thức và thực hành được ghi nhận, phản ánh việc kiến thức và thái độ tích cực chưa được chuyển hóa tương xứng thành hành vi dự phòng hằng ngày. Các hành vi chăm sóc răng miệng chưa phù hợp thường được ghi nhận đồng thời với tình trạng viêm lợi, gợi ý vai trò của thực hành cụ thể trong kiểm soát sức khỏe răng miệng. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh nhu cầu triển khai các can thiệp nha khoa dự phòng định hướng thay đổi hành vi, tập trung vào cải thiện thực hành chăm sóc răng miệng trong môi trường đào tạo khối ngành sức khỏe.</em></p>Chu Thị Quỳnh HươngTrương Đình KhởiPhạm Lê Hương LinhLưu Văn Tường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199261562210.52852/tcncyh.v199i2.4698Kết quả sống thêm và các yếu tố tiên lượng ung thư lưỡi di động giai đoạn I-II ở nữ giới tại Bệnh viện K
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4661
<p class="p1"><em>Ung thư lưỡi (UTL) di động là một trong những ung thư thường gặp nhất của khoang miệng. Điều trị ung thư lưỡi là điều trị đa mô thức, trong đó phẫu thuật là phương pháp điều trị chính, đặt biệt với bệnh nhân ở giai đoạn I-II. Đây là nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 91 bệnh nhân nữ được chẩn đoán ung thư biểu mô vảy lưỡi di động giai đoạn I-II và điều trị tại Bệnh viện K từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2024. Phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật (100%). Trong đó phẫu thuật đơn thuần chiếm đa số (86,8%), sau đó đến phẫu thuật + xạ/hóa xạ bổ trợ (13,2%). Thời gian theo dõi trung vị là 33,5 tháng (dao động từ 6 tháng đến 78 tháng). Có 9,9% bệnh nhân tái phát sau điều trị. Tỷ lệ sống toàn bộ (OS) sau 3 năm và tỷ lệ sống không bệnh (DFS) sau 3 năm lần lượt là 96,7% và 90,6%. Độ mô học, độ sâu xâm nhập và giai đoạn bệnh là những yếu tố tiên lượng quan trọng và cần kết hợp các phương pháp điều trị để cải thiện OS và DFS ở những bệnh nhân có các yếu tố này.</em></p>Ngô Quốc DuyMai Văn Chinh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199262363010.52852/tcncyh.v199i2.4661Thực trạng loãng xương và các yếu tố nguy cơ ở nam giới trên 50 tuổi tại Bệnh viện E năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4591
<p class="p1"><em>Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng loãng xương và phân tích một số yếu tố nguy cơ liên quan đến loãng xương ở nam giới từ 50 tuổi trở lên được đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA tại Bệnh viện E. Nghiên cứu được thực hiện dưới dạng mô tả cắt ngang, với cỡ mẫu thuận tiện gồm 200 bệnh nhân nam ≥ 50 tuổi đến khám và được đo mật độ khoáng xương tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi bằng DEXA trong thời gian từ 01/2025 đến 10/2025. Các yếu tố nguy cơ được khảo sát bao gồm: tuổi, BMI, nghề nghiệp, khu vực sinh sống, hút thuốc lá, uống rượu, tiền sử gãy xương, tập thể dục và sử dụng corticoid kéo dài. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0. Tỷ lệ loãng xương trong nhóm nghiên cứu là 18,5%, giảm mật độ xương chiếm 52,5%. Loãng xương gặp nhiều ở nhóm tuổi ≥ 70. Nhóm bệnh nhân có BMI thấp, hút thuốc lá, có tiền sử gãy xương, không tập thể dục thường xuyên và sử dụng corticoid kéo dài có nguy cơ loãng xương cao hơn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Loãng xương ở nam giới trên 50 tuổi khá phổ biến và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được. Cần tăng cường tầm soát, tư vấn thay đổi lối sống và dự phòng loãng xương cho nhóm đối tượng này.</em></p>Nguyễn Tuấn AnhNguyễn Trần TrungTrần Nam ChungNguyễn Thị Tươi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199263163810.52852/tcncyh.v199i2.4591Kết quả kiểm soát đường huyết và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có sử dụng góc ngày đầu tiên kết hợp Gliclazide MR
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4690
<p class="p1"><em>Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh kết quả kiểm soát đường huyết và chất lượng cuộc sống của nhóm bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có sử dụng góc ngày đầu tiên so với nhóm chăm sóc thường quy. Tổng số bệnh nhân là 155 bệnh nhân trong đó 68 bệnh nhân có sử dụng góc ngày đầu tiên (66,7 ± 7,6 tuổi, nữ chiếm 54,4%) và 87 bệnh nhân chăm sóc thường quy (66,3 ± 9,5, nữ chiếm 55,2%) được theo dõi sau 6 tháng. Nhóm tư vấn có chỉ số HbA1c giảm xuống 7,4% sau 3 tháng và 6 tháng giữ nguyên ở mức 7,6%. Nhóm chăm sóc thường quy có chỉ số HbA1c tăng sau 6 tháng từ 7,5% tới 7,9%. Về điểm chất lượng cuộc sống ở nhóm tư vấn có giảm nhẹ sau 6 tháng. Nhóm thường quy có điểm trung bình CLCS sau 6 tháng đều giảm. Cần tích hợp chương trình tư vấn ngày đầu tiên vào chăm sóc định kỳ cho bệnh nhân đái tháo đường type 2, đặc biệt là trong 6 tháng đầu sau chẩn đoán hoặc khi bắt đầu điều trị mới.</em></p>Nguyễn Thị Hoài ThuNguyễn Xuân ThanhĐỗ Thị Thanh ToànVũ Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199263964910.52852/tcncyh.v199i2.4690Hiệu quả can thiệp kể chuyện trong thay đổi hành vi lối sống của người bệnh tăng huyết áp tại tỉnh Hưng Yên năm 2019 - 2022
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4560
<p class="p1"><em>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả thay đổi hành vi lối sống của người bệnh tăng huyết áp thông qua mô hình can thiệp kể chuyện tại tỉnh Hưng Yên. Nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng theo cụm thực hiện trên 671 người bệnh tại 16 xã từ năm 2019 - 2022. Nhóm can thiệp nhận các đĩa DVD gồm các câu chuyện của những người bệnh đã kiểm soát huyết áp thành công chia sẻ về kinh nghiệm thực hành thay đổi hành vi lối sống, nhóm chứng nhận tài liệu giáo dục thường quy. Số liệu phân tích bằng mô hình Khác biệt-trong-Khác biệt (DiD). Kết quả sau 12 tháng cho thấy nhóm can thiệp cải thiện đáng kể hành vi ăn mặn so với nhóm chứng. Tỷ lệ “bỏ thêm muối khi chế biến” giảm với hiệu quả can thiệp ròng 10,8 điểm phần trăm (p = 0,014); “chấm thêm mắm/muối khi ăn” giảm 10,9 điểm phần trăm (p = 0,021). Các hành vi hút thuốc, uống rượu và vận động thể lực chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nhưng có sự cải thiện ở cả hai nhóm. Kết luận, can thiệp kể chuyện có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thói quen ăn mặn, phù hợp triển khai tại y tế cơ sở.</em></p>Nguyễn Thị Thu CúcNguyễn Hoàng GiangTrần Thị Mai OanhPhan Hồng VânHà Anh ĐứcNguyễn Lan HoaNguyễn Thị Hoài Thu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199265065910.52852/tcncyh.v199i2.4560Khảo sát mô học tăng sắc tố nướu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4712
<p class="p1"><em>Tăng sắc tố nướu do lắng đọng melanin là biến thể sinh lý thường gặp, có thể ảnh hưởng rõ đến thẩm mỹ nụ cười. Mục tiêu xác định số lượng tế bào sắc tố trong mô nướu tăng sắc tố và đánh giá mối liên quan giữa chỉ số DOPI và số lượng tế bào sắc tố. Nghiên cứu cắt ngang trên 40 bệnh nhân ≥ 18 tuổi có tăng sắc tố nướu (DOPI ≥ 1), thu 160 mẫu sinh thiết. Phân tích mô học kết hợp đánh giá DOPI trên ảnh chuẩn hóa. Kết quả, Độ dày nướu trung bình 1,28 ± 0,50mm. Số melanocyte trung bình 8,72 ± 3,25 tế bào/mẫu, tổng cộng 1.396 tế bào. Phân bố DOPI: mức 1 (36,3%), mức 2 (27,5%), mức 3 (36,3%). Số melanocyte khác biệt có ý nghĩa giữa các phân hàm và tăng theo mức DOPI (p = 0,001). Phân tích đa biến cho thấy mỗi khi DOPI tăng 1 mức, số melanocyte tăng (IRR 1,15; KTC 95%: 1,06 – 1,24; p = 0,001), trong khi độ dày nướu không liên quan. Số lượng melanocyte tăng theo mức độ tăng sắc tố nướu và phân bố khác nhau giữa các phân hàm.</em></p>Trần Huỳnh TrungLê Nguyên LâmPhạm Anh Vũ Thuỵ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199266066610.52852/tcncyh.v199i2.4712Đặc điểm thính lực của người lao động có tiếp xúc với tiếng ồn tại một công ty luyện thép ở Thái Nguyên năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4562
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả đặc điểm thính lực của người lao động có tiếp xúc với tiếng ồn tại một công ty luyện thép Thái Nguyên, được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang. Thu thập dữ liệu bằng hồ sơ khám sức khoẻ của 309 người lao động, xử lý bằng SPSS 26 với các phép thống kê mô tả và kiểm định Chi-bình phương. Kết quả ghi nhận tỷ lệ suy giảm thính lực chung là 15,2%, không ghi nhận trường hợp nặng. Ngưỡng nghe trung vị ở các dải tần nằm trong giới hạn bình thường. Ở các dải tần từ 250 – 2000Hz, ngưỡng nghe phân bố đồng đều cả hai tai, trong khi tại dải tần 4kHz ghi nhận sự gia tăng ngưỡng nghe ở phân vị cao, phản ánh xu hướng suy giảm thính lực nhẹ ở một số người lao động. Các triệu chứng cơ năng ít gặp, đau đầu là triệu chứng thường gặp nhất. Tỷ lệ suy giảm thính lực ở nhóm người lao động sản xuất trực tiếp và nhóm hành chính gần như tương đương, cho thấy vị trí làm việc không ảnh hưởng rõ đến tình trạng thính lực trong nghiên cứu này. Kết quả này cho thấy suy giảm thính lực là vấn đề sức khỏe nghề nghiệp cần được quan tâm ở người lao động ngành luyện kim, đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc theo dõi thính lực định kỳ và kiểm soát phơi nhiễm tiếng ồn trong môi trường lao động.</em></p>Phạm Thảo LinhTrương Khải PhongThân Đức Mạnh Trương Thị Thuỳ Dương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199266767510.52852/tcncyh.v199i2.4562Kiến thức và thái độ về tiêm vắc xin phòng HPV của nữ sinh viên y tại Hà Nội năm học 2024-2025 và một số yếu tố liên quan
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4686
<p class="p1"><em>Tiêm vắc xin phòng Human Papillomavirus (HPV) là phương pháp chủ động và dự phòng hiệu quả các bệnh do HPV gây ra ở nữ giới, đặc biệt là ung thư cổ tư cung. Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin phòng HPV của nữ sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội và trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 874 nữ sinh viên theo bộ câu hỏi thiết kế có sẵn. Số liệu được phân tích hồi qui logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Tỷ lệ nữ sinh viên có kiến thức đạt và thái độ tích cực về vắc xin phòng HPV lần lượt là 19,8% và 12,1%. Một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê tới kiến thức đạt bao gồm: cơ sở đào tạo, năm học, hiểu biết về nguyên nhân, khả năng phòng ngừa, địa điểm tiêm chủng, sẵn sàng chi trả vắc xin phòng HPV. Thái độ tích cực về vắc xin phòng HPV chịu ảnh hưởng bởi kiến thức đạt và sự sẵn sàng chi trả vắc xin. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kiến thức và thái độ về vắc xin phòng HPV của đối tượng nghiên cứu còn thấp. Chính vì vậy, cần thiết phải triển khai các can thiệp giáo dục sức khỏe trong trường học để nâng cao kiến thức và thái độ về tiêm vắc xin phòng HPV cho nguồn nhân lực y tế tương lai.</em></p>Điệp Phùng QuốcThu Bùi MinhXuân Lê Thị Thanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199267668610.52852/tcncyh.v199i2.4686Đánh giá của nhân lực y tế về công tác thực hiện quy chế thi đua, khen thưởng tại Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4759
<p class="p1"><span class="s1"><em>Công tác thi đua khen thưởng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của một đơn vị công lập. Nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được tiến hành trên 104 viên chức và người lao động tại Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng giai đoạn 2019-2024 nhằm đánh giá công tác thực hiện quy chế thi đua khen thưởng tại Viện. Kết quả khảo sát cho thấy đa số cán bộ đánh giá kết quả thực hiện quy chế thi đua khen thưởng hiện nay của Viện là tốt với tỷ lệ đối tượng đồng ý và rất đồng ý với lần lượt là 61,5% và 30,8%. Các tiêu chí và cách tính điểm thi đua khen thưởng được đánh giá rõ ràng, phù hợp. Quy trình xét thi đua khen thưởng được thông báo kịp thời (59,6% đồng ý; 34,6% rất đồng ý). Bên cạnh đó, thi đua khen thưởng được xem là có tác động tích cực đến động lực làm việc của cán bộ (54,8% đồng ý; 36,5% rất đồng ý). Cơ hội thi đua khen thưởng giữa các nhóm khá công bằng, mức thưởng và phân loại phù hợp, quy chế được điều chỉnh kịp thời. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá và điều chỉnh quy chế định kỳ để phù hợp với yêu cầu thực tế, nâng cao hiệu quả quản lý trong giai đoạn tới.</em></span></p>Lê Thị Thanh XuânNguyễn Hữu ThắngNguyễn Thuý HiềnLê Thu HườngTạ Thị Kim Nhung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199268769510.52852/tcncyh.v199i2.4759Bước đầu áp dụng thang điểm GMAS đánh giá tuân thủ điều trị ở người bệnh viêm khớp cột sống
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4600
<p class="p1"><em>Viêm khớp cột sống là bệnh khớp viêm mạn tính cần điều trị lâu dài, trong đó tuân thủ điều trị giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát bệnh. Việc sử dụng thang điểm GMAS (General Medication Adherence Scale) giúp đánh giá mức độ tuân thủ và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu được thực hiện trên 45 bệnh nhân viêm khớp cột sống, điều trị tại Trung tâm Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11 đến tháng 12/2025. Kết quả cho thấy tỉ lệ tuân thủ điều trị đạt 57,78%, với điểm GMAS trung bình 29,2 ± 2,82. Trong 11 tiêu chí của thang điểm GMAS, tiêu chí liên quan đến việc tự ý thay đổi liều và số lần dùng thuốc trong ngày có điểm thấp nhất. Nhóm bệnh nhân có mức độ hoạt động bệnh cao ghi nhận tỉ lệ không tuân thủ điều trị cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ điều trị ở bệnh nhân viêm khớp cột sống còn hạn chế và chịu ảnh hưởng bởi mức độ hoạt động bệnh.</em></p>Trần Huyền TrangNinh Công PhươngNguyễn Đức PhongNguyễn Văn Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199270270910.52852/tcncyh.v199i2.4600Mô hình bệnh tật và tử vong tại khoa sơ sinh Bệnh viện Nhi Hà Nội giai đoạn 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4702
<p class="p1"><em>Mô hình bệnh tật và tử vong trong dân số phản ánh khách quan đến tình hình sức khoẻ cũng như sự phát triển nền kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi quốc gia. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 1163 lần nhập viện của trẻ sơ sinh được điều trị nội trú tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Hà Nội từ tháng 10/2024 đến tháng 10/2025. Nhóm trẻ sơ sinh đủ tháng nhập viện là nhóm chiếm tỷ lệ đa số trong nghiên cứu (76,7%). Tỷ lệ trẻ nam trong nghiên cứu cao hơn trẻ nữ (60% và 40%). Các bệnh lý thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh bao gồm: suy hô hấp sơ sinh (32,1%), vàng da sơ sinh (18%) và nhiễm khuẩn sơ sinh (14,9%). Trẻ đẻ non có tỷ lệ mắc suy hô hấp sơ sinh, vàng da, nhiễm khuẩn sơ sinh cao hơn so với nhóm đủ tháng. Bệnh nhân chuyển viện chiếm tỷ lệ thấp trong đó nguyên nhân do bệnh lý tim mạch và tăng áp phổi là các bệnh chủ yếu đòi hỏi chuyển đến cơ sở y tế chuyên khoa sâu. Tử vong hay gặp nhất là do nhiễm khuẩn bệnh viện ở trẻ cực non tháng.</em></p>Thái Bằng GiangPhạm Văn DuyệtNgô Thị Minh LoanHoàng Thị Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199269670110.52852/tcncyh.v199i2.4702Giá trị của bạch cầu máu, tổn thương trên X-quang ngực thẳng trong định hướng nhóm căn nguyên gây viêm phổi thùy ở trẻ em tại Cần Thơ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4641
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang 71 trẻ viêm phổi thùy nhập Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Cần Thơ từ tháng 06/2024 đến tháng 06/2025 cho thấy bệnh thường gặp ở trẻ ≥ 24 tháng tuổi. Tăng bạch cầu máu và bạch cầu đa nhân trung tính lần lượt chiếm 57,7% và 70,4%. Tất cả trẻ đều có hình ảnh đông đặc trên X-quang ngực thẳng, 69,0% kèm tổn thương phế nang. Streptococcus pneumoniae (59,2%) và Haemphilus influenzae (53,5%) là tác nhân thường gặp nhất. Số lượng bạch cầu máu không liên quan đến nhóm căn nguyên (p > 0,05). Tổn thương mô kẽ có liên quan đến nhiễm vi rút (p = 0,001); tổn thương phế nang liên quan đến nhiễm vi khuẩn (p = 0,003); vị trí tổn thương thuỳ giữa phải thường gặp ở trẻ nhiễm vi rút hơn vi khuẩn (p = 0,025). Tuy nhiên, cần thận trọng khi diễn giải kết quả do cỡ mẫu giới hạn và phương pháp phát hiện căn nguyên bằng real-time PCR được sử dụng. </em></p>Trần Quang KhảiNguyễn Phạm Yến Khoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199271071810.52852/tcncyh.v199i2.4641Nghiên cứu thực trạng căng thẳng do khác biệt văn hóa của sinh viên quốc tế tại Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4658
<p class="p1"><em>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 175 sinh viên quốc tế tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế nhằm đánh giá mức độ căng thẳng do khác biệt văn hóa và các yếu tố liên quan. Thang đo Acculturative Stress Scale for International Students (ASSIS) được sử dụng để thu thập dữ liệu. Kết quả cho thấy mức độ căng thẳng nhìn chung ở mức thấp đến trung bình, đa số sinh viên có điểm ASSIS dưới ngưỡng cảnh báo. Phân tích mối liên quan cho thấy căng thẳng do khác biệt văn hóa liên quan có ý nghĩa thống kê với trình độ tiếng Anh, mức độ chuẩn bị trước khi đến Việt Nam, hình thức tham gia chương trình quốc tế, chuyên ngành, quốc gia/vùng lãnh thổ và tôn giáo; trong khi giới tính và tình trạng hôn nhân không có mối liên quan rõ rệt. Kết quả nhấn mạnh khả năng thích nghi văn hóa tương đối tốt của sinh viên quốc tế tại Việt Nam, đồng thời gợi ý tầm quan trọng của hỗ trợ ngôn ngữ, chuẩn bị tiền du học và tăng cường các dịch vụ hỗ trợ để nâng cao trải nghiệm học tập.</em></p>Nguyễn Thị Anh PhươngHoàng Thị Thanh NhạnĐoàn Thị Nhã PhươngTrần Thị Hoàng Oanh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199271972810.52852/tcncyh.v199i2.4658Quản lý và điều trị gút ở người cao tuổi: Thách thức và giải pháp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4573
<p class="p1"><em>Bệnh Gút từ lâu được biết là một bệnh lý viêm khớp cục bộ do sự lắng đọng của tinh thể urate tại khớp và mô mềm, ngày nay bệnh gút được xác định là một tình trạng rối loạn chuyển hóa mang tính hệ thống với những tác động sâu rộng đến sức khỏe, đặc biệt ở người cao tuổi. Trong bối cảnh già hóa dân số toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển, gánh nặng của bệnh Gút tạo ra những thách thức mới. Thông qua việc tổng hợp dữ liệu từ y văn, hướng dẫn lâm sàng của các hiệp hội quốc tế (EULAR, ACR), bài báo này tập trung vào phân tích cơ chế bệnh sinh , tính đa dạng về lâm sàng, các bệnh lý đồng mắc, điều trị an toàn và hiệu quả bệnh nhân gout cao tuổi.</em></p>Võ TamTô Hữu Thiện
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199272973710.52852/tcncyh.v199i2.4573Bệnh mất protein qua ruột do Lupus ban đỏ hệ thống - Báo cáo ca bệnh hiếm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4722
<p class="p1"><em>Bệnh mất protein qua ruột là biến chứng hiếm gặp nhưng có ý nghĩa lâm sàng quan trọng của lupus ban đỏ hệ thống, gây mất protein qua đường tiêu hóa dẫn đến hạ albumin máu kéo dài, phù và tràn dịch các khoang. Do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu, dễ chồng lấp với các nguyên nhân khác gây hạ albumin máu và hạn chế trong tiếp cận các phương pháp chẩn đoán chuyên biệt, bệnh thường bị bỏ sót, đặc biệt ở người bệnh có kèm viêm thận lupus, từ đó dẫn đến điều trị không phù hợp và kéo dài tình trạng bệnh. Chúng tôi báo cáo trường hợp người bệnh nữ 31 tuổi mắc lupus ban đỏ hệ thống có viêm thận lupus, nhập viện vì đau bụng và buồn nôn kéo dài một tuần. Xét nghiệm cho thấy hạ albumin máu nặng không tương xứng với mức độ protein niệu. Hình ảnh học ghi nhận dày thành ruột non và dịch ổ bụng. Xạ hình Technetium-99m gắn albumin huyết thanh người phát hiện ổ mất protein khu trú tại đại tràng góc gan, góp phần khẳng định chẩn đoán bệnh mất protein qua ruột. Người bệnh đáp ứng tốt với corticosteroid liều cao phối hợp mycophenolate mofetil, hồi phục hoàn toàn triệu chứng lâm sàng và nồng độ albumin máu sau ba tháng theo dõi.</em></p>Bùi Văn KhánhLê Thị Hồng ThuýNguyễn Minh HoàngLý Văn PhườngNhữ Đình HiệpNguyễn Hoàng PhươngCao Thị Trinh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199273874310.52852/tcncyh.v199i2.4722Bệnh Menkes ở trẻ em: Báo cáo hai ca bệnh hiếm được chẩn đoán đầu tiên tại Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4729
<p class="p1"><em>Chúng tôi báo cáo hai trường hợp chẩn đoán bệnh Menkes đầu tiên tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Hai ca bệnh đều là trẻ nam, khởi phát cơn động kinh lúc 3 tháng tuổi, tiến triển kháng trị, giảm trương lực cơ, chậm phát triển tâm thần - vận động và có giảm sắc tố da, tóc. Trường hợp thứ nhất có hình ảnh cộng hưởng từ (CHT) mạch não ghi nhận các động mạch não xoắn vặn bất thường và ceruloplasmin máu giảm (0,041 g/L, bình thường 0,26 - 0,83 g/L). Trường hợp thứ hai có giảm cả ceruloplasmin (0,027 g/L) và đồng máu (< 2 umol/L), CHT sọ não các mạch máu não ngoằn ngoèo, kèm bất thường tín hiệu chất trắng và hạch nền. Phân tích gen xác định đột biến gen ATP7A gây bệnh Menkes ở cả hai trường hợp. Hai ca bệnh này nhấn mạnh bệnh Menkes cần được đưa ra chẩn đoán sớm ở trẻ động kinh kháng trị khởi phát sớm, kèm bất thường da, tóc và hình ảnh mạch não xoắn vặn, đồng thời cho thấy vai trò quan trọng của xét nghiệm di truyền trong chẩn đoán xác định và có kế hoạch tư vấn di truyền cho gia đình bệnh nhân.</em></p>Vũ Thị DuyênNguyễn Phương MaiTrần Quang ThanhCao Vũ HùngNguyễn Thị Bích VânHà Thị Liễu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199274475210.52852/tcncyh.v199i2.4729Nhiễm nấm Trichosporon asahii xâm lấn sau ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài: Báo cáo ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4660
<p class="p1"><em>Nhiễm nấm xâm lấn là biến chứng nghiêm trọng sau ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại, có nguy cơ cao gây tử vong cho người bệnh ghép, nhưng dữ liệu về nhi khoa còn hạn chế. Các căn nguyên nấm thường gặp nhất là Candida và Aspergillus, tuy nhiên, một số căn nguyên nấm hiếm gặp khác có thể gây bệnh cảnh lâm sàng nặng nề. Chúng tôi mô tả một trường hợp trẻ trai 24 tháng tuổi, chẩn đoán nhiễm trùng máu do Trichosporon asahii liên quan đến catheter tĩnh mạch trung tâm trong giai đoạn giảm bạch cầu trung tính sau ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài để điều trị bệnh Mucopolysaccharid typ 2. Trẻ được điều trị thành công bằng voriconazol tĩnh mạch và ghép tế bào gốc tạo máu nửa thuận hợp lần hai, không có biến chứng nguy hiểm do nhiễm nấm. Bác sĩ lâm sàng nên chú ý đến khả năng nhiễm Trichosporon ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính thứ phát nếu triệu chứng không cải thiện mặc dù đã điều trị bằng thuốc kháng sinh và/hoặc thuốc kháng nấm khác nhau.</em></p>Nguyễn Ngọc Quỳnh LêĐặng Ánh DươngCấn Thị Bích NgọcHà Phương AnhVũ Thị HạnhTống Thị ThúyNguyễn Thanh BìnhVũ Chí DũngCao Việt Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199275376010.52852/tcncyh.v199i2.4660Giải mẫn cảm thuốc Foscarnet điều trị Cytomegalovirus cho bệnh nhi dị ứng thuốc sau ghép tế bào gốc đồng loài: Báo cáo ca bệnh hiếm gặp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4682
<p class="p1"><em>Cytomegalovirus (CMV) là tác nhân gây bệnh cơ hội nguy hiểm thường gặp ở bệnh nhi ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài. Foscarnet là thuốc điều trị CMV hiệu quả, tuy nhiên phản ứng quá mẫn có thể hạn chế việc dùng thuốc. Chúng tôi báo cáo một bệnh nhi chẩn đoán suy giảm miễn dịch thể Wiskott-Aldrich được ghép tế bào gốc. Trong quá trình ghép, trẻ nhiễm CMV không đáp ứng điều trị thông thường, do đó trẻ được chỉ định điều trị thuốc foscarnet tĩnh mạch, tuy nhiên trẻ xuất hiện phản vệ với thuốc. Do không có phác đồ điều trị thay thế, trẻ được tiến hành giải mẫn cảm foscarnet. Quá trình giải mẫn cảm gồm 22 bước thực hiện an toàn, trẻ dung nạp tốt, ghép tế bào gốc thành công và CMV được kiểm soát, không ghi nhận tái phát phản ứng dị ứng. Giải mẫn cảm foscarnet là lựa chọn khả thi và hiệu quả trong điều trị nhiễm CMV ở bệnh nhi có phản ứng quá mẫn với thuốc.</em></p>Hà Phương AnhChu Hồng HạnhNguyễn Thị NgàHà Thị HoaĐặng Thị Cẩm BăngNguyễn Ngọc Quỳnh Lê
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199276176810.52852/tcncyh.v199i2.4682Nhiễm nấm Candida khớp gối: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4578
<p class="p1"><em>Nhiễm nấm khớp là một bệnh lý hiếm gặp nhưng có thể xảy ra ở trẻ em, người cao tuổi và những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, với khả năng gây ra các hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Bệnh gây thách thức lớn trong chẩn đoán và điều trị do tính hiếm gặp, thiếu các đặc điểm lâm sàng điển hình và khó khăn trong việc phân lập, xác định tác nhân gây bệnh. Hiện nay, các nghiên cứu về sinh lý bệnh và các phương pháp điều trị vẫn còn hạn chế, dẫn đến thiếu các lựa chọn điều trị dựa trên bằng chứng. Thông thường, nhiễm nấm khớp biểu hiện dưới dạng viêm một khớp hoặc viêm ít khớp, trong đó khớp gối là vị trí hay gặp nhất. Chẩn đoán thường dựa vào việc phát hiện tác nhân gây bệnh qua các xét nghiệm bệnh phẩm, nuôi cấy dịch khớp và màng hoạt dịch. Điều trị thường kết hợp giữa liệu pháp nội khoa sử dụng thuốc kháng nấm và các can thiệp phẫu thuật khi cần thiết. Chúng tôi xin báo cáo một trường hợp ca bệnh nhiễm nấm Candida khớp gối tại Khoa Cơ Xương Khớp – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. </em></p>Lê Thị Bích NgọcPhạm Hoài ThuPhạm Văn TúPhạm Thu Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199276977510.52852/tcncyh.v199i2.4578Viêm đa động mạch nút ở da: Báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4582
<p class="p1"><em>Viêm đa động mạch nút (Polyarteritis nodosa - PAN) là tình trạng viêm mạch hoại tử hệ thống hiếm gặp, chủ yếu ảnh hưởng đến các động mạch kích thước trung bình.<sup>1</sup> Viêm đa động mạch nút ở da (cPAN-Cutaneous PAN) là tình trạng viêm mạch giới hạn ở da ảnh hưởng đến các động mạch có kích thước trung bình của da, không có các biến chứng nội tạng nghiêm trọng như trong PAN hệ thống. Chẩn đoán thường dựa trên sự kết hợp các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng khi có từ 3/10 tiêu chuẩn của ACR năm 1990 với độ nhạy 82% và độ đặc hiệu 86%. Tuy nhiên lý tưởng nhất là tổn thương mạch máu được khẳng định bằng mô bệnh học, hoặc chụp mạch. Chúng tôi báo cáo một trường hợp viêm đa nút động mạch da ở bệnh nhân nam 21 tuổi chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội với đặc điểm lâm sàng là sốt kèm các tổn thương loét hoại tử chậm liền trên da. Bênh nhân được chẩn đoán xác định bằng sinh thiết da cho thấy tổn thương viêm mạch kích thước nhỏ và trung bình. Bệnh nhân được được điều trị bằng glucocorticoid, colchicin, HCQ và các tổn thương da cải thiện rõ rệt sau 2 tháng điều trị. </em></p>Phạm Thu HằngNguyễn Chí ĐạoPhạm Hoài ThuPhạm Văn Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199277678310.52852/tcncyh.v199i2.4582Kết quả điều trị hội chứng ống cổ tay bằng phương pháp tiêm Collagen trọng lượng phân tử thấp tại Bệnh viện Điều dưỡng Phục hồi chức năng Trung ương: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4612
<p class="p1"><em>Chẩn đoán và điều trị hội chứng ống cổ tay đối với các bệnh nhân suy giáp thường gặp nhiều khó khăn do thường nhầm lẫn với các triệu chứng do bệnh lý tuyến giáp. Các bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay mức độ nhẹ đến trung bình điều trị bằng tiêm corticoid tại chỗ, có nguy cơ tái phát lại các triệu chứng trong vòng 12 tháng sau điều trị, do đó cần có các phương pháp điều trị thay thế. Nghiên cứu này nhằm báo cáo một trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán, điều trị muộn hội chứng ống cổ tay sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và kết quả phương pháp điều trị hội chứng ống cổ tay bằng tiêm collagen trọng lượng phân tử thấp tại chỗ. </em></p>Lại Văn TrungLê Thị Thùy DươngCầm Bá ThứcNguyễn Xuân ĐạiTrần Ngọc Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199278478910.52852/tcncyh.v199i2.4612Bệnh viêm khớp do tinh thể Calcium Pyrophosphate cấp tính sau phẫu thuật cắt u tuyến cận giáp: Báo cáo ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4622
<p class="p1"><em>Bệnh viêm khớp cấp tính do tinh thể canxi pyrophosphate (Calcium Pyrophosphate Deposition-CPPD) là một bệnh viêm màng hoạt dịch khớp cấp tính do lắng đọng canxi pyrophosphate, hậu quả của rối loạn chuyển hóa canxi-phosphate. Bệnh CPPD cấp tính khởi phát sau phẫu thuật cắt tuyến cận giáp là tình trạng hiếm gặp, được mô tả trên y văn thế giới qua một số ca lâm sàng. Trong bài báo này, chúng tôi báo cáo một ca lâm sàng biểu hiện bệnh CPPD cấp tính sau phẫu thuật cắt tuyến cận giáp tại bệnh viện Đại học Phenikaa. Ca bệnh này đặc biệt vì là trường hợp đầu tiên mô tả một trường hợp CPPD cấp tính ở cổ bàn chân sau phẫu thuật cắt tuyến cận giáp ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Ca bệnh này khá phức tạp vì bệnh nhân cũng mắc đái tháo đường typ 2, khiến việc chẩn đoán trở nên khó khăn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khai thác lại tiền sử phẫu thuật, cũng như loại trừ các khả năng khác trong chẩn đoán phân biệt, để hướng tới một chẩn đoán chính xác và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.</em></p>Nguyễn Duy HiệpDiệp Quốc DũngVũ Văn Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199279079610.52852/tcncyh.v199i2.4622Thách thức trong chẩn đoán và điều trị viêm khớp tự phát thiếu niên thể hệ thống: Nhân một ca bệnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4607
<p class="p1"><em>Viêm khớp tự phát thiếu niên thể hệ thống (sJIA: Systemic Juvenile Idiopathic Arthritis) là một bệnh tự viêm với các biểu hiện hệ thống nổi trội (sốt kéo dài, phát ban, gan lách hạch to) xuất hiện sớm, kèm theo viêm khớp mạn tính sau đó. Bệnh thường bị chẩn đoán trễ do khó phân biệt với các nguyên nhân gây sốt kéo dài ở trẻ em, không có xét nghiệm đặc hiệu và hạn chế của các tiêu chuẩn chẩn đoán. Chúng tôi báo cáo một trường hợp trẻ nam 7 tuổi biểu hiện sốt cao kéo dài, phát ban trong cơn sốt và viêm khớp, xét nghiệm các chỉ điểm viêm tăng cao, được chẩn đoán ban đầu tại bệnh viện khác là mày đay cấp do nhiễm trùng (điều trị kháng sinh không đáp ứng) và sau đó là viêm khớp tự phát thiếu niên thể ít khớp (điều trị glucocorticoid và methotrexate 4 tháng nhưng không kiểm soát). Chúng tôi chẩn đoán trẻ mắc sJIA và kiểm soát bệnh hoàn toàn bằng thuốc tocilizumab. Chúng tôi cũng bàn luận về các tiêu chuẩn phân loại giúp chẩn đoán sớm sJIA và sự thay đổi trong cách tiếp cận điều trị bệnh.</em></p>Mai Thành CôngNguyễn Phan Thùy LinhLê Thị Minh PhươngNguyễn Thành Nam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-03-092026-03-09199279780510.52852/tcncyh.v199i2.4607