Tạp chí Nghiên cứu Y học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh
Trường Đại Học Y Hà Nộivi-VNTạp chí Nghiên cứu Y học2354-080XNồng độ CA-125 và mối liên quan với một số đặc điểm ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4831
<p class="p1">CA-125 vốn là dấu ấn sinh học khối u, nhưng ngày càng được quan tâm như dấu ấn sung huyết và viêm tại các bề mặt thanh mạc trong suy tim. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 95 bệnh nhân nhằm xác định nồng độ CA-125 và yếu tố liên quan ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tại bệnh viện Đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai từ 06/2025 đến 12/2025. Kết quả nghiên cứu ghi nhận tuổi trung bình 70,4 ± 14,7 với 51,6% là nam giới. Nồng độ CA-125 trung bình 96,8 ± 147,1 U/mL, cao hơn rõ ở nhóm phù (139,7 U/mL so với 23,0 U/mL) và có tràn dịch màng phổi (146,3 U/mL so với 34,4 U/mL), p < 0,001. Nồng độ CA-125 tương quan thuận với NT-proBNP (r = 0,248), tương quan nghịch với HDL-c (r = −0,270) và LVEF (r = −0,211). Trong mô hình đa biến, phù (β = 1,040) và tràn dịch màng phổi (β = 1,140) liên quan với CA-125 cao hơn (p < 0,001). Nồng độ CA-125 có tiềm năng hỗ trợ đánh giá tình trạng sung huyết ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp suy tim mạn.</p>Nguyễn Trang ĐàiTrần Viết An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-0620141910.52852/tcncyh.v201i4.4831Xét nghiệm IgE đặc hiệu trong chẩn đoán quá mẫn thuốc nhanh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4819
<p class="p1">IgE (immunoglobulin E) là một immunoglobulin được sản xuất bởi tương bào và là tác nhân đóng vai trò quan trọng trong các cơ chế dị ứng thuốc nhanh. Khi IgE kết hợp với kháng nguyên là thuốc sẽ tạo phức hợp kháng nguyên kháng thể hoạt hóa tế bào mast giải phóng các chất trung gian hóa học gây ra triệu chứng. Quá trình động học phức tạp của IgE dẫn điễn việc thay đổi thời điểm lấy mẫu sẽ làm thay đổi kết quả xét nghiệm. Trong trường hợp không tái tiếp xúc với dị nguyên nồng độ IgE trong máu sẽ giảm dần theo thời gian. So với các phương pháp xét nghiệm khác IgE đặc hiệu có những ưu điểm riêng: dễ triển khai, ít biến chứng, có thể tiến hành bất cứ khi nào cần. Năm 2020, Hiệp hội Dị ứng thế giới WAO (World Allergy Organization) vẫn khuyến cáo xét nghiệm IgE đặc hiệu là một công cụ sàng lọc tác nhân gây dị ứng nhanh đặc biệt trong trường hợp phản vệ.</p>Lê Văn HiệpNguyễn Anh MinhBùi Văn DânNguyễn Hoàng PhươngLê Đình Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014101710.52852/tcncyh.v201i4.4819Dị hình giới tính trong bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chức năng chuyển hóa (MASLD): Phân tích tương tác và phi tuyến về mối liên quan giữa TyG-BMI và FIB-4
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4979
<p class="p1">Dù TyG-BMI là dấu ấn đáng tin cậy cho đề kháng insulin trong bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chức năng chuyển hóa (Metabolic dysfunction-associated steatotic liver disease - MASLD), mối liên quan theo giới tính với thang điểm xơ hóa FIB-4 vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu cắt ngang phân tích 222 bệnh nhân MASLD (104 nam, 118 nữ) thông qua mô hình hồi quy tuyến tính đa biến chứa biến tương tác (TyG-BMI × Giới tính) và hàm spline khối hạn chế (RCS) để đánh giá quỹ đạo phi tuyến giữa TyG-BMI và logarit tự nhiên của FIB-4. Các mô hình phân tầng bộc lộ sự dị hình giới tính rõ. Ở nữ, TyG-BMI có mối tương quan nghịch mang tính nghịch lý với FIB-4 (β = -0,0033, p = 0,007). Ngược lại, nam giới không ghi nhận mối liên quan này (p = 0,590). Phân tích RCS xác nhận quỹ đạo FIB-4 suy giảm khi TyG-BMI tăng ở nhóm nữ, trong khi quỹ đạo ở nhóm nam gần như đi ngang. Giới tính điều biến mối liên quan giữa TyG-BMI và FIB-4. Tương quan nghịch ở nữ giới làm nổi bật vai trò bảo vệ tiềm năng của estrogen và hạn chế của FIB-4 ở quần thể trẻ, béo phì.</p>Nguyễn Hữu Ngọc TuấnNguyễn Minh Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014182510.52852/tcncyh.v201i4.4979Mối liên quan giữa đa hình TNF-α -308G>A (rs1800629) và các chỉ số xơ hóa gan không xâm lấn ở người trưởng thành không mắc MASLD
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4978
<p class="p1">Bệnh gan ứ mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASLD) đang gia tăng toàn cầu. Xơ hóa gan dưới lâm sàng xảy ra ở người khỏe mạnh, đòi hỏi công cụ sàng lọc không xâm lấn đáng tin cậy tại y tế cơ sở. APRI và FIB-4 dùng rộng rãi nhưng độ chính xác nền ở nhóm tiền MASLD và mối liên quan của đa hình <em>TNF-α</em> -308G>A (rs1800629) chưa rõ ở người Việt. Nghiên cứu cắt ngang trên 240 người trưởng thành từ đoàn hệ khám sức khỏe không mắc MASLD hay bệnh gan mạn. Định kiểu gen rs1800629 bằng PCR-RFLP và Sanger; tính APRI, FIB-4 từ AST, ALT, tiểu cầu và tuổi. Hồi quy OLS đa biến và logistic (trội GA/AA vs GG) hiệu chỉnh tuổi, giới, BMI, HBsAg cho thấy đa hình không có mối liên quan độc lập với APRI (β = -0,0141, p = 0,444) hay FIB-4 (β = -0,0025, p = 0,967). Giới nam có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với APRI tăng cao (p < 0,001) do AST cao tiểu cầu thấp, trong khi FIB-4 không chịu ảnh hưởng tương tự (p = 0,831). Do vậy, ở người Việt Nam chưa MASLD, rs1800629 không có mối liên quan với chỉ số xơ hóa, FIB-4 cho thấy tính ổn định cao hơn trong sàng lọc thường quy tại y tế cơ sở.</p>Nguyễn Hữu Ngọc TuấnNguyễn Minh Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014263310.52852/tcncyh.v201i4.4978Đa hình gen ACE I/D và giá trị tiên lượng trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5002
<p class="p1">Đa hình gen <em>ACE I/D</em> đóng vai trò quan trọng trong điều hòa hệ thống renin-angiotensin-aldosterone và ảnh hưởng đến tiên lượng của nhồi máu cơ tim cấp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 72 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp nhập viện tại Bệnh viện Bình Thuận từ tháng 06/2025 đến tháng 01/2026. Xác định đa hình gen <em>ACE I/D</em> bằng phương pháp real-time PCR. Kết quả: tỷ lệ kiểu gen ID chiếm cao nhất với 44,4%, trong khi kiểu gen DD và II chiếm lần lượt là 22,2% và 33,4%. Sau 3 tháng theo dõi, có 19 trường hợp tử vong (26,4%) và 53 trường hợp sống sót (73,6%). Tỷ lệ tử vong cao nhất ở nhóm mang kiểu gen DD (52,6%), tiếp theo là ID (36,8%) và thấp nhất ở nhóm II (10,6%) sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa p = 0,001. Kiểu gen DD gợi ý liên quan đến nguy cơ tử vong sau 3 tháng cao hơn. Kết quả này cũng gợi ý tiềm năng ứng dụng gen <em>ACE I/D</em> như một dấu ấn di truyền trong phân tầng nguy cơ tim mạch trong tương lai.</p>Huỳnh Văn QuyềnTrần Viết AnPhạm Thị Ngọc Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014344210.52852/tcncyh.v201i4.5002Bước đầu khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs505151 gen PCSK9 và rối loạn lipid máu ở người bệnh thận mạn giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4825
<p class="p1">Đa hình gen <em>PCSK9</em> đóng vai trò then chốt trong điều hòa chuyển hóa lipid, tuy nhiên dữ liệu về mối liên quan giữa biến thể rs505151 và tình trạng rối loạn lipid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 103 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ từ tháng 05/2025 đến tháng 12/2025 nhằm xác định đặc điểm phân bố kiểu gen đa hình rs505151 gen <em>PCSK9</em> và liên quan của nó với các thành phần lipid. Kết quả cho thấy kiểu gen AA chiếm đa số (92,2%), kiểu gen dị hợp tử AG chỉ chiếm 7,8% với tần số alen G là 3,9%, không ghi nhận kiểu gen GG. Tỷ lệ rối loạn lipid máu chung là 95,1%, trong đó giảm HDL-C là phổ biến nhất (74,5%). Nhóm người bệnh mang kiểu gen AG có nồng độ TC, LDL-C và non-HDL-C cao hơn so với nhóm AA (p < 0,05). Phân tích hồi quy đa biến bước đầu gợi ý alen G của đa hình rs505151 gen <em>PCSK9</em> có thể liên quan sau hiệu chỉnh với một số thành phần lipid máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ. Những phát hiện này cần được xác nhận thêm trong các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thiết kế theo dõi dọc.</p>Trương Thị Hồng NgọcPhan Minh HoàngPhạm Thị Phượng HằngPhạm Văn HảiNguyễn Như Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014435410.52852/tcncyh.v201i4.4825Phân tích phân nhóm gene của Enterovirus A71 lưu hành ở Đắk Lắk năm 2023
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4827
<p class="p1">Enterovirus A71 (EV-A71) là tác nhân chính gây bệnh tay chân miệng(TCM) và gây ra các biến chứng thần kinh nặng. Nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định phân nhóm gene và một số đặc điểm phân tử chúng EV-A71 lưu hành ở Đắk Lắk năm 2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 phân nhóm gene của EV-A71 là C4 và B5 lưu hành ở Đắk Lắk năm 2023; trong đó phân nhóm gene B5 chiếm ưu thế với tỷ lệ 88,90%, phân nhóm gene C4 chiếm tỷ lệ 11,10%. Mức độ tương đồng trình tự nucleotide của phân nhóm gene B5 dao động từ 99,10% đến 100%, và axít amin là 97,64% đến 100%. Phân nhóm gene B5 có mối quan hệ di truyền gần với phân nhóm gene B5 lưu hành ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023. Mức độ tương đồng cao trình tự nucleotide và axít amin phản ánh vai trò trong dịch tễ học bệnh TCM tại Đắk Lắk. Các kết quả này đóng góp quan trọng phục vụ giám sát phân tử, đặc biệt phát hiện sớm khi có sự thay thế phân nhóm gene hoặc khi xuất hiện các biến chủng mới có khả năng lan rộng để dự báo nguy cơ dịch và định hướng các biện pháp phòng chống bệnh TCM trong thời gian tới.</p>Lê Văn TuấnNguyễn Hoàng QuânTrần Lê Thiên HươngNguyễn Thị Thu HàTrần Thị Thu Hiền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014556410.52852/tcncyh.v201i4.4827Mối liên quan giữa nồng độ sST2 huyết thanh và tình trạng sung huyết theo thang điểm Rohde ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4855
<p class="p1">Sung huyết là biểu hiện lâm sàng đặc trưng và là yếu tố tiên lượng quan trọng ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn, tuy nhiên việc đánh giá chính xác tình trạng này trên lâm sàng vẫn còn nhiều thách thức. Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu này được thực hiện trên 79 bệnh nhân nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ sST2 huyết thanh với tình trạng sung huyết được lượng hóa bằng thang điểm Rohde. Kết quả ghi nhận tỷ lệ sung huyết trên lâm sàng đánh giá theo thang điểm Rohde (điểm ≥ 5) chiếm 48,1%. Nồng độ sST2 huyết thanh trung bình trong nhóm nghiên cứu đạt 28,26 ± 8,27 ng/mL. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy mỗi mức tăng 5 ng/mL nồng độ sST2 làm tăng nguy cơ sung huyết lên 1,33 lần (KTC 95%: 1,02 - 1,82, p = 0,048). Kết quả này khẳng định sST2 là yếu tố liên quan độc lập phản ánh gánh nặng sung huyết và stress cơ học, có giá trị bổ sung cho đánh giá lâm sàng.</p>Phan Thị Anh VânTrần Viết An
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014657410.52852/tcncyh.v201i4.4855Mối liên quan giữa đặc điểm đa hình rs693 gen APOB và các thành phần lipid máu ở người bệnh rối loạn lipid máu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4897
<p class="p1">Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả đặc điểm phân bố đa hình rs693 của gen <em>APOB</em> và phân tích mối liên quan giữa biến thể này với các thành phần lipid máu. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 128 bệnh nhân rối loạn lipid máu tại Bệnh viện Quận 11 từ tháng 6/2025 đến tháng 1/2026. Đối tượng được xác định có LDL-C > 3,4 mmol/L theo NCEP ATP III và được chẩn đoán rối loạn lipid máu theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Châu Âu (2019). Kiểu gen rs693 được xác định bằng kỹ thuật real-time PCR. Kết quả cho thấy kiểu gen GG chiếm ưu thế 88,3%, kiểu gen GA chiếm 11,7% và không ghi nhận kiểu gen AA. Tần số alen G và A lần lượt là 94,1% và 5,9%. Nhóm mang kiểu gen GA có nồng độ TC, LDL-C và non-HDL-C cao hơn so với nhóm GG, mức chênh lệch trung bình tương ứng là 1,10 mmol/L, 1,06 mmol/L và 1,03 mmol/L sau hiệu chỉnh đa biến. Kết quả này gợi ý rs693 có thể liên quan với kiểu hình lipid máu gây xơ vữa ở quần thể nghiên cứu.</p>Lê Công TiếnNguyễn Văn HoàngTrần Chánh XuânĐoàn Thị Kim Châu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014758310.52852/tcncyh.v201i4.4897Mối liên quan giữa nồng độ β-CTX huyết thanh và gãy xương đốt sống ở phụ nữ loãng xương nguyên phát
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4885
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện nhằm đánh giá mối liên quan giữa β-CTX với gãy xương đốt sống (GXĐS) ở 85 phụ nữ ≥ 60 tuổi loãng xương nguyên phát tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ tháng 06/2025 đến 01/2026. Kết quả ghi nhận 16 trường hợp (18,8%) có GXĐS, chủ yếu tại vị trí L1 và T12. Phân tích đơn biến cho thấy nhóm GXĐS có nồng độ β-CTX cao hơn đáng kể so với nhóm không gãy xương (p < 0,05). Mô hình hồi quy đa biến Firth’s Logistic xác định nồng độ β-CTX ≥ 316 pg/mL (OR = 4,17; KTC 95%: 1,20 - 15,13; p = 0,025) và tiền sử té ngã (OR = 6,42; KTC 95%: 1,44 - 30,64; p = 0,015) là hai yếu tố liên quan độc lập của GXĐS. Nghiên cứu cho thấy nồng độ β-CTX ≥ 316 pg/mL và tiền sử té ngã có liên quan chặt chẽ với tình trạng gãy xương đốt sống hiện hữu. Việc đánh giá chỉ dấu β-CTX phối hợp cùng đo mật độ khoáng xương hỗ trợ nhận diện các đối tượng có tình trạng tăng hủy xương vượt ngưỡng sinh lý, giúp phân tầng nhóm bệnh nhân nguy cơ cao trong thực hành lâm sàng.</p>Nguyễn Tuấn TàiHuỳnh Phan Phúc LinhHuỳnh Thanh Hiền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-062014849210.52852/tcncyh.v201i4.4885Đa hình rs 72552713 của gen ABCG2 và mối liên quan với nồng độ acid uric ở bệnh nhân gút
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4924
<p class="p1">Gút là một bệnh lý viêm khớp do lắng đọng tinh thể urat trong bối cảnh tăng acid uric máu kéo dài. Nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm đa hình rs72552713 của gen <em>ABCG2</em> và đánh giá mối liên quan giữa biến thể này với nồng độ acid uric máu ở bệnh nhân gút. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 150 bệnh nhân gút điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Lãnh Binh Thăng từ tháng 06/2025 đến tháng 01/2026. Kết quả cho thấy kiểu gen GG chiếm tỷ lệ 93,3%, kiểu gen GA chiếm 6,7%, tần suất alen G và A lần lượt là 96,7% và 3,3%. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy kiểu gen GA liên quan độc lập với tăng nồng độ acid uric máu với mức chênh lệch trung bình 74,07 µmol/L (KTC 95%: 7,52 – 140,62; p = 0,029). Kết quả này gợi ý đa hình rs72552713 của gen ABCG2 có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa urat, phù hợp với vai trò của ABCG2 như một protein vận chuyển quan trọng trong quá trình đào thải acid uric của cơ thể.</p>Võ Thanh TâmHuỳnh Phan Phúc LinhNguyễn Thái Hòa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-0620149310110.52852/tcncyh.v201i4.4924Đa hình rs2070744 gen NOS3 và mối liên quan với biến chứng não ở bệnh nhân tăng huyết áp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4923
<p class="p1">Một số nghiên cứu cho thấy đa hình rs2070744 gen <em>NOS3</em> có liên quan với nguy cơ biến chứng não ở bệnh nhân THA nhưng hiện tại Việt Nam chưa được nghiên cứu. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 96 bệnh nhân THA tại Bệnh viện Tim mạch Cần Thơ nhằm khảo sát mối liên quan giữa đa hình rs2070744 và biến chứng não. Kết quả cho thấy tỷ lệ đột quỵ hoặc thiếu máu não thoáng qua là 21,9%. Đa hình rs2070744 có kiểu gen TT chiếm ưu thế (73,5%), tiếp theo CT (21,0%). Nhóm mang alen C (CC+CT) có nguy cơ biến chứng não cao hơn so với TT (OR = 5,77; p = 0,001), và alen C cũng liên quan tăng nguy cơ (OR = 4,55; p = 0,001). Sau hiệu chỉnh, mối liên quan vẫn còn ý nghĩa ở nhóm CC+CT (OR = 5,57; p = 0,002) và alen C (OR = 4,18; p < 0,001). Đa hình rs2070744 của gen <em>NOS3</em>, đặc biệt alen C, có thể là dấu ấn di truyền tiềm năng hỗ trợ phân tầng nguy cơ biến chứng não ở bệnh nhân THA.</p>Khưu Kim PhongNguyễn Trí ThứcPhạm Thị Ngọc NgaĐoàn Minh KhangTrần Kim Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201410210910.52852/tcncyh.v201i4.4923Mối liên quan giữa điểm siêu âm phổi và đáp ứng khởi trị bằng kháng sinh kinh nghiệm trong viêm phổi mắc phải cộng đồng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4925
<p class="p1">Siêu âm phổi ngày càng được quan tâm vì là công cụ theo dõi tại giường có thể đánh giá tổn thương phổi, qua đó giúp theo dõi đáp ứng điều trị ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng. Nghiên cứu tiến cứu trên 172 bệnh nhân viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện Đa khoa Cái Nước nhằm khảo sát mối liên quan giữa siêu âm phổi và thất bại kháng sinh kinh nghiệm. Kết quả cho thấy dấu nát vụn và phổi tên lửa khá thường gặp. Sau điều trị kháng sinh 72 giờ, tổng điểm siêu âm phổi trung vị giảm từ 9,0 xuống 7,0. Tỷ lệ thất bại kháng sinh kinh nghiệm là 11,0%. Nhóm thất bại có điểm siêu âm phổi cao hơn lúc nhập viện và sau 72 giờ, mức giảm điểm thấp hơn (p < 0,001). Sau hiệu chỉnh, điểm siêu âm phổi lúc nhập viện liên quan độc lập với thất bại khởi trị kháng sinh trong cả hai mô hình hiệu chỉnh và thay đổi điểm siêu âm phổi liên quan độc lập thất bại khởi trị kháng sinh khi hiệu chỉnh với thang điểm PSI (p < 0,05). Nghiên cứu cho thấy siêu âm phổi có thể là công cụ hỗ trợ hữu ích trong đánh giá đáp ứng kháng sinh kinh nghiệm ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng. Điểm siêu âm phổi tại thời điểm nhập viện là yếu tố liên quan độc lập với thất bại khởi trị, trong khi sự thay đổi điểm siêu âm phổi sau 72 giờ cho thấy giá trị gợi ý nhưng cần được xác nhận thêm.</p>Tô Việt KháiVương Hữu TiếnVõ Phạm Minh Thư
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201411011910.52852/tcncyh.v201i4.4925Giá trị cộng hưởng từ đa thông số trong chẩn đoán tình trạng đột biến gen IDH1 R132H của u thần kinh đệm ở người lớn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4983
<p class="p1">U thần kinh đệm là loại u nguyên phát phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương ở người lớn. Đột biến gen Isocitrate Dehydrogenase (IDH), đặc biệt IDH1 R132H được xác định bằng hoá mô miễn dịch, có vai trò quan trọng trong phân loại và tiên lượng bệnh. Nghiên cứu này nhằm đánh giá giá trị cộng hưởng từ đa thông số trong dự đoán tình trạng đột biến IDH1 R132H ở bệnh nhân u thần kinh đệm. Tất cả bệnh nhân được chụp trước phẫu thuật cộng hưởng từ với các chuỗi xung thường quy, khuếch tán và tưới máu động dựa trên độ nhạy từ (DSC). Các thông số định lượng bao gồm ADC và rCBV được đo tại vùng u và vùng quanh u, sau đó so sánh giữa hai nhóm. Phân tích ROC được sử dụng để đánh giá hiệu quả chẩn đoán. Kết quả cho thấy các thông số ADC và rCBV đo trong khối u có khả năng phân biệt tình trạng đột biến IDH. Mô hình kết hợp ADC và rCBV cho hiệu quả chẩn đoán cao hơn so với từng thông số đơn lẻ.</p>Lê Thị Mai HươngNguyễn Phương ThanhĐinh Thu HằngNguyễn Văn TuấnNguyễn Duy Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201412013010.52852/tcncyh.v201i4.4983Đặc điểm của 18F-FDG PET/CT trong phát hiện tổn thương tái phát ở bệnh nhân ung thư biểu mô vảy cổ tử cung đã điều trị triệt căn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4974
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm và đánh giá hiệu quả chẩn đoán của <sup>18</sup>F-FDG PET/CT trong phát hiện tổn thương nghi ngờ tái phát ở bệnh nhân ung thư biểu mô vảy cổ tử cung sau điều trị triệt căn. Nghiên cứu mô tả kết hợp tiến cứu và hồi cứu được thực hiện trên 67 bệnh nhân có nghi ngờ tái phát trên lâm sàng và/hoặc cận lâm sàng, được chụp <sup>18</sup>F-FDG PET/CT tại Bệnh viện K. Kết quả ghi nhận 85 tổn thương nghi ngờ tái phát, trong đó 41 tổn thương được xác nhận bằng mô bệnh học, các trường hợp còn lại được đánh giá thông qua theo dõi tối thiểu 6 tháng. <sup>18</sup>F-FDG PET/CT có độ nhạy 96,43%, độ đặc hiệu 77,78% và độ chính xác 93,14% trong phát hiện tái phát; diện tích dưới đường cong ROC đạt 0,87. Tỷ số khả dĩ dương tính (LR+) là 4,34 (KTC 95%: 1,85 – 10,13) và tỷ số khả dĩ âm tính (LR−) là 0,05 (KTC 95%: 0,06 – 0,14). Kết quả cho thấy <sup>18</sup>F-FDG PET/CT là phương pháp có hiệu quả cao trong phát hiện tái phát ung thư cổ tử cung sau điều trị triệt căn, góp phần hỗ trợ định hướng điều trị và theo dõi bệnh nhân.</p>Châu Quỳnh AnhLê Quang HiểnPhạm Lâm SơnNguyễn Quang ToànĐặng Duy CườngPhạm Thị Thu MinhPhạm Văn Thái
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201413114110.52852/tcncyh.v201i4.4974Kết quả sớm ứng dụng indocyanine green trong phẫu thuật nội soi ung thư biểu mô tuyến dạ dày tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4835
<p class="p1">Phẫu thuật nội soi là phương pháp điều trị triệt căn chính trong ung thư dạ dày giai đoạn tại chỗ tại vùng, tuy nhiên việc xác định chính xác diện cắt và thực hiện vét hạch đầy đủ vẫn còn nhiều thách thức đối với phẫu thuật nội soi. Indocyanine green (ICG) gần đây đã được ứng dụng trong phẫu thuật nội soi dạ dày nhằm nâng cao hiệu quả phẫu thuật thông qua việc xác định vị trí khối u và lập bản đồ hạch bạch huyết. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá hiệu quả vét hạch và kết quả sớm của phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày có sử dụng ICG so với phẫu thuật nội soi thông thường. So sánh trên 41 bệnh nhân (21 nhóm ICG, 20 nhóm không ICG) cho thấy nhóm ICG có số lượng hạch vét được cao hơn đáng kể (23,5 so với 17,6; p = 0,038). ICG cũng giúp phát hiện hạch ngoài chặng D2 ở 14,3% trường hợp. Ngoài ra, thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, biến chứng sau mổ và quá trình hậu phẫu giữa hai nhóm có kết quả tương đương nhau. Kết luận: Phẫu thuật nội soi ung thư dạ dày sử dụng ICG là phương pháp an toàn, giúp cải thiện đáng kể số lượng hạch vét được, biến chứng sớm sau phẫu thuật tương đương.</p>Phan Văn LinhNguyễn Ngọc VinhHoàng Thái SơnHoàng Mạnh Thắng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201414215010.52852/tcncyh.v201i4.4835Nghiên cứu mối liên quan giữa Helicobacter pylori mang gen vacA và một số hình thái tổn thương trên nội soi ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4864
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 70 bệnh nhân nội soi tiêu hoá trên chẩn đoán viêm dạ dày mạn tính có nhiễm<em> H. pylori</em> tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 01/2024 đến tháng 2/2025. Kết quả: Về đặc điểm chung, nữ giới chiếm đa số 58,6%, tuổi trung bình là 39,6 ± 12,3, tiền sử hút thuốc lá và sử dụng uống rượu khá thấp, lần lượt là 14,3% và 17,1%, tỷ lệ bệnh nhân có BMI ≥ 23 là 62,9%. Đau vùng thượng vị chiếm 68,6% trường hợp nghiên cứu. Nội soi tiêu hoá trên ghi nhận viêm xung huyết chiếm tỷ lệ cao nhất (70%), tập trung chủ yếu ở hang vị. Tỷ lệ viêm thực quản trào ngược (GERD) tương đối cao (57,1%). Tỷ lệ <em>vacA</em> s1 chiếm ưu thế (100%), trong đó <em>vacA</em> m1 chiếm 42,9% và <em>vacA</em> m2 chiếm 57,1%. Gen <em>vacA</em> s1m1 và BMI ≥ 23 có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng viêm trợt lồi và BMI ≥ 23 là yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc viêm thực quản trào ngược có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).</p>Lâm Phước ThiệnLâm Thị Kim ChiLê Chí Linh Nguyễn Thanh Liêm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201415115810.52852/tcncyh.v201i4.4864Mối liên quan giữa nhiễm Helicobacter pylori và hội chứng ruột kích thích theo tiêu chuẩn ROME IV
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4902
<p class="p1">Hội chứng ruột kích thích (Irritable Bowel Syndrome – IBS) là rối loạn chức năng tiêu hóa thường gặp, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống; tuy nhiên vai trò của nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> trong cơ chế bệnh sinh IBS vẫn còn nhiều tranh cãi. Nghiên cứu bệnh – chứng được thực hiện trên 220 đối tượng có triệu chứng tiêu hóa được nội soi dạ dày và đại tràng tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, gồm 110 bệnh nhân IBS và 110 đối tượng không IBS, nhằm xác định mối liên quan giữa nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> và IBS theo tiêu chuẩn Rome IV. Tình trạng nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> được xác định bằng urease test từ mẫu sinh thiết niêm mạc dạ dày. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> ở nhóm IBS là 61,4%, cao hơn nhóm không IBS (38,6%) (p = 0,008). Phân tích hồi quy logistic đa biến ghi nhận nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> liên quan độc lập với IBS (OR hiệu chỉnh = 2,13; KTC 95%: 1,18 – 3,85; p = 0,01). Nhiễm <em>Helicobacter pylori</em> có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hội chứng ruột kích thích theo tiêu chuẩn Rome IV.</p>Võ Ngọc Đăng ThưLê Văn NhoNguyễn Thanh Liêm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201415916810.52852/tcncyh.v201i4.4902Kết quả phá thai bằng thuốc từ 13 đến 22 tuần của trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4896
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 102 hồ sơ bệnh án của các trẻ vị thành niên đến phá thai tại khoa Điều trị theo yêu cầu Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2020 đến hết tháng 12/2023. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 16,74 ± 2,12 tuổi, trong đó nhóm 17 – 19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (59,8%). Phần lớn trẻ vị thành niên đến phá thai là học sinh, sinh viên (79,4%), chủ yếu có trình độ học vấn trung học cơ sở (45,1%) và đa số sinh sống tại khu vực nông thôn (71,6%). Có 76,5% trường hợp được phá thai bằng phác đồ phối hợp mifepriston và misoprostol. Tỷ lệ đình chỉ thai chung đạt 100%, trong đó 89,2% trường hợp hoàn tất trong vòng 24 giờ sau liều misoprostol đầu tiên. Thời gian sảy thai trung vị khoảng 13 giờ (dao động từ 1 – 60 giờ), và dài hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm tuổi thai 19 – 22 tuần so với nhóm 13 – 18 tuần (p < 0,05). Có 66,7% trường hợp cần can thiệp buồng tử cung sau sảy thai.</p>Nguyễn Thị Bích VânNguyễn Ngọc Minh HảiTrần Quang MạnhPhạm Thị Thu Hiền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201416917610.52852/tcncyh.v201i4.4896Mô tả tình trạng ra máu sau hút thai đến 12 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4805
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 380 phụ nữ hút thai ở tuổi thai tới 12 tuần. Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 32,32 ± 6,95 (18 - 53 tuổi). Tỷ lệ thành công của hút thai đến 12 tuần đạt 98,9%, biến chứng trong hút thai thấp (0,8%). Phần lớn phụ nữ ra máu dưới 7 ngày và lượng máu mất ít. Tỷ lệ tuân thủ thuốc nội tiết sau hút cao, chiếm 72,9%. Có mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc nội tiết sau hút và tình trạng ra máu sau hút thai, khả năng ra máu trên 7 ngày cao hơn ở nhóm quên thuốc. Kỹ thuật hút thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương đạt tỷ lệ thành công cao với tỷ lệ biến chứng thấp; không tuân thủ hoặc quên thuốc làm tăng nguy cơ ra máu kéo dài. Tăng cường các biện pháp nhằm nâng cao tuân thủ sử dụng thuốc tránh thai nội tiết sau thủ thuật, qua đó góp phần giảm nguy cơ ra máu kéo dài sau hút thai.</p>Phạm Duy DuẩnĐinh Huệ QuyênNguyễn Ngọc PhươngHà Duy Tiến
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201417718410.52852/tcncyh.v201i4.4805Nhận xét sự thay đổi số lượng tế bào máu của bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng năm 2023 - 2024
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4920
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu, mô tả theo dõi dọc trên 194 bệnh nhân ≥ 15 tuổi chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue (SXHD) tại Bệnh viện Vinmec Hải Phòng giai đoạn 2023 - 2024. Kết quả cho thấy: Giảm bạch cầu và tiểu cầu gặp ở 89,69% và 94,84% bệnh nhân. Bạch cầu thấp nhất vào ngày 4 (3,24 ± 0,14 G/L), tiểu cầu thấp nhất vào ngày 6 (60,67 ± 46,07 G/L), hematocrit cao nhất vào ngày 6 (0,421 ± 0,003 L/L). Tỷ lệ bạch cầu Lympho không điển hình (KĐH) xuất hiện ở 97,94% bệnh nhân. Nhóm SXHD có dấu hiệu cảnh báo có tỷ lệ lympho KĐH cao hơn (11,76 ± 10,91% so với 9,53 ± 9,93%; p = 0,002) và số lượng tiểu cầu thấp hơn (p < 0,001) so với nhóm SXHD thông thường. Có mối tương quan nghịch mức độ trung bình giữa số lượng tiểu cầu và nồng độ GOT (r = -0,42; p < 0,01). Sự biến đổi các chỉ số tế bào máu tuân theo quy luật động học chặt chẽ. Tỷ lệ Lympho không điển hình có tiềm năng là chỉ dấu hỗ trợ phân loại mức độ bệnh nhưng cần được xác lập điểm cắt tối ưu qua các nghiên cứu tiến cứu.</p>Phạm Thị Thùy NhungVũ Thị Mỹ TrinhTrần Văn ThanhNguyễn Văn LậpNguyễn Hoàng YếnLương Thị DungHoàng Thị Anh ÉnBùi Ngọc HạnhHòa Thị HạnhTrần Thị VượngĐỗ Thị Hoàng Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201418519210.52852/tcncyh.v201i4.4920Kết quả dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da điều trị tắc mật do ung thư
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4926
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả ứng dụng kỹ thuật dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da (DLĐMXGQD) trong điều trị tắc mật do ung thư tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu mô tả loạt ca trên 34 bệnh nhân tắc mật do ung thư được thực hiện DLĐMXGQD từ tháng 3/2023 đến tháng 9/2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 94,2%. Sau can thiệp 1 tuần, nồng độ Bilirubin toàn phần giảm trung bình 40 – 50%, từ 187,6 ± 40 µmol/L xuống 108,8 ± 44 µmol/L (p < 0,001). Các chỉ số men gan (AST, ALT) giảm và tỷ lệ Prothrombin tăng từ 54 ± 9% lên 64 ± 9% (p < 0,001). Tai biến chảy máu đường mật chiếm 3,1%. Biến chứng thường gặp gồm tắc ống dẫn lưu (9,3%), rò mật (6,3%) và nhiễm trùng đường mật (6,3%). Đáng chú ý, 15,6% bệnh nhân rút được ống dẫn lưu sau điều trị ung thư đặc hiệu. Kết luận, dẫn lưu đường mật xuyên gan qua da là phương pháp can thiệp an toàn, hiệu quả trong điều trị tắc mật do ung thư, góp phần cải thiện chức năng gan, toàn trạng và tạo điều kiện cho các điều trị ung thư tiếp theo.</p>Võ Văn KhaHồ Long HiểnTrần Trọng HữuĐặng Quang Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201419320110.52852/tcncyh.v201i4.4926Kết quả khởi phát chuyển dạ bằng ống thông foley và dinoprostone ở thai phụ quá ngày dự sinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4927
<p class="p1">Thai quá ngày có thể gây tử vong đột ngột cho thai nhi mà khó có thể dự đoán trước. Nghiên cứu nhằm so sánh kết quả khởi phát chuyển dạ bằng ống thông Foley và dinoprostone ở 102 thai phụ quá ngày dự sinh. Đánh giá kết quả thành công dựa vào độ mở cổ tử cung, chỉ số Bishop. Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công của nhóm đặt foley là 82,4%; đặt dinoprostone là 86,3%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Nhóm đặt dinoprsotone có tỷ lệ thành công cao trong 12 giờ đầu so với đặt foley (33,4% so 29,4%). Thời gian tính từ khởi phát chuyển dạ đến thành công trung bình ở nhóm dinoprostone thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đặt foley với p < 0,05 với OR= 2,8; khoảng tin cậy 95%: 1,3 - 5,4. Chỉ số Bihsop cũng như tác dụng ngoại ý không có sự khác biệt giữa 2 nhóm. Dinoprotol là sự lựa chọn hàng đầu để khởi phát chuyển dạ ở thai quá ngày sự sinh do có thời gian trung bình đánh giá thành công ngắn và ít tác dụng ngoại ý.</p>Dương Mỹ LinhNguyễn Thị Kim Chi
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201420220810.52852/tcncyh.v201i4.4927Đặc điểm đa hình rs1042034 của gen APOB và tăng cholesterol máu ở người bệnh nguy cơ tim mạch cao và rất cao
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4938
<p class="p1">Dựa trên các dữ liệu về gen di truyền với nồng độ cholesterol máu, nghiên cứu này khảo sát liên quan đa hình rs1042034 của gen <em>APOB</em> với nồng độ cholesterol máu ở bệnh khoẻ mạnh và bệnh có nguy cơ tim mạch cao. Nghiên cứu bệnh–chứng được thực hiện trên 64 bệnh nhân, gồm nhóm chứng khỏe mạnh và nhóm bệnh tăng cholesterol máu có nguy cơ tim mạch cao hoặc rất cao tại Bệnh viện FV từ tháng 05/2025 đến tháng 01/2026. Kiểu gen đa hình rs1042034 được xác định bằng real-time PCR. Kết quả cho thấy tỷ lệ kiểu gen CT ở nhóm bệnh cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (82,4% so với 17,6%; p = 0,002). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai kiểu gen CC và CT với huyết áp tâm thu, chỉ số khối cơ thể, cholesterol toàn phần, triglycerid và HDL-C. Tuy nhiên, nồng độ LDL-C khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai kiểu gen (p = 0,045). Kiểu gen CT của đa hình rs1042034 gen <em>APOB</em> có thể liên quan đến tăng LDL-C, gợi ý tăng nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa.</p>Nguyễn Thị Ngọc BíchPhan Hữu HênĐoàn Thị Kim Châu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201420921710.52852/tcncyh.v201i4.4938Mối liên quan giữa nồng độ D-dimer huyết tương và mức độ nặng của mày đay mạn tính tự phát
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4937
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang trên 146 bệnh nhân mày đay mạn tính tự phát (Chronic Spontaneous Urticaria - CSU) và 30 người lớn khỏe mạnh nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ D-dimer huyết tương với mức độ nặng và một số yếu tố liên quan của bệnh. Kết quả cho thấy nồng độ D-dimer huyết tương của bệnh nhân CSU ở mức 546,5 (291 - 1353) ng/ml, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng 270 (270 - 270) ng/ml với p < 0,001. Nồng độ D-dimer trong huyết tương có mối tương quan đồng biến với điểm UAS7 của bệnh nhân với hệ số tương quan Spearman là 0,46 và p < 0,001. Phân tích ROC xác định nồng độ D-dimer = 633 ng/ml là giá trị dự báo mức độ nặng của CSU. Điều này được khẳng định thêm bằng phân tích hồi quy đơn biến và đa biến. Bên cạnh đó, nồng độ D-dimer cũng liên quan với tuổi, nồng độ CRP và xét nghiệm huyết thanh tự thân dương tính. Như vậy, nồng độ D-dimer huyết tương có thể là dấu ấn sinh học tiềm năng dự báo mức độ nặng của CSU.</p>Phạm Thị ThảoNguyễn Văn ThườngPhạm Thị Minh PhươngVũ Nguyệt MinhLê Hữu DoanhLê Huyền MyNguyễn Quỳnh Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201421822510.52852/tcncyh.v201i4.4937Đánh giá kết quả bước đầu điều trị ung thư khoang miệng giai đoạn III-IV bằng hóa xạ trị đồng thời tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Cần Thơ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4940
<p class="p1">Đánh giá kết quả điều trị bước đầu ung thư khoang miệng bằng hóa xạ trị đồng thời. Phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng trên 36 người bệnh ung thư khoang miệng từ tháng 6/2024 đến tháng 6/2025. Tuổi trung bình là 54,22 ± 8,58. Nam chiếm tỷ lệ 88,9%. Giai đoạn bệnh III 11,1%, 88,9% giai đoạn IV (IVA chiếm 66,7% và IVB là 22,2% người bệnh). Tại thời điểm 3 tháng sau điều trị, 38,9% người bệnh đáp ứng hoàn toàn, 8,3% người bệnh tiến triển và 5,6% người bệnh ổn định. Tỷ lệ sống còn bệnh không tiến triển tại thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 1 năm lần lượt là 100%, 90,8% và 75%. Tỷ lệ sống còn toàn bộ tại thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 1 năm lần lượt là: 100%, 100% và 93,1%. Người bệnh ung thư khoang miệng điều trị bằng hóa xạ trị phối hợp đồng thời kéo dài thời gian sống thêm ở giai đoạn tiến triển tại chỗ tại vùng.</p>Võ Văn KhaTrần Thị Hương LýThị Thanh Hoa Phạm
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201422623510.52852/tcncyh.v201i4.4940Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư phổi sau phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4948
<p class="p1">Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả chất lượng cuộc sống và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư phổi sau phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương năm 2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 70 người bệnh ung thư phổi nguyên phát có chỉ định và được phẫu thuật tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 5 - 9/2025. Bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30 được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống tại thời điểm sau phẫu thuật 6 tháng. Độ tuổi trung bình của người bệnh là 59,2 ± 9,8 tuổi, 57,1% là nữ giới. Đa số người bệnh có chỉ định phẫu thuật được chẩn đoán ung thư giai đoạn I theo TNM (72,9%). Điểm trung bình chất lượng cuộc sống là 82,60 ± 9,78. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy tuổi cao (β = -0,289), sống một mình (β = -7,144) và giai đoạn ung thư II, III (β = -5,308) là các yếu tố có liên quan làm giảm chất lượng cuộc sống. Chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư phổi sau 6 tháng phẫu thuật ở mức khả quan. Nhóm người bệnh lớn tuổi, sống một mình, ở giai đoạn ung thư II, III là nhóm đối tượng có nguy cơ giảm chất lượng cuộc sống.</p>Trịnh Thị HiểuĐinh Văn LượngNguyễn Quốc TuầnNguyễn Phương Hoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201423624410.52852/tcncyh.v201i4.4948Đánh giá tác dụng của viên Khôi tím Bavieco trên mô hình thực nghiệm gây trào ngược dạ dày thực quản bằng chế độ ăn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4955
<p class="p1">Viên Khôi tím Bavieco là chế phẩm được phát triển nhằm hỗ trợ điều trị các bệnh lý dạ dày – thực quản. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tác dụng của viên Khôi tím Bavieco trên mô hình trào ngược dạ dày – thực quản gây ra bởi chế độ ăn ở chuột nhắt trắng chủng <em>Swiss</em>. Chuột được chia thành 5 lô: lô chứng và lô mô hình uống nước cất; các lô còn lại lần lượt được uống esomeprazol 20 mg/kg/ngày, viên Khôi tím Bavieco liều 0,96 viên/kg/ngày và 2,88 viên/kg/ngày trong 7 ngày. Chuột ở các lô từ 2 đến 5 được gây trào ngược dạ dày – thực quản bằng chế độ ăn nhịn cách ngày trong 56 ngày; sau đó dùng thuốc thử trong 7 ngày và đánh giá các chỉ số: thời gian phản ứng và ngưỡng đau thượng vị, pH dịch vị, tổn thương đại thể và vi thể thực quản. Kết quả cho thấy viên Khôi tím Bavieco có xu hướng tăng thời gian phản ứng và ngưỡng đau thượng vị, làm giảm rõ rệt điểm tổn thương đại thể và cải thiện tổn thương vi thể thực quản. Như vậy, viên Khôi tím Bavieco có tác dụng giảm tổn thương trên mô hình trào ngược dạ dày – thực quản do chế độ ăn ở chuột nhắt trắng.</p>Đậu Thùy DươngPhạm Thị Vân AnhPhạm Thanh TùngHoàng Anh TùngĐinh Thị Thu HằngNguyễn Thị Thanh LoanPhạm Mạnh Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201424525510.52852/tcncyh.v201i4.4955So sánh chụp cắt lớp kết quang và chụp mạch vành định lượng trong đánh giá kích thước mạch và tối ưu kỹ thuật đặt stent trong can thiệp động mạch vành
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4951
<p class="p1">Chụp cắt lớp kết quang (optical coherence tomography-OCT) cho phép đánh giá chi tiết cấu trúc lòng mạch, thành mạch hơn chụp mạch vành định lượng (quantitative coronary angiography-QCA), tuy nhiên dữ liệu tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu nhằm so sánh các thông số kích thước mạch giữa OCT và QCA, đồng thời đánh giá vai trò của OCT trong tối ưu hóa kết quả đặt stent. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 160 bệnh nhân với 185 sang thương động mạch vành được can thiệp tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang. Kết quả cho thấy các thông số đo bằng OCT đều lớn hơn so với QCA: đường kính đoạn gần (3,39 ± 0,65 mm so với 3,21 ± 0,64 mm), đoạn xa (2,77 ± 0,65 mm so với 2,65 ± 0,59 mm) và chiều dài tổn thương (37,96 ± 16,46 mm so với 35,13 ± 14,62 mm) (p < 0,001). Các thông số đo bằng hai phương pháp có tương quan thuận (r = 0,628 và r = 0,795; p < 0,001). Từ đó cho thấy OCT cho phép đánh giá chi tiết hình thái mảng xơ vữa và hỗ trợ tối ưu hóa kết quả đặt stent.</p>Trần Minh TrungNguyễn Trung KiênHuỳnh Trung Cang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201425626410.52852/tcncyh.v201i4.4951Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến mảng xơ vữa động mạch vành có vỏ xơ mỏng đánh giá bằng chụp cắt lớp quang học
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4952
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình thái mảng xơ vữa động mạch vành bằng OCT và khảo sát một số yếu tố liên quan đến mảng xơ vữa có vỏ xơ mỏng (TCFA). Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 160 bệnh nhân bệnh động mạch vành với 185 sang thương được đánh giá bằng OCT trong quá trình can thiệp động mạch vành. Tỷ lệ mảng xơ vữa có vỏ xơ mỏng chiếm 15,7%, đồng thời ghi nhận một số đặc điểm mảng xơ vữa nguy cơ cao khác như mảng xơ chiếm tỷ lệ cao nhất (93,5%), tiếp theo là vôi hóa (61,1%) và mảng giàu lipid (32,4%). Tỷ lệ TCFA cao hơn rõ rệt ở nhóm hội chứng động mạch vành cấp so với nhóm hội chứng động mạch vành mạn (40,7% so với 4,0%, p < 0,001) và đây là nguy cơ độc lập với sự xuất hiện của mảng xơ vữa có vỏ xơ mỏng. Từ đó cho thấy OCT đánh giá chi tiết hình thái mảng xơ vữa và phát hiện các đặc điểm mảng dễ tổn thương như TCFA, đồng thời thường gặp ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp.</p>Trần Minh TrungNguyễn Trung KiênHuỳnh Trung Cang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201426527310.52852/tcncyh.v201i4.4952Đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần và hành vi vi phạm pháp luật ở người nghiện ma túy được giám định tại Viện Pháp y Tâm thần Trung ương giai đoạn 2023 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4963
<p class="p1">Sử dụng ma túy trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng gây nhiều hậu quả nghiêm trọng. Nghiên cứu thực hiện với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần và hành vi ở người nghiện ma túy giám định tại Viện Pháp y Tâm thần Trung ương giai đoạn 2023 – 2025. Kết quả nghiên cứu 163 đối tượng cho thấy tỷ lệ sử dụng Methamphetamine là 34,7% và đa chất là 59,5%. Rối loạn hành vi (54%), rối loạn cảm xúc (46%), rối loạn nội dung tư duy (24,5%) và ảo giác (19%). Nhóm sử dụng đa chất có nguy cơ trộm cắp và cướp giật tài sản cao gấp lần lượt là 2,8 (OR = 2,8; p = 0,01) và 4,1 lần so với nhóm đơn chất (OR = 4,1; p = 0,02). Hành vi hành hung và giết người chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng tính chất nguy hiểm cao, đặc biệt đối tượng bị rối loạn tri giác (OR = 2,3; p = 0,04) và tư duy (OR = 2,3; p = 0,02). Nghiên cứu khẳng định lạm dụng ma túy tổng hợp và đa chất gây ra bệnh cảnh tâm thần phức tạp, làm suy giảm khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.</p>Nguyễn Thanh HuyềnNguyễn Trọng KhoaVũ Thị Hoài ThuNguyễn Phương Hoa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201427428510.52852/tcncyh.v201i4.4963Kết quả phẫu thuật điều trị Cholesteatoma bẩm sinh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4899
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả kết quả phẫu thuật Cholesteatoma bẩm sinh ở trẻ em. Phương pháp nghiên cứu theo dõi dọc hồi cứu, 208 bệnh nhi dưới 6 tuổi được chẩn đoán cholesteatoma bẩm sinh tai giữa tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ năm 2019 đến 2024. Kết quả cho thấy, phần lớn bệnh nhân giai đoạn Potsic I–II (83,65%), được mở hòm nhĩ đơn thuần (81,3%).Trong mổ, cholesteatoma thường khu trú ở hòm nhĩ (96,2%) trong đó 78,36% ở góc phần tư màng nhĩ. Không ghi nhận biến chứng sau mổ. Sau mổ 3 tháng, 100% màng nhĩ liền tốt, không ghi nhận tồn dư bệnh tích; Thính lực được đo ở 58 tai cho thấy 68,9% có ngưỡng nghe trung bình (PTA) ≤ 20 dB sau mổ, giảm nhẹ so với trước mổ nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,067). Trong 37BN được theo dõi trên 12 tháng, có 4 BN (10,8%) tồn dư đều ở giai đoạn Potsic IV. Phẫu thuật bảo tồn cholesteatoma bẩm sinh ở trẻ em cho kết quả giải phẫu và chức năng tốt, tỷ lệ tồn dư thấp, đặc biệt hiệu quả ở giai đoạn sớm.</p>Lê Anh TuấnLê Hồng Anh Nguyễn Hoàng HuyĐặng Thị Trâm AnhLê Chung Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201428629410.52852/tcncyh.v201i4.4899Kết cục ngắn hạn sau phẫu thuật viêm ruột thừa cấp ở người lớn: So sánh theo tình trạng biến chứng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4965
<p class="p1">Nghiên cứu này mô tả kết quả phẫu thuật viêm ruột thừa cấp ở người lớn và so sánh các kết cục giữa nhóm có và không có biến chứng tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định. Nghiên cứu quan sát trên 496 bệnh nhân được cắt ruột thừa cấp cứu, có chụp cắt lớp vi tính trước mổ, tư liệu trong mổ và giải phẫu bệnh phù hợp. Kết cục chính gồm thời gian nằm viện, biến chứng 30 ngày, biến chứng Clavien-Dindo độ 2 trở lên và tái nhập viện. Có 200/496 bệnh nhân thuộc nhóm có biến chứng (40,3%). Thời gian nằm viện trung vị ở nhóm này dài hơn nhóm không biến chứng (3,99 so với 2,05 ngày; p < 0,001). Tỷ lệ tái nhập viện cũng cao hơn (6,0% so với 2,0%; p = 0,027). Sau hiệu chỉnh, viêm ruột thừa có biến chứng vẫn liên quan với kéo dài thời gian nằm viện (MR = 1,730; KTC 95%: 1,601-1,869; p < 0,001) và tăng tái nhập viện 30 ngày (OR = 2,988; KTC 95%: 1,143 - 8,525; p = 0,025), nhưng chưa liên quan có ý nghĩa thống kê với biến chứng sau mổ. Viêm ruột thừa có biến chứng làm tăng đáng kể nhu cầu nguồn lực nội trú và nguy cơ tái nhập viện trong 30 ngày sau mổ. Nhóm bệnh nhân này cần được ưu tiên phân tầng chăm sóc hậu phẫu, hướng dẫn nhận biết dấu hiệu cảnh báo và theo dõi sát hơn sau xuất viện.</p>Lê Kim LongLê Nguyên KhôiMai Phan Tường AnhTrịnh Mỹ TrânTrần Minh QuangNguyễn Thị NguyênNguyễn Anh Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201429530210.52852/tcncyh.v201i4.4965Trì hoãn từ chỉ định mổ đến phẫu thuật và tình trạng viêm ruột thừa có biến chứng khi mổ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4976
<p class="p1">Trì hoãn mổ viêm ruột thừa cấp (VRTC) trong trực đêm ở bệnh viện tuyến cuối thường khó tránh, nhưng độ an toàn của trì hoãn ngắn hạn sau chỉ định mổ còn tranh luận. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu này gồm bệnh nhân ≥ 18 tuổi, chẩn đoán bằng CT và được cắt ruột thừa trong cùng đợt nhập viện. Phân tích chính giới hạn ở nhóm CT-không gợi ý biến chứng. Phơi nhiễm là thời gian từ chỉ định mổ đến bắt đầu mổ, phân nhóm < 6 giờ và ≥ 6 giờ. Kết cục chính là viêm ruột thừa cấp có biến chứng dựa trên ghi nhận trong phẫu thuật và/hoặc giải phẫu bệnh. Từ 496 bệnh nhân ban đầu, 358 bệnh nhân vào đoàn hệ phân tích chính. Tỷ lệ biến chứng là 30,3% ở nhóm < 6 giờ và 28,1% ở nhóm ≥ 6 giờ. Trì hoãn ≥ 6 giờ không làm tăng rõ nguy cơ trong mô hình Poisson hiệu chỉnh robust (RR lâm sàng + CT = 1,11; KTC 95%: 0,80 - 1,56). Kết quả nhất quán trong các phân tích độ nhạy. Ở người lớn có CT-không gợi ý viêm ruột thừa cấp biến chứng, trì hoãn ngắn sau chỉ định mổ chưa ghi nhận làm tăng nguy cơ viêm ruột thừa cấp có biến chứng.</p>Lê Kim LongMai Phan Tường AnhPhạm Trí NhânPhạm Phú CườngThái Khánh PhátLê Nguyên KhôiNguyễn Anh Dũng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201430331010.52852/tcncyh.v201i4.4976Mối liên quan giữa hình ảnh cộng hưởng từ với mức độ viêm bao hoạt dịch trong phẫu thuật nội soi hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai đơn thuần
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4984
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang trên 78 bệnh nhân hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai đơn thuần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (07/2024 – 09/2025) nhằm xác định mối liên quan giữa các thông số cộng hưởng từ (CHT) và mức độ viêm bao hoạt dịch trên nội soi. Các thông số CHT gồm khoảng cách mỏm cùng vai–chỏm cánh tay (AHD), góc vai thiết thực (CSA), góc bên mỏm cùng vai (LAA), thể tích khoang dưới mỏm cùng vai (SAV) và chiều dài gai xương. So sánh giữa nhóm viêm nhẹ và vừa–nặng, phân tích hồi quy đa biến và ROC để xác định yếu tố dự đoán. Kết quả ghi nhận 64,1% bệnh nhân viêm bao hoạt dịch vừa–nặng, với AHD thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm viêm nhẹ (6,64 ± 0,67 mm so với 7,10 ± 0,67 mm; p = 0,006). Phân tích hồi quy đa biến xác định AHD là yếu tố độc lập duy nhất (OR = 0,370; p = 0,032), mỗi milimét giảm tăng nguy cơ viêm vừa–nặng 2,7 lần. Ngưỡng AHD ≤ 6,85 mm đạt độ nhạy 79%, độ đặc hiệu 68% (AUC = 0,699; p = 0,004). SAV có giá trị dự đoán nhưng không độc lập. Khoảng cách mỏm cùng vai–chỏm cánh tay cần được ưu tiên đo lường trong đánh giá tiền phẫu thuật.</p>Bùi Huyền TrangNguyễn Văn HọcĐinh Thu HằngNguyễn Văn TuấnNguyễn Duy Hùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201431132210.52852/tcncyh.v201i4.4984Mô tả đau sau mổ và biến cố hậu phẫu ở bệnh nhân phẫu thuật trĩ được gây tê thần kinh thẹn trong phác đồ giảm đau đa mô thức
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4973
<p class="p1">Đau sau phẫu thuật trĩ thường có cường độ cao và ảnh hưởng đến quá trình hồi phục. Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 70 bệnh nhân phẫu thuật trĩ tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025 nhằm mô tả mức độ đau sau mổ khi áp dụng gây tê thần kinh thẹn trong phác đồ giảm đau đa mô thức. Tất cả bệnh nhân được gây tê dưới hướng dẫn siêu âm kết hợp máy kích thích thần kinh ngay sau phẫu thuật. Điểm đau Visual Analog Scale (VAS) tại các thời điểm 0 giờ, 6 giờ, 24 giờ và 48 giờ sau mổ đều dưới 4. Đau hồi quy (rebound pain) cần giảm đau cứu hộ (rescue analgesia) ghi nhận ở 32,9% bệnh nhân, với thời gian trung bình là sau gây tê thần kinh thẹn 11,04 ± 6,19 giờ. Bí tiểu sau mổ gặp ở 35,7% bệnh nhân, buồn nôn hoặc nôn 1,4%. Thời gian nằm viện trung bình 2,14 ± 1,2 ngày, mức độ hài lòng của bệnh nhân cao (9,23 ± 0,7). Kết quả ghi nhận mức độ đau sau mổ thấp, đồng thời không gia tăng đáng kể các biến cố ở bệnh nhân được áp dụng gây tê thần kinh thẹn trong phác đồ giảm đau đa mô thức.</p>Dương Phươn ChinhPhilippe MacaireNguyễn Thị Thu HuyềnTrần Thị Thu HiềnBùi Thị HuyềnLê Thị TuyếtVương Thị Bảo YếnNguyễn Trọng SỹQuách Thị HuyềnTrần Thị XuânMai Văn HiếuQuách Minh Chính
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201432333210.52852/tcncyh.v201i4.4973Kết quả sớm của phẫu thuật nội soi cắt hoàn toàn u trung thất ở Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4996
<p class="p1">Phẫu thuật nội soi cắt hoàn toàn (trọn) u trung thất là phương pháp ít xâm lấn để bóc tách và cắt bỏ khối u lồng ngực. Nghiên cứu hồi cứu 67 ca phẫu thuật nội soi cắt hoàn toàn u trung thất tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch để đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi. Nam giới chiếm 47,8%, u trung thất trước chiếm 53,7% và 62,7% thực hiện phương pháp phẫu thuật nội soi 2 lỗ. Thời gian phẫu thuật trung vị là 80 phút, lượng máu mất trung vị là 50 ml và 9% xảy ra biến chứng (chuyển mổ hở). Thời gian hậu phẫu trung vị là 7 ngày và chịu ảnh hưởng bởi phương pháp phẫu thuật, lượng máu mất trong phẫu thuật.Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt hoàn toàn u trung thất là phương pháp an toàn, hiệu quả. Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp và kiểm soát tốt chảy máu có vai trò quan trọng trong cải thiện kết quả điều trị.</p>Phạm Thanh MinhNguyễn Phúc DiệnHồ Huỳnh Uy Tài
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201433334310.52852/tcncyh.v201i4.4996Liên quan giữa thiếu máu với giai đoạn và Child-Pugh trong ung thư biểu mô tế bào gan nhiễm HBV
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5010
<p class="p1">Đánh giá mối liên quan giữa thiếu máu với giai đoạn và Child - Pugh ở người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) có nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn tính (UTGB). Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 người bệnh UTGB. Tỷ lệ thiếu máu tăng dần 20 - 26% ở Child-Pugh A, 56 - 72% ở Child-Pugh B và 83 - 100% ở Child-Pugh C. Tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo giai đoạn bệnh, với tỷ lệ giảm số lượng HC lần lượt là 23,68% người bệnh giai đoạn A, 33,33% người bệnh giai đoạn B, 42,42% người bệnh giai đoạn C và 100% người bệnh giai đoạn D, p < 0,05. HC, HGB và HCT giảm dần từ Child-Pugh A->C và giai đoạn BCLC A->D (p < 0,05). Tỷ lệ và mức độ thiếu máu tăng theo phân độ Child-Pugh và giai đoạn bệnh trong UTGB, không phụ thuộc tuổi và giới tính. Điều này không đồng thuận với cơ chế kích thích sản xuất hồng cẩu của chất giống erythropoietin tiết ra bởi tế bào ung thư gan và cảnh báo cần mở rộng nghiên cứu để làm rõ tình trạng và tác động của chất giống erythropoietin lên thiếu máu trong UTGB.</p>Nguyễn Thị Hiền HạnhNgô Hoàng AnhNguyễn Thị Mai Ly
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201434435310.52852/tcncyh.v201i4.5010Tương quan và độ phù hợp giữa TcCO₂ và PaCO₂ trong khởi mê nhanh với oxy dòng cao qua mũi ở phẫu thuật cấp cứu
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5018
<p class="p1">Nghiên cứu tiến cứu trên 105 bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu nhằm đánh giá tương quan và độ phù hợp giữa TcCO<sub>2</sub> và PaCO<sub>2</sub> trong khởi mê nhanh có sử dụng oxy dòng cao qua mũi (HFNC). TcCO<sub>2</sub> được theo dõi liên tục và so sánh với PaCO<sub>2</sub> tại các thời điểm trước dự trữ oxy, sau dự trữ oxy và sau giai đoạn ngưng thở. Phân tích thống kê bao gồm tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính và biểu đồ Bland–Altman. Trong giai đoạn ngưng thở, cả PaCO<sub>2</sub> và TcCO<sub>2</sub> đều tăng dần theo thời gian, với tốc độ tăng trung bình lần lượt là 2,07 ± 0,95 mmHg/phút và 1,67 ± 0,63 mmHg/phút. TcCO<sub>2</sub> tương quan với PaCO<sub>2</sub> với r = 0,63 tại các thời điểm trước và sau dự trữ oxy, và r = 0,45 sau giai đoạn ngưng thở (p < 0,001. Phân tích Bland–Altman cho dữ liệu lặp lại cho thấy bias giữa TcCO<sub>2</sub> và PaCO<sub>2</sub> là -0,42 mmHg (KTC 95%: -0,71 đến -0,13), với giới hạn tương đồng từ -4,73 đến 3,88 mmHg; KTC 95% của các giới hạn lần lượt là -5,45 đến -4,01 và 3,16 đến 4,60 mmHg. Kết luận: TcCO<sub>2</sub> có mối tương quan thuận mức độ trung bình với PaCO<sub>2</sub> trong khởi mê nhanh có sử dụng HFNC. Phương pháp này hữu ích để theo dõi xu hướng biến đổi CO<sub>2</sub> máu nhưng chưa thể thay thế khí máu động mạch khi cần độ chính xác cao.</p>Bùi Minh HồngNguyễn Đức Lam
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201435436210.52852/tcncyh.v201i4.5018Kiểu hình trầm cảm và mối liên hệ với khẩu phần 24 giờ ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu điều trị bằng thuốc chống trầm cảm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5032
<p class="p1">Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 250 bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu điều trị ngoại trú trong 6 tháng nhằm mô tả tiến triển kiểu hình triệu chứng và mối liên hệ với khẩu phần 24 giờ. Triệu chứng được đánh giá bằng QIDS-SR16 và khẩu phần bằng hỏi ghi 24 giờ tại 4 thời điểm (T0, T1, T3, T6). Phân tích EFA cho thấy cấu trúc hai nhân tố (điển hình và không điển hình) ổn định theo thời gian; tuy nhiên, kiểu hình không điển hình (tăng ăn, tăng cân, ngủ nhiều) trở nên nổi trội hơn sau 6 tháng dù điểm trầm cảm chung cải thiện. Phân tích GSEM cho thấy điểm QIDS-SR16 liên quan nghịch với năng lượng, protein, glucid, kali và vitamin A, trong khi ở mức tiểu mục xuất hiện các mối liên hệ đặc hiệu và đôi khi trái chiều: triệu chứng mất ngủ, ngủ nhiều và vận động liên quan thuận với glucid, kali và vitamin A; ngủ nhiều liên quan thuận với sắt; mệt mỏi liên quan thuận với canxi và phốt pho. Kết quả nhấn mạnh vai trò của việc theo dõi cấu trúc triệu chứng và can thiệp dinh dưỡng cá thể hóa, đặc biệt ở các biểu hiện liên quan giấc ngủ, vận động và ăn uống.</p>Bùi Xuân MạnhNgô Tích LinhLê Trường Vĩnh PhúcNguyễn Duy Phong
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201436337310.52852/tcncyh.v201i4.5032Đặc điểm dị ứng thuốc qua test lẩy da tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Bạch Mai 2025 - 2026
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5095
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả các đặc điểm dịch tễ học, đặc điểm phân bố của tình trạng dị ứng và kết quả tình trạng dị ứng thuốc thông qua test lẩy da được thực hiện tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 1/1/2025 đến ngày 18/3/2026. Tuổi, giới tính, nhóm thuốc xét nghiệm và phản ứng với thuốc ghi nhận ở test lẩy da là các biến số chính của nghiên cứu. Kết quả cho thấy, trong tổng số 14.151 bệnh nhân tới khám tại Khoa trong thời điểm nghiên cứu, phát hiện được 173 bệnh nhân có tiền sử dị ứng (1,19%), được chỉ định xét nghiệm test lẩy da; trong đó tỷ lệ bệnh nhân dương tính với test lẩy da là 0,09%. Giới nữ được phát hiện có tiền sử dị ứng cao hơn nam giới (p < 0,05); tỷ lệ dị ứng thường được phát hiện ở độ tuổi 18 - 39 tuổi (p < 0,05). Với nhóm bệnh nhân dương tính với test lẩy da, tỷ lệ bệnh nhân dương tính với test lẩy da là 7,5%. Trong cùng một nhóm tuổi, giới nữ sẽ có nguy cơ dị ứng bằng 0,58 lần so với nam; trong cùng nhóm giới tính, không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi, các sự khác biệt này đều không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).</p>Hoàng Ngọc LanVõ Nhật MinhLại Huy Hoàng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201437438210.52852/tcncyh.v201i4.5095Đánh giá hiệu quả khử sắc tố nướu bằng laser Er, Cr: YSGG và diode thông qua chỉ số lâm sàng DOPI, MPI và phân tích màu Pixel - thử nghiệm lâm sàng chia đôi miệng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5101
<p class="p1"><span class="s1">Thử nghiệm lâm sàng chia đôi miệng (split-mouth clinical trial) trên 40 bệnh nhân có tăng sắc tố nướu (DOPI ≥ 1) tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 12/2023 đến tháng 12/2025 nhằm so sánh hiệu quả khử sắc tố nướu giữa laser Er,Cr:YSGG (bên trái) và laser diode (bên phải) thông qua các chỉ số DOPI, MPI và Pixel sau 1 tháng và 3 tháng điều trị. DOPI giảm có ý nghĩa ở cả hai nhóm sau 1 tháng và 3 tháng (p < 0,001), không khác biệt giữa hai nhóm tại mọi thời điểm (p = 0,197 và p = 0,129). Sau 3 tháng, 66,7% nhóm Er, Cr: YSGG và 77,5% nhóm diode đạt DOPI < 1; không có trường hợp DOPI ≥ 2. Chỉ số MPI và giá trị Pixel cải thiện tương đương ở cả hai nhóm, không khác biệt có ý nghĩa thống kê tại mọi thời điểm (p > 0,05). Laser Er, Cr: YSGG và laser diode có hiệu quả khử sắc tố nướu tương đương nhau về các chỉ số lâm sàng DOPI, MPI và Pixel sau 1 tháng và 3 tháng điều trị.</span></p>Trần Huỳnh TrungLê Nguyên LâmPhạm Anh Vũ Thụy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201438339110.52852/tcncyh.v201i4.5101Đặc điểm triệu chứng ống tiêu hóa ở người bệnh rối loạn cơ thể hóa tại Viện Sức khỏe Tâm thần
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5112
<p class="p1">Nghiên cứu với mục tiêu mô tả đặc điểm triệu chứng ống tiêu hóa ở người bệnh rối loạn cơ thể hóa tại Viện Sức khỏe Tâm thần bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang 114 người bệnh rối loạn cơ thể hóa có triệu chứng ống tiêu hóa điều trị ngoại trú và nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2025 đến hết tháng 2/2026. Tỉ lệ nam:nữ là 1:3, tuổi trung bình 50,54 ± 13,91, tuổi và thời gian biểu hiện triệu chứng ống tiêu hóa lần lượt là 46,95 ± 13,14 tuổi và 3,58 ± 2,96 năm. Triệu chứng ống tiêu hóa trên với tỉ lệ > 70%, nôn và triệu chứng tiêu hóa dưới đều có tỉ lệ < 30%. Tỉ lệ táo bón và cảm giác đại tiện không hết phân ở nữ cao hơn nam (p < 0,05).</p>Nguyễn Việt AnhVũ Thy CầmTrần Nguyễn Ngọc
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201439239810.52852/tcncyh.v201i4.5112Đáp ứng điều trị và tác dụng không mong muốn của hóa chất dẫn đầu kết hợp hóa xạ trị trước mổ ung thư trực tràng giữa - dưới tiến triển
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5120
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá đáp ứng điều trị, một số yếu tố liên quan đến đáp ứng và tác dụng không mong muốn của chiến lược điều trị bổ trợ trước toàn bộ gồm hóa chất dẫn đầu FOLFIRINOX và hóa xạ trị với capecitabin trước mổ ở bệnh nhân ung thư trực tràng giữa - dưới tiến triển tại chỗ. Nghiên cứu mô tả có theo dõi dọc, không có nhóm đối chứng, thực hiện trên 85 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện K từ 01/2019 đến 12/2025. Tuổi trung bình là 55,7 ± 10,3; nam giới chiếm 71,8%. Tỷ lệ không còn hình ảnh u trên nội soi sau điều trị là 21,2%. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học đạt 28,2%. Trong phân tích đa biến, chỉ tình trạng khối u trên nội soi sau điều trị liên quan có ý nghĩa với pCR. Độc tính của FOLFIRINOX chủ yếu ở mức độ I-II; độc tính độ ≥ III ghi nhận gồm hạ bạch cầu 2,4%, hạ bạch cầu đa nhân trung tính 11,7%, giảm tiểu cầu 1,2% và thiếu máu 2,4%. Tác dụng không mong muốn khi hoá xạ đồng thời chủ yếu gặp độ I-II. Kết quả cho thấy chiến lược điều trị này có khả năng tạo đáp ứng mô bệnh học hoàn toàn tương đối cao với hồ sơ an toàn chấp nhận được trong thực hành lâm sàng.</p>Nguyễn Văn HùngDương Khắc ĐứcTrần Ngọc DũngTrịnh Lê Huy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201439940710.52852/tcncyh.v201i4.5120Ứng dụng chấm carbon từ tính trong chẩn đoán và điều trị u thần kinh đệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4833
<p class="p1">Ung thư não trong đó có u thần kinh đệm tiến triển nhanh với khả năng hồi phục thấp do khối u xâm lấn, tái phát. Liệu pháp xạ trị, hóa trị và phẫu thuật tồn tại các vấn đề như độc tính, thâm nhập thuốc kém, kháng đa thuốc và cắt bỏ khối u không đầy đủ. Các chấm carbon từ tính (M-CDs) cung cấp nền tảng chẩn trị linh hoạt bởi khả năng thâm nhập hàng rào máu não hiệu quả, phân phối thuốc nhắm mục tiêu và theo dõi hình ảnh thời gian thực. Nghiên cứu tiền lâm sàng sử dụng M-CDs mô phỏng enzym gây độc tính tế bào, đầu dò MRI/huỳnh quang để hướng dẫn phẫu thuật theo hình ảnh thời gian thực, hay chất mang thuốc có kiểm soát. Những thách thức tồn tại như độ an toàn lâu dài, sự không đồng nhất của khối u, tiêu chuẩn hóa và phê duyệt theo quy định để chuyển giao thử nghiệm lâm sàng. M-CDs được xem là triển vọng trong trị liệu nano đối với u thần kinh đệm, với định hướng tích hợp chẩn trị, nhắm trúng đích và hỗ trợ chiến lược y học cá thể hóa; tuy nhiên, các bằng chứng hiện tại vẫn cần được củng cố thêm.</p>Lê Thị HiềnPhan Lê Minh Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201440841910.52852/tcncyh.v201i4.4833Kết quả can thiệp giảm sai sót thuốc trong liệu pháp tiêm tĩnh mạch tại một bệnh viện đa khoa tại Thành phố Hồ Chí Minh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4842
<p class="p1">Nghiên cứu can thiệp so sánh trước - sau được thực hiện trên 45 điều dưỡng tại Bệnh viện tuyến chuyên sâu năm 2024 nhằm đánh giá kết quả chương trình PRIME–JCI trong giảm sai sót thuốc đường tĩnh mạch. Kết quả cho thấy tỷ lệ sai sót thuốc chung giảm đáng kể từ 83,3% xuống 46,7% (p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic cho thấy can thiệp giúp giảm khoảng 5,6 lần nguy cơ xảy ra sai sót (OR = 0,18; p < 0,001). Độ phức tạp của sai sót cải thiện rõ rệt: trước can thiệp có tới 76% hành động không an toàn chứa từ 2 đến 3 lỗi đồng thời, trong khi sau can thiệp 90,5% hành động không an toàn chỉ còn 1 lỗi duy nhất. Tuy nhiên, sai sót kỹ thuật chuẩn bị vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (51,1%). Nghiên cứu kết luận chương trình PRIME–JCI có kết quả tốt trong việc giảm tần suất và mức độ phức tạp của sai sót thuốc trong liệu pháp tĩnh mạch, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết bổ sung các giải pháp can thiệp mang tính hệ thống để giảm các sai sót thuốc.</p>Trần Minh TuấnNguyễn Việt Đăng KhoaLưu Thị BìnhCam Ngọc ThúySái Thị Hồng Thắng Nguyễn Thị ĐiệpNguyễn Trọng KhoaNguyễn Thị Hoài Thu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201442042910.52852/tcncyh.v201i4.4842Kết quả liệu pháp gây xơ hoá bằng cồn tuyệt đối trong điều trị dị dạng tĩnh mạch vùng môi
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4845
<p class="p1">Mục tiêu nhằm đánh giá kết quả điều trị dị dạng tĩnh mạch vùng môi bằng liệu pháp xơ hóa sử dụng cồn tuyệt đối. Nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện trên 58 người bệnh dị dạng tĩnh mạch vùng môi, can thiệp dưới hướng dẫn siêu âm tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 1/2023 đến 1/2025. Kết quả sau 6 tháng cho thấy hiệu quả khả quan với 74,1% trường hợp đạt mức cải thiện lâm sàng tốt và rất tốt, đồng thời 75,8% người bệnh giảm trên 50% thể tích ổ dị dạng trên cộng hưởng từ. Phân tích hồi quy xác định các yếu tố hình thái khu trú, bờ giới hạn rõ và phân loại Puig I-II có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với đáp ứng điều trị tích cực (p < 0,05). Về tính an toàn, biến chứng nghiêm trọng như hoại tử da khu trú chiếm 5,2% và không ghi nhận biến chứng toàn thân. Tóm lại, liệu pháp xơ hóa bằng cồn tuyệt đối là phương pháp can thiệp ít xâm lấn an toàn và hiệu quả, giúp bảo tồn tối đa thẩm mỹ và chức năng vùng mặt.</p>Lâm Thảo CườngNguyễn Đình Phát
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201443043810.52852/tcncyh.v201i4.4845Mối liên quan giữa sự thay đổi thể tích khối u trên cắt lớp vi tính sau điều trị hóa chất với đặc điểm mô bệnh học ở bệnh nhân u nguyên bào thận
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4851
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu 34 bệnh nhi u nguyên bào thận điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương giai đoạn 2022 - 2024 nhằm đánh giá mối liên quan giữa thay đổi thể tích u trên CT (Volume Reduction Rate, VRR) và đặc điểm mô bệnh học sau phẫu thuật. Kết quả trung vị thể tích u giảm 35,7% và mức độ hoại tử trung vị 40,0%. Có sự khác biệt giữa các thể mô bệnh học về VRR (p = 0,038) và mức độ hoại tử (p < 0,001). Thể thoái triển có xu hướng giảm thể tích đi kèm mức độ hoại tử cao. Thể mô đệm ghi nhận mức độ hoại tử thấp và thể tích ít thay đổi hoặc tăng. Ở nhóm hoại tử hoàn toàn, thể tích u gia tăng mạnh có thể do hiện tượng chảy máu nội u và hoại tử lỏng. Thay đổi thể tích u trên CT không phản ánh đầy đủ đáp ứng vi thể, cần được diễn giải thận trọng cùng thay đổi cấu trúc trên hình ảnh và mô bệnh học nền tảng.</p>Nguyễn Thị Mai ThủyĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201443944810.52852/tcncyh.v201i4.4851Một số đặc điểm lâm sàng và cắt lớp vi tính của bệnh nhân u thận trẻ em được phẫu thuật
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4852
<p class="p1">Mặc dù u Wilms là khối u thận phổ biến nhất ở trẻ em, nhóm u thận khác Wilms (non-Wilms tumor, NWT) đang ngày càng được ghi nhận nhiều hơn trong y văn. Nghiên cứu hồi cứu thực hiện trên 66 bệnh nhân phẫu thuật u thận tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/2022 đến 12/2024. U Wilms chiếm 72,7% và NWT chiếm 27,3%. Phân bố nhóm tuổi khác biệt giữa hai nhóm (p < 0,001), trong đó u Wilms gặp chủ yếu ở nhóm 6 tháng - 5 tuổi (87,5%). Lý do vào viện thường gặp nhất là phát hiện tình cờ qua siêu âm (33,3%) và sờ thấy khối u (22,7%), không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. Trên cắt lớp vi tính (CT), vôi hóa trong u (p = 0,014) và hạch ổ bụng > 10 mm (p = 0,004) gặp nhiều hơn ở nhóm NWT. Trong bối cảnh triệu chứng lâm sàng ban đầu ít đặc hiệu, nhóm tuổi cùng một số dấu hiệu CT như vôi hóa và hạch to ổ bụng có thể gợi ý chẩn đoán phân biệt giữa u Wilms và NWT trước phẫu thuật.</p>Nguyễn Thị Mai ThủyĐỗ Văn Khang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201444945810.52852/tcncyh.v201i4.4852Tình hình thiếu cơ và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa lọc máu giai đoạn 3 – 4 tại Bệnh viện Vạn Hạnh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4854
<p class="p1">Thiếu cơ là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa lọc máu, làm gia tăng nguy cơ nhiều biến cố bất lợi nhưng chưa được quan tâm nhiều trong thực hành lâm sàng. Đồng thời, dữ liệu về tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố liên quan độc lập tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu của chúng tôi được thiết kế mô tả cắt ngang trên 70 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn 3 đến 4 tại Bệnh viện Vạn Hạnh. Thiếu cơ được chẩn đoán theo tiêu chuẩn AWGS 2019 dựa trên khối lượng cơ đo bằng DXA, lực bóp tay và tốc độ đi bộ. Tỷ lệ thiếu cơ là 15,7%, trong đó thiếu cơ nặng chiếm 4,3%. Giảm sức cơ là thành phần gặp nhiều nhất với tỷ lệ 47,1%, tiếp theo là giảm hiệu suất hoạt động thể chất 25,7% và giảm khối lượng cơ 22,9%. Phân tích đa biến cho thấy giới nam, sử dụng corticoid kéo dài và đái tháo đường là các yếu tố liên quan độc lập với thiếu cơ (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy thiếu cơ là tình trạng khá phổ biến ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa lọc máu giai đoạn 3-4. Do đó, cần có chiến lược sàng lọc hiệu quả và quản lý thiếu cơ sớm, đặc biệt trên nhóm bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ.</p>Lê Văn NhâmVõ Thanh HùngNguyễn Như Nghĩa
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201445947010.52852/tcncyh.v201i4.4854Tỷ lệ sống sót và biến chứng của phục hình cố định bắt vít trên implant ở bệnh nhân mất răng toàn bộ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4806
<p class="p1">Tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tỷ lệ sống sót, các biến chứng và phân tích các yếu tố liên quan đến nguy cơ nứt gãy phục hình cố định toàn bộ bắt vít trên implant. Nghiên cứu hồi cứu thuần tập được thực hiện trên 58 bệnh nhân mất răng toàn bộ 1 hoặc 2 hàm, được phục hình 78 hàm cố định toàn bộ bắt vít trên tổng số 373 implant trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024. Kết quả tỷ lệ sống sót của phục hình đạt 92,3% và của implant đạt 99,8%. Biến chứng sinh học thường gặp nhất là viêm niêm mạc quanh implant (10,46% số implant), viêm quanh implant gặp với tỷ lệ 0,5%. Biến chứng cơ học hay gặp là lỏng vít (24,1%) và nứt gãy phục hình (7,7%), trong đó nứt gãy xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân được phục hình cả hai hàm.</p>Nguyễn Khánh LongĐoàn Đức TiếnChu Quang Khánh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201447148110.52852/tcncyh.v201i4.4806Giá trị mức dịch túi cùng Douglas trên siêu âm trong đánh giá lượng máu mất ở bệnh nhân thai ngoài tử cung phẫu thuật
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4872
<p class="p1">Trong phẫu thuật thai ngoài tử cung, ước lượng lượng máu mất và tiên đoán nhu cầu truyền máu có vai trò quan trọng trong chuẩn bị nguồn lực và xử trí kịp thời. Nghiên cứu mô tả, hồi cứu được thực hiện trên 65 bệnh nhân tại Bệnh viện Sản Nhi Hậu Giang từ 01/2024 đến 03/2024 nhằm đánh giá giá trị của mức độ dịch túi cùng Douglas trên siêu âm trong phân loại mất máu và chỉ định truyền máu. Tỷ lệ mất máu > 500 mL là 36,9%. Lượng máu mất trung vị tăng từ 200 mL ở nhóm không có dịch lên 1500 mL ở nhóm có nhiều dịch, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Mức độ dịch túi cùng Douglas dự báo mất máu > 500 mL và nhu cầu truyền máu với AUC lần lượt 0,89 và 0,96. Nhóm có nhiều dịch đạt độ đặc hiệu 100% trong dự báo mất máu nặng. Kết quả cho thấy mức độ dịch túi cùng Douglas có giá trị cao trong phân tầng nguy cơ, hỗ trợ quyết định truyền máu và can thiệp ngoại khoa khẩn cấp.</p>Đỗ Trung KiênHuỳnh Thanh Phong
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201448249010.52852/tcncyh.v201i4.4872Giá trị của mô hình RF‑CL trong dự báo tắc nghẽn động mạch vành trên chụp cắt lớp vi tính động mạch vành ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4881
<p class="p1"><span class="s1">Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 331 bệnh nhân đau thắt ngực ổn định (ĐTNÔĐ) được chụp cắt lớp vi tính (CLVT) động mạch vành (ĐMV) nhằm đánh giá khả năng phân định và hiệu chỉnh của mô hình xác suất lâm sàng có trọng số theo yếu tố nguy cơ (RF-CL) trong dự báo tắc nghẽn ĐMV. Tuổi trung vị của mẫu nghiên cứu là 65,5 (IQR: 57,7 – 73) năm, 61,9% là nam giới. Tỷ lệ tắc nghẽn ĐMV là 72,8%, phản ánh đặc điểm của quần thể nguy cơ cao được chỉ định chụp CLVT ĐMV trong thực hành lâm sàng. Tỷ lệ tắc nghẽn ĐMV tăng dần theo các mức RF-CL nguy cơ rất thấp (≤ 5%), thấp (>5 – 15%) và trung bình (>15 – 50%) (tương ứng là 47,4%; 64,2%; 86,9%). Mô hình RF-CL cho khả năng phân biệt khá với diện tích dưới đường cong ROC = 0,746 (95% KTC: 0,686 – 0,805; p < 0,001). Ở ngưỡng RF-CL 5%, mô hình có độ nhạy 88,8% và độ đặc hiệu 33,3%, trong khi ở ngưỡng 15%, độ nhạy là 60,6%, độ đặc hiệu 75,6%. Mô hình RF-CL có hiệu chỉnh tốt (p Hosmer–Lemeshow = 0,317). So với nhóm nguy cơ rất thấp, nhóm thấp và trung bình có tỷ số chênh tắc nghẽn ĐMV cao hơn lần lượt khoảng 3,7 và 7,4 lần. Kết quả nghiên cứu gợi ý RF-CL có thể hữu ích trong phân định và phân tầng nguy cơ tắc nghẽn ĐMV ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được chụp CLVT ĐMV, tuy nhiên cần được xác nhận thêm trong các nghiên cứu lớn hơn.</span></p>Hoàng Huy TrườngĐặng Duy PhươngTrần Cao QuốcĐỗ Văn Bửu Đan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201449150110.52852/tcncyh.v201i4.4881Kết quả điều trị dài hạn bệnh viêm não tự miễn kháng thụ thể N-methyl-D-aspartate ở trẻ em
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4903
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 61 bệnh nhi chẩn đoán viêm não tự miễn kháng thụ thể N-methyl-D-aspartate (NMDA) tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 1/2019 đến tháng 8/2021, theo dõi đến tháng 5/2025, nhằm đánh giá kết quả điều trị dài hạn. Tuổi khởi phát trung vị là 7 (IQR: 4 - 10) tuổi, nữ chiếm 59%. Ở giai đoạn toàn phát, các triệu chứng thường gặp gồm rối loạn hành vi (93,4%), suy giảm nhận thức (77,0%) và rối loạn giấc ngủ (75,4%). Có 98,4% bệnh nhân được điều trị liệu pháp miễn dịch bậc một và 14,8% phối hợp liệu pháp miễn dịch bậc hai. Sau thời gian theo dõi trung bình 59,8 tháng, 91,8% bệnh nhân có kết quả tốt (mRS ≤ 2), 8,2% tái phát và 1 trường hợp tử vong (1,6%). Có 36,1% bệnh nhân mắc động kinh, trong đó 77,2% kiểm soát được cơn và đã ngừng thuốc kháng động kinh tại thời điểm theo dõi cuối. Viêm não tự miễn kháng thụ thể NMDA ở trẻ em có biểu hiện lâm sàng đa dạng, tiên lượng dài hạn tốt nếu được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời.</p>Nguyễn Thị Bích VânCao Vũ HùngVũ Thu PhươngVũ Thị DuyênĐào Thị Nguyệt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201450250810.52852/tcncyh.v201i4.4903Mối liên quan giữa hình dạng khuôn mặt với răng cửa giữa hàm trên và cung răng sử dụng hệ thống quét mặt và quét miệng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4911
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm đánh giá sự phân bố của hình dạng khuôn mặt và mối liên quan giữa hình dạng khuôn mặt với răng cửa giữa hàm trên và cung răng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 80 sinh viên người Việt (40 nam và 40 nữ) độ tuổi từ 18 - 25. Tiến hành khám sàng lọc, quét miệng, quét mặt và đo đạc, phân tích mẫu hàm số hóa và tập tin quét mặt của đối tượng nghiên cứu. Khuôn mặt, răng và cung răng được chia thành 3 dạng: hình vuông, hình ô van và hình tam giác. Khuôn mặt hình ô van chiếm tỷ lệ cao nhất (75%), khuôn mặt hình tam giác chiếm tỷ lệ thấp nhất (6,25%) và không có sự khác biệt về phân bố hình dạng giữa hai giới. Tỷ lệ đồng dạng bộ 3 hình dạng khuôn mặt, răng cửa giữa hàm trên và cung răng là 25% (hình ô van: 23,75% và hình vuông: 1,25%).</p>Phạm Nguyên QuânVõ Phi HiếuNguyễn Thị Kim Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201450951610.52852/tcncyh.v201i4.4911Đặc điểm nội soi và kết quả điều trị Helicobacter pylori bằng phác đồ PALB ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4919
<p class="p1">Viêm loét dạ dày tá tràng do <em>Helicobacter pylori</em> (<em>H. pylori</em>) là bệnh lý tiêu hóa phổ biến, việc nhận diện đặc điểm nội soi và đánh giá hiệu quả phác đồ PALB có ý nghĩa trong tối ưu hóa điều trị. Nghiên cứu mô tả cắt ngang theo dõi dọc được thực hiện trên 96 bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có nhiễm <em>H. pylori</em> nhằm khảo sát đặc điểm nội soi và đánh giá kết quả tiệt trừ <em>H. pylori</em> bằng phác đồ PALB tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh. Kết quả cho thấy nội soi ghi nhận tổn thương thường gặp là viêm trợt phẳng kèm viêm teo (38,5%) và viêm sung huyết kèm viêm teo (27,1%), loét chủ yếu nhiều ổ (95,8%) và kích thước 5 – 10 mm (65,6%). Sau điều trị, cải thiện lâm sàng chung đạt 81,2%, nổi bật là giảm đau bụng (96,9%). Tỷ lệ tiệt trừ <em>H. pylori</em> đạt 67,7% với tác dụng phụ là mệt mỏi, buồn nôn và đau đầu. Đa số bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt (77,1%). Tỷ lệ tiệt trừ H. pylori thành công ở nhóm tuân thủ tốt cao hơn rõ rệt so với nhóm tuân thủ kém (78,4% so với 31,8%), p < 0,001.</p>Huỳnh Thị ThảoThái Thị Hồng Nhung
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201451752610.52852/tcncyh.v201i4.4919Phẫu thuật tạo hình loét tỳ đè cung cụt độ III-IV: Lựa chọn vạt tại chỗ và kết quả phẫu thuật trên 26 bệnh nhân
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4943
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá kết quả tạo hình che phủ loét tì đè vùng cùng cụt độ III–IV và vai trò lựa chọn vạt theo đặc điểm tổn thương. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, thực hiện trên 26 bệnh nhân tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ 11/2024 - 11/2025. 73% trường hợp loét độ IV, Kích thước tổn khuyết trung bình 9 × 13 cm. 81% bệnh nhân có tổn khuyết sau cắt lọc lộ xương và có khoang rỗng được tạo hình bằng 12 bệnh nhân sử dụng 14 vạt mạch xuyên dạng VY da cơ (2 bệnh nhân sử dụng 2 vạt tạo hình), 9 bệnh nhân sử dụng sử dụng 15 vạt xoay da cơ mông lớn (6 bệnh nhân sử dụng 2 vạt tạo hình). 5 bệnh nhân có tổn khuyết không lộ xương và không có khoang rỗng tạo hình bằng 2 vạt xoay da cân tại chỗ và 4 vạt mạch xuyên da cân (1 bệnh nhân sử dụng 2 vạt). Sau phẫu thuật, 100% vạt sống hoàn toàn, 81% vết mổ liền thương tốt. Có 5 bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ cần phẫu thuật lại. Thời gian liền thương trung bình là 18 ngày. Không ghi nhận trường hợp loét tái phát sau 6 tháng. Phẫu thuật tạo hình che phủ bằng các vạt tại chỗ là phương pháp hiệu quả trong điều trị loét tì đè vùng cùng cụt độ III–IV. Lựa chọn vạt phù hợp với hình thái tổn khuyết có vai trò quan trọng trong kết quả điều trị.</p>Dương Mạnh ChiếnLê Trung ThànhNguyễn Ngọc Linh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201452753510.52852/tcncyh.v201i4.4943Tình hình và yếu tố liên quan đến nhiễm Trichomonas vaginalis ở phụ nữ khám phụ khoa tại Trung tâm Y tế Cẩm Mỹ năm 2025 - 2026
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4949
<p class="p1"><em>Trichomonas vaginalis</em> là một tác nhân thường gặp gây viêm nhiễm đường sinh dục. Nghiên cứu cắt ngang trên 263 phụ nữ khám phụ khoa tại Trung tâm Y tế Cẩm Mỹ từ 06/2025 đến 01/2026 nhằm khảo sát tỷ lệ nhiễm và một số yếu tố liên quan đến nhiễm <em>Trichomonas vaginalis</em>. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm <em>Trichomonas vaginalis</em> là 7,6%. Phân tích đa biến ghi nhận thụt rửa âm đạo (aOR = 35,8; KTC 95%: 8,51 – 151,18; p < 0,001), không vệ sinh khi quan hệ (aOR = 9,58; KTC 95%: 2,19 – 41,84; p = 0,003), cổ tử cung viêm đỏ (aOR = 9,44; KTC 95%: 1,63 – 54,60; p = 0,012) và bạch cầu nhuộm soi dịch âm đạo kết quả 3+ (aOR = 3,89; KTC 95%: 1,03 – 14,70; p = 0,045) là các yếu tố liên quan độc lập với nhiễm <em>Trichomonas vaginalis</em>. Ngược lại, khí hư vàng xanh, có bọt và nhiễm HIV không ghi nhận mối liên quan trong mô hình đa biến. Tóm lại, <em>Trichomonas vaginalis</em> có tỷ lệ nhiễm 7,6% ở phụ nữ khám phụ khoa. Một số yếu tố hành vi, lâm sàng và xét nghiệm, đặc biệt là thụt rửa âm đạo, không vệ sinh khi quan hệ, cổ tử cung viêm đỏ và bạch cầu nhuộm soi dịch âm đạo 3+, có liên quan độc lập với nhiễm <em>Trichomonas vaginalis</em>, góp phần định hướng chỉ định xét nghiệm vi sinh phù hợp.</p>Nguyễn Thị Kim HàVũ Đăng KhoaNguyễn Thị ThưTrần Khánh Nga
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201453654310.52852/tcncyh.v201i4.4949Mối liên quan giữa các biểu hiện mạch máu ngoại biên với tăng áp phổi ở người bệnh xơ cứng bì toàn thể
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4989
<p class="p1">Các biểu hiện mạch máu ngoại biên như hiện tượng Raynaud và loét ngón được cho là có cùng cơ chế bệnh sinh với tổn thương mạch máu phổi ở người bệnh xơ cứng bì toàn thể (Systemic sclerosis, SSc). Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 143 người bệnh này nhằm mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ tăng áp phổi (Pulmonary hypertension, PH) và (2) Xác định mối liên quan giữa các biểu hiện mạch máu với PH ở người bệnh SSc. Người bệnh PH được xác định trên siêu âm tim khi áp lực động mạch phổi tâm thu > 35 mmHg. Kết quả cho thấy tỷ lệ PH ghi nhận qua siêu âm tim là 18,9%. Nhóm có PH có tỷ lệ hiện tượng Raynaud (96,3% so với 80,2%, p = 0,047) và mất ngón (25,9% so với 6,0%, p = 0,005) cao hơn rõ rệt so với nhóm không có PH. Phân tích hồi quy đa biến xác định mất ngón là yếu tố nguy cơ độc lập của PH với OR = 6,851 (KTC 95%: 1,846 - 25,426; p = 0,004). Nghiên cứu cho thấy cần tầm soát PH ở những người bệnh có tổn thương mạch máu ngoại vi nặng.</p>Trần Ngọc Hữu ĐứcNguyễn Đình KhoaNguyễn Hoàng Thanh Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201454455210.52852/tcncyh.v201i4.4989Giải phẫu mạch máu tuyến thượng thận trên phim chụp mạch và ứng dụng trong lấy máu tĩnh mạch thượng thận
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5015
<p class="p1">Tuyến thượng thận là tuyến nội tiết nằm ở cực trên của mỗi thận, có vai trò quan trọng trong điều hòa huyết áp, cân bằng điện giải và đáp ứng stress thông qua việc bài tiết các hormon như aldosterone, cortisol và catecholamin. Cơ quan này có lưu lượng máu phong phú với nhiều nhánh nhỏ cấp máu xuất phát từ ba nguồn chính gồm động mạch thượng thận trên, giữa và dưới; ngược lại, hệ tĩnh mạch dẫn lưu thường chỉ gồm một tĩnh mạch chính ở mỗi bên. Hiểu biết về giải phẫu mạch máu tuyến thượng thận không chỉ có ý nghĩa trong phẫu thuật và can thiệp mạch, mà còn đóng vai trò then chốt trong các phương pháp chẩn đoán chức năng tuyến thượng thận. Trong bối cảnh các rối loạn tăng tiết hormon, đặc biệt là cường aldosterone nguyên phát, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh đơn thuần thường không phản ánh chính xác tình trạng bài tiết hormon của từng tuyến. Lấy máu tĩnh mạch thượng thận là một phương pháp cho phép đánh giá trực tiếp hoạt động tiết hormon của mỗi bên, góp phần phân loại bệnh và định hướng điều trị phù hợp. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mô tả đặc điểm giải phẫu mạch máu tuyến thượng thận trên phim chụp mạch và phân tích vai trò ứng dụng của các đặc điểm giải phẫu đó trong thực hiện lấy máu tĩnh mạch thượng thận, từ đó giúp nâng cao tỷ lệ thành công của thủ thuật và tối ưu hóa giá trị chẩn đoán trong thực hành lâm sàng.</p>Trần Quốc HoàNguyễn Ngọc ÁnhLê Văn DũngNguyễn Văn HuyChu Văn Tuệ BìnhNguyễn Thị ĐịnhNgô Thành ÝTrần Xuân Quang
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201455356110.52852/tcncyh.v201i4.5015Tổng quan vai trò tiên lượng của siêu âm tim, phổi và cơ hoành trong cai thở máy ở bệnh nhân hồi sức
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4904
<p class="p1">Cai thở máy là giai đoạn quan trọng trong điều trị bệnh nhân hồi sức, trong đó thất bại rút nội khí quản liên quan đến tăng biến chứng và tử vong. Cơ chế thất bại thường là kết quả của tương tác đa yếu tố giữa rối loạn huyết động, mất thông khí – phù phổi và suy giảm chức năng cơ hô hấp. Bài tổng quan này tổng hợp các bằng chứng về vai trò của siêu âm tim, phổi và cơ hoành trong tiên lượng kết quả cai thở máy. Siêu âm tim giúp phát hiện tăng áp lực đổ đầy thất trái; siêu âm phổi phản ánh tình trạng mất thông khí và ứ dịch; trong khi siêu âm cơ hoành đánh giá dự trữ co cơ hô hấp. Cách tiếp cận siêu âm đa cơ quan (tim – phổi – cơ hoành) là một hướng tiếp cận tiềm năng, đặc biệt ở bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh tim mạch, sau phẫu thuật lớn hoặc thở máy kéo dài, với chiến lược đánh giá động trước, trong SBT và sau rút ống. Tuy nhiên, do chưa có mô hình chuẩn hóa và sự khác biệt giữa các nghiên cứu, việc áp dụng cần gắn với đào tạo, chuẩn hóa kỹ thuật và tích hợp lâm sàng. Cần thêm các nghiên cứu tiến cứu, đa trung tâm để xác định vai trò của từng chỉ số trong các nhóm bệnh cụ thể.</p>Trần Việt ĐứcVũ Hoàng PhươngTrần Thị LoanNguyễn Hữu Tú
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201456257510.52852/tcncyh.v201i4.4904Nghiên cứu độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của viên nang cứng Gout Care trên chuột nhắt trắng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5004
<p class="p1">Viên nang cứng Gout Care được bào chế từ các dược liệu gồm Tần giao, Khương hoạt, Phòng phong, Thiên ma, Độc hoạt và Xuyên khung. Nghiên cứu này nhằm đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của chế phẩm trên chuột nhắt trắng chủng <em>Swiss</em>. Trong thử nghiệm độc tính cấp, chuột được cho uống chế phẩm với liều tăng dần để xác định liều tối đa không gây chết và liều thấp nhất gây chết 100% chuột. Kết quả cho thấy, chuột uống liều cao nhất có thể (50 viên/kg) không xuất hiện độc tính cấp và không có chuột nào chết. Trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn 28 ngày, chuột được chia thành lô chứng và lô dùng chế phẩm với liều 0,96 và 2,88 viên/kg/ngày. Sau 4 tuần, các chỉ số về tình trạng chung, cân nặng, huyết học, sinh hóa, khảo sát đại thể các cơ quan và vi thể gan, thận không ghi nhận bất thường. Như vậy, viên nang cứng Gout Care không gây độc tính cấp tính và độc tính bán trường diễn trên chuột nhắt trắng chủng <em>Swiss</em> ở các mức liều nghiên cứu.</p>Đậu Thùy DươngPhạm Thị Vân Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201457658510.52852/tcncyh.v201i4.5004Nghiên cứu tác dụng của viên nang cứng Dạ dày Phương Đông trên mô hình gây trào ngược dạ dày thực quản thực nghiệm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5116
<p class="p1">Dạ dày Phương Đông là một sản phẩm chứa các dược liệu được phát triển để điều trị các rối loạn dạ dày – thực quản. Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng của viên nang cứng Dạ dày Phương Đông (DDPĐ) trên động vật thực nghiệm. Chuột cống trắng chủng <em>Wistar</em> được chia làm 5 lô: lô chứng sinh học, lô mô hình, lô uống esomeprazol, lô uống DDPĐ liều 0,48 viên/kg/ngày và lô uống DDPĐ liều 1,44 viên/kg/ngày trong 7 ngày. Sau khi uống liều thuốc cuối cùng 1 giờ, chuột ở các lô 2 đến 5 được uống indomethacin 40 mg/kg. Sau 2h, gây mê chuột và tiến hành phẫu thuật thắt dạ dày ở 2 vị trí: vị trí 1 là nơi giao giữa đáy vị và thân vị, vị trí 2 là môn vị. 6h sau đó, gây mê chuột và tiến hành đánh giá: thể tích, pH, độ acid tự do và độ acid toàn phần của dịch vị; tổn thương đại thể và vi thể thực quản; định lượng GSH, MDA thực quản. Kết quả cho thấy viên nang cứng DDPĐ có tác dụng làm giảm tổn thương đại thể và vi thể thực quản và có tác dụng chống oxy hoá trên mô hình gây trào ngược dạ dày thực quản.</p>Phạm Thị Vân AnhNguyễn Việt TiếnTrần Quỳnh TrangVũ Phương NgọcLê Thị PhươngĐậu Thùy Dương
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201458659710.52852/tcncyh.v201i4.5116Tác dụng bảo vệ gan của dung dịch uống Ích can thanh trên mô hình thực nghiệm gây viêm gan bằng ethanol
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4908
<p class="p1">Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ gan của dung dịch uống Ích can thanh trên mô hình chuột nhắt trắng <em>Swiss</em> gây tổn thương gan bằng ethanol. Chuột được uống ethanol hằng ngày với nồng độ tăng dần theo từng tuần (10%, 20%, 30%, 40%); một giờ sau đó, chuột được uống nước cất, Ích can thanh hoặc silymarin liên tục trong 4 tuần. Các chỉ số đánh giá bao gồm cân nặng chuột, khối lượng gan; hoạt độ AST, ALT, GGT; nồng độ albumin và bilirubin toàn phần trong huyết thanh; hàm lượng malondialdehyd và glutathion trong mô gan, đồng thời đánh giá hình ảnh vi thể gan. Kết quả cho thấy Ích can thanh liều 4,8 mL/kg/ngày có xu hướng thể hiện tác dụng bảo vệ gan trên mô hình tổn thương gan do ethanol. Ở liều 9,6 mL/kg/ngày, Ích can thanh cho thấy hiệu quả bảo vệ gan, thể hiện qua việc tăng cân nặng chuột, giảm khối lượng gan, giảm hoạt độ các enzym gan và giảm stress oxy hóa tại gan so với lô mô hình (p < 0,05), đồng thời cải thiện cấu trúc vi thể gan. Như vậy, dung dịch uống Ích can thanh liều 9,6 mL/kg/ngày có tác dụng bảo vệ gan trên mô hình tổn thương gan do ethanol.</p>Trần Thanh TùngNguyễn Thị Thanh Loan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201459860710.52852/tcncyh.v201i4.4908Tác dụng bảo vệ của S-Men trên chuột nhắt đực bị gây suy giảm sinh sản bằng natri valproat
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4921
<p class="p1">Nghiên cứu đánh giá tác dụng bảo vệ của S-Men trên mô hình suy giảm chức năng sinh sản gây ra bởi natri valproat (NVP) ở chuột nhắt đực chủng <em>Swiss</em>. Chuột được uống NVP liều 500 mg/kg/ngày trong 5 tuần, đồng thời điều trị bằng S-Men ở hai mức liều 1096 mg/kg/ngày và 2192 mg/kg/ngày. Kết quả cho thấy S-Men giúp cải thiện rõ rệt các rối loạn do NVP gây ra, đặc biệt ở liều 2192 mg/kg/ngày. Cụ thể, S-Men làm tăng nồng độ testosteron huyết thanh, cải thiện số lượng và tỷ lệ tinh trùng có hình thái bình thường, đồng thời tăng cường trọng lượng các cơ quan sinh dục. Bên cạnh đó, S-Men giúp tăng khả năng chống oxy hóa tại tinh hoàn thông qua việc cải thiện các chỉ số MDA và GSH. Mặc dù cấu trúc mô học tinh hoàn chưa phục hồi hoàn toàn, các chỉ số chức năng sinh sản đã có sự cải thiện đáng kể. Nhìn chung, S-Men thể hiện tác dụng bảo vệ và cải thiện chức năng sinh sản ở chuột nhắt đực bị suy giảm sinh sản do natri valproat, chủ yếu thông qua việc cải thiện trục nội tiết sinh dục, tăng chất lượng tinh trùng, tăng cường khả năng chống oxy hóa tại tinh hoàn, hiệu quả bảo vệ rõ rệt hơn ở liều 2192 mg/kg/ngày.</p>Trần Thanh TùngNguyễn Thành Trí
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201460861710.52852/tcncyh.v201i4.4921Nghiên cứu tác dụng của myo-inositol và các thành phần phối hợp trên mô hình gây vô sinh thực nghiệm trên chuột nhắt cái
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5128
<p class="p1">Vô sinh là một vấn đề sức khỏe ngày càng phổ biến, ảnh hưởng đáng kể đến đời sống xã hội. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng của myo-inositol phối hợp với các chất chống oxy hóa (gọi tắt là S-FEMME) đối với sự phát triển của nang noãn và khả năng sinh sản trên mô hình vô sinh do không rụng trứng gây ra bởi ethinyl estradiol. Chuột nhắt cái chủng <em>Swiss</em> được chia vào các lô: chứng sinh học, mô hình, chứng dương và S-FEMME liều 0,32 g/kg và 0,64 g/kg. Ở lô uống S-FEMME, chu kỳ động dục, nồng độ estrogen huyết thanh và chỉ số khả năng sinh sản cải thiện có ý nghĩa thống kê so với mô hình. Trên mô bệnh học buồng trứng có sự gia tăng các nang noãn đang phát triển và sự xuất hiện của hoàng thể ở các nhóm điều trị. Ngoài ra, S-FEMME liều cao giúp cải thiện rõ rệt các chỉ số sinh sản so với lô mô hình. Kết quả cho thấy S-FEMME có khả năng thúc đẩy phát triển nang noãn và cải thiện khả năng sinh sản, gợi ý tiềm năng ứng dụng như một sản phẩm hỗ trợ sinh sản.</p>Đặng Thị Thu HiênVũ Lan AnhTrần Thanh Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201461862610.52852/tcncyh.v201i4.5128Hiệu quả can thiệp tư vấn dinh dưỡng ở người bệnh Parkinson tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4867
<p class="p1">Suy dinh dưỡng phổ biến ở người bệnh Parkinson và còn gặp nhiều tại Việt Nam, trong khi tư vấn dinh dưỡng chưa được triển khai hệ thống. Nghiên cứu can thiệp bán thực nghiệm không nhóm chứng được thực hiện trên 41 người bệnh Parkinson giai đoạn 1–3 có suy dinh dưỡng hoặc nguy cơ suy dinh dưỡng theo thang MNA. Người bệnh được tư vấn dinh dưỡng cá thể hóa và theo dõi trong 6 tháng. Điểm MNA tăng từ 19,59 ± 3,09 tại T0 lên 21,23 ± 3,18 tại T1 và 20,22 ± 2,87 tại T2 (p < 0,001). Cân nặng, BMI, ADL, IADL và PDQ-8 thay đổi có ý nghĩa thống kê theo thời gian (p < 0,05), trong khi tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm sau 3 tháng nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê. Kết quả cho thấy tư vấn dinh dưỡng cá thể hóa bước đầu cải thiện tình trạng dinh dưỡng và một số chỉ số chức năng ở người bệnh Parkinson.</p>Nguyễn Hồng TrangNguyễn Thanh BìnhĐỗ Thị Thanh ToànVũ Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201462763510.52852/tcncyh.v201i4.4867Bước đầu đánh giá tuân thủ điều trị thuốc bằng thang đo MARS-5 và các yếu tố liên quan ở người bệnh chảy máu não sau xuất viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4869
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang này được thực hiện trên 103 người bệnh chảy máu não tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 10/2024 đến tháng 10/2025 nhằm bước đầu đánh giá tình trạng tuân thủ điều trị thuốc bằng thang đo MARS-5 và các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tổng điểm MARS-5 trung bình là 21,3 ± 3,6; tỷ lệ tuân thủ điều trị là 77,7% (tuân thủ hoàn toàn 36,0%, một phần 41,7%) và tỷ lệ không tuân thủ là 22,3%. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy hai yếu tố liên quan đến tình trạng không tuân thủ: sống một mình (OR = 16,70; KTC 95%: 4,75 - 58,72; p < 0,001) và có thói quen hút thuốc lá (OR = 4,47; KTC 95%: 1,27 - 15,69; p = 0,020). Do thiết kế cắt ngang và cỡ mẫu còn hạn chế, các kết quả này cần được khẳng định lại bằng những nghiên cứu có thiết kế mạnh hơn. Thang đo MARS-5 có thể hữu ích trong phát hiện sớm hành vi không tuân thủ, từ đó gợi ý các can thiệp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và dự phòng tái phát cho người bệnh chảy máu não sau xuất viện.</p>Phạm Kiều Anh ThơLương Thanh ĐiềnTrần Thị Thanh Huyên
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201463664310.52852/tcncyh.v201i4.4869Chương trình Otago ở người cao tuổi đái tháo đường típ 2: Cải thiện vận động và chất lượng sống
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4883
<p class="p1">Thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đánh giá hiệu quả chương trình luyện tập Otago (OEP) ở người cao tuổi mắc đái tháo đường típ 2 (ĐTĐT2) có nguy cơ ngã cao. 65 bệnh nhân ≥ 60 tuổi, nguy cơ ngã (TUG ≥ 12 giây) được phân vào nhóm OEP tập tại nhà 6 tháng có tái khám hàng tháng hoặc nhóm chứng chăm sóc thường quy. TUG được đánh giá tại ban đầu, 3 và 6 tháng; EQ-5D-5L và EQ-VAS (chỉ số chất lượng sống) tại ban đầu và 6 tháng. Có 61 bệnh nhân hoàn thành theo dõi và không ghi nhận biến cố bất lợi nghiêm trọng. Sau 6 tháng, nhóm OEP giảm thời gian TUG -1,99 giây trong khi nhóm chứng tăng +0,24 giây; khác biệt thay đổi giữa hai nhóm -2,23 giây (p = 0,013). EQ-VAS tăng +12,03 điểm ở nhóm OEP và giảm -2,35 điểm ở nhóm chứng; khác biệt 14,39 điểm (p < 0,001). EQ-5D-5L giảm ở cả hai nhóm nhưng suy giảm ít hơn ở nhóm OEP (khác biệt 0,13; p = 0,038). Tỷ lệ tuân thủ > 90%. OEP cải thiện chức năng vận động và chất lượng cuộc sống; cần theo dõi dài hạn để khẳng định hiệu quả.</p>Đinh Trung HòaHà Vũ Huyền LinhNguyễn Ngọc TâmVũ Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201464465310.52852/tcncyh.v201i4.4883Kết quả của tập luyện đối kháng lên tốc độ đi bộ ở người cao tuổi đái tháo đường typ 2 có sarcopenia
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4915
<p class="p1">Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh sự thay đổi tốc độ đi bộ sau can thiệp bằng tập luyện đối kháng trên người bệnh đái tháo đường typ 2 cao tuổi có sarcopenia. Nghiên cứu thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 65 người bệnh đái đường type 2 từ 60 - 80 tuổi, chẩn đoán sarcopenia theo tiêu chuẩn AWGS 2019. Khối cơ được đánh giá bằng điện trở kháng với máy Inbody 770, cơ lực tay được đo bằng máy Jamar TM 5030 J1, cơ lực chi dưới được đánh giá qua test SPPB. Tại thời điểm ban đầu, các đặc điểm chung, lâm sàng, mức độ sarcopenia của 2 nhóm không có sự khác biệt. Sau 3 tháng, các bệnh nhân ở nhóm can thiệp có cải thiện rõ rệt về tốc độ đi bộ 4 m lên tới 0,29 m/giây so với nhóm chứng (p < 0,001). Kết quả cho thấy tập luyện đối kháng giúp cải thiện tốc độ đi bộ có ý nghĩa ở người bệnh đái tháo đường type 2 cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương.</p>Trịnh Ngọc AnhNguyễn Ngọc TâmVũ Thị Thanh Huyền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201465466210.52852/tcncyh.v201i4.4915Thực trạng bệnh sâu răng sữa ở trẻ em 2 - 5 tuổi tại hệ thống Trường Mầm non Lý Thái Tổ Hà Nội năm 2024 - 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4969
<p class="p1">Sâu răng sữa là vấn đề sức khỏe phổ biến toàn cầu, nếu không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng xấu đến chức năng nhai và sự phát triển toàn diện của trẻ em. Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm đánh giá thực trạng và các yếu tố nhân khẩu học đến sâu răng ở trẻ 2 – 5 tuổi tại Trường Mầm non Lý Thái Tổ, Hà Nội, năm học 2024 – 2025. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ mắc sâu răng sữa ở mức cao (63,8%) với chỉ số dmft và dmfs trung bình lần lượt là 3,39 ± 4,20 và 4,36 ± 6,03 (p < 0,05), có xu hướng tăng dần theo độ tuổi, đặc biệt tỷ lệ mắc cao hơn ở nhóm vệ sinh trung bình và kém. Về mức độ tổn thương theo ICCMS™, giai đoạn sớm (ICDAS 1–2) gặp nhiều nhất ở trẻ 4 tuổi (31,8%), trong khi giai đoạn tiến triển (ICDAS ≥ 3) chủ yếu ở trẻ 5 tuổi (51,4%). Tỷ lệ sâu răng cao và tăng theo tuổi phản ánh tính tích lũy của bệnh. Ngoài ra, việc kết hợp ICCMS™ với dmft/dmfs giúp đánh giá toàn diện để kịp thời dự phòng và can thiệp sớm cho trẻ.</p>Hoàng Thu TrangBùi Thị Hồng HạnhĐỗ Hải LongDương Đức LongTrần Thị Mỹ HạnhNguyễn Thị Thu HươngLương Minh Hằng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201466367110.52852/tcncyh.v201i4.4969Tuân thủ sử dụng thuốc và các yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Hoàng Mai, Nghệ An năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5001
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang, mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế thị xã Hoàng Mai năm 2025. Thu nhận số liệu của 523 người bệnh tại Khoa Khám bệnh trong thời gian từ tháng 03/2025 đến tháng 05/2025. Tuân thủ sử dụng thuốc được đánh giá bằng thang đo Morisky Medication Adherence Scale (MMAS-8). Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc là 95,4%, trong đó 75,9% tuân thủ tốt và 19,5% tuân thủ trung bình; 4,6% không tuân thủ. Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu là 41,7%. Người bệnh sử dụng ≥ 2 thuốc có mức tuân thủ cao hơn so với nhóm dùng 1 thuốc (OR = 3,5; KTC 95%: 1,3 – 9,6; p = 0,011). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ sử dụng thuốc với các yếu tố khác. Cần chú trọng tối ưu hóa điều trị và kiểm soát các yếu tố lối sống nhằm cải thiện kiểm soát huyết áp.</p>Hồ Thị Kim ThanhNguyễn Thị ThanhĐỗ Nguyên VũNguyễn Thị Phương Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201467268010.52852/tcncyh.v201i4.5001Trải nghiệm bạo lực tinh thần và các yếu tố liên quan của học sinh tại một số trường trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5017
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 1.420 học sinh tại một số trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025 nhằm mô tả thực trạng bạo lực tinh thần và phân tích một số yếu tố liên quan, bằng bộ công cụ đánh giá bạo lực tinh thần. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh từng trải nghiệm bạo lực tinh thần ở mức cao, chiếm 68,8% với hình thức phổ biến nhất là bị gọi biệt hiệu xấu hoặc bị chế giễu trước đám đông (55,7%). Bạn cùng lớp là đối tượng gây bạo lực chính (64,0%) và không gian lớp học là địa điểm ghi nhận tỷ lệ xảy ra thường xuyên nhất (48,7%). Một số yếu tố liên quan làm tăng trải nghiệm bị bạo lực tinh thần bao gồm môi trường trường học không an toàn là yếu tố tác mạnh mẽ nhất (aOR = 1,85; 95% CI: 1,46 - 2,35), tiếp đến là thời gian ngủ dưới 6 tiếng mỗi ngày(aOR = 1,55; 95% CI: 1,17 - 2,06), sự hỗ trợ của gia đình chưa tốt (aOR = 1,52; 95% CI: 1,15 - 2,00), sự hỗ trợ của thầy cô chưa tốt (aOR = 1,43; 95%CI: 1,01 - 1,87) và có uống rượu bia (aOR = 1,33; 95%CI: 1,03 - 1,75). Mô hình khẳng định môi trường thiếu an toàn vừa tác động trực tiếp, vừa gián tiếp làm suy giảm chất lượng hỗ trợ từ gia đình và thầy cô, từ đó gia tăng tính dễ bị tổn thương của học sinh.</p>Nguyễn Việt QuangNguyễn Thị Quỳnh HoaNguyễn Đức Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201468169310.52852/tcncyh.v201i4.5017Liên quan giữa thói quen răng miệng và chất lượng cuộc sống ở sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5023
<p class="p1">Nghiên cứu cắt ngang phân tích mối liên quan giữa các thói quen răng miệng với chất lượng cuộc sống trên 1121 sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022. Người tham gia nghiên cứu trả lời bộ câu hỏi về các thói quen chăm sóc răng miệng và chỉ số tác động sức khoẻ răng miệng phiên bản tiếng Việt (OHIP – 14 VN).Kết quả cho thấy chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe răng miệng của sinh viên nhìn chung ở mức tốt. Tuy nhiên, ghi nhận được chất lượng cuộc sống kém hơn ở các yếu tố liên quan bao gồm nhóm tuổi 22 - 24 (OR = 1,426), nhóm nữ giới (OR = 1,698), nhóm không khám răng miệng định kỳ (OR = 1,640) và nhóm hút thuốc (OR = 1,625) (p < 0,05). Từ đó cho thấy vai trò của các yếu tố hành vi và gợi ý tiềm năng của các chương trình giáo dục và dự phòng sức khỏe răng miệng trong cộng đồng sinh viên đại học.</p>Phạm Anh Vũ ThụyLê Phú PhongNguyễn Phạm Phi VũLê Tôn BảoTrần Ngọc Lan AnhCao Kim Ngân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201469470310.52852/tcncyh.v201i4.5023Một số yếu tố gia đình liên quan đến trẻ thừa cân, béo phì tại Phòng khám Dinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5121
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả một số yếu tố gia đình ở trẻ thừa cân, béo phì tại Phòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Trung ương. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện từ tháng 6/2024 đến tháng 7/2025 trên 200 trẻ dưới 16 tuổi được chẩn đoán thừa cân, béo phì đơn thuần theo tiêu chuẩn WHO. Kết quả cho thấy trẻ béo phì chiếm 77,5%; trẻ từ 5 tuổi trở lên chiếm 77,5%; trẻ nam chiếm 59,0% và trẻ sống ở nông thôn chiếm 59,5%. Về tiền sử dinh dưỡng, 63,5% trẻ không được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, 74,5% cai sữa từ 24 tháng trở lên và 78,5% bắt đầu ăn dặm từ 6 tháng tuổi trở lên. Về yếu tố gia đình, đa số bà mẹ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên; tỷ lệ bố và mẹ có BMI ≥ 23 kg/m<sup>2</sup> lần lượt là 68,5% và 61,0%. Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi, giới, địa dư với tình trạng thừa cân, béo phì. Tuy nhiên, trình độ học vấn và BMI của mẹ có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng béo phì của trẻ.</p>Đặng Thị Thúy NgaTrần Tiến ĐạtMai Hải YếnNguyễn Thị Thúy Hồng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201470471210.52852/tcncyh.v201i4.5121Thực trạng bị bạo lực học đường và các yếu tố liên quan ở học sinh Trung học Cơ sở tại Hải Dương
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4888
<p class="p1">Bạo lực học đường là vấn đề cấp thiết cần được đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố nguy cơ để bảo vệ học sinh trung học cơ sở. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 400 học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 tại 4 trường trung học cơ sở đại diện cho khu vực thành thị và nông thôn tỉnh Hải Dương từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền. Phân tích số liệu sử dụng thống kê mô tả và mô hình hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh từng bị ít nhất một hình thức bạo lực học đường trong 12 tháng qua là 61,0%. Tỷ lệ học sinh bị bạo lực lời nói chiếm 52,5%, bị bạo lực xã hội chiếm 37,3%, bị bạo lực thể chất chiếm 33,5% và bị bạo lực điện tử chiếm 23,0%. Kết quả phân tích đa biến cho thấy các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê, khiến học sinh có nguy cơ bị bạo lực học đường cao hơn là có ý định tự tử (OR = 5,6), cảm thấy cô đơn (OR = 2,1) và có mâu thuẫn với anh chị em ruột (OR = 2,3). Ngược lại, việc tâm sự với người thân (OR = 0,5) và thuộc gia đình có kinh tế trung bình (OR = 0,2) hoặc nghèo hơn (OR = 0,3) là những yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê khiến học sinh có nguy cơ bị bạo lực học đường thấp hơn. Cần triển khai các giải pháp can thiệp đa chiều, không chỉ chú trọng sàng lọc sức khỏe tinh thần sớm mà còn phải trang bị kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, tăng cường vai trò hỗ trợ của thầy cô giáo và sự gắn kết, chia sẻ trong gia đình.</p>Lê Thị Ngọc AnhĐặng Thị Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201471372410.52852/tcncyh.v201i4.4888Kết quả học tập của sinh viên ngành y khoa theo các phương thức tuyển sinh tại Trường Đại học Y Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4882
<p class="p1">Tuyển sinh đại học ngày càng áp dụng nhiều hình thức nhằm đảm bảo chất lượng đầu vào, việc đánh giá mối liên quan giữa phương thức tuyển sinh với kết quả học tập cần thiết cho việc xây dựng chính sách tuyển sinh hiệu quả và nâng cao chất lượng đào tạo. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả học tập của sinh viên ngành Y khoa theo các phương thức tuyển sinh tại Trường Đại học Y Hà Nội giai đoạn 2021 – 2022. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu được thực hiện trên 796 sinh viên đang theo học. Kết quả cho thấy phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm tỷ trọng lớn nhất (71,48%). Năm 2021, sinh viên xét tuyển kết hợp chứng chỉ ngoại ngữ có điểm trung bình năm nhất cao nhất (8,01/10). Ở cả hai khoá, sinh viên xét tuyển thẳng có kết quả học tập tốt nhất trong ba phương thức (lần lượt là: 7,86 và 8,19). Kết luận, phương thức tuyển sinh là yếu tố dự báo kết quả học tập của sinh viên ngành y khoa tại Trường Đại học Y Hà Nội.</p>Lê Đình TùngNguyễn Thị BìnhĐỗ Thanh HươngLê Lan HươngNguyễn Thị Thuỳ LinhNguyễn Trường SơnTrần Thanh TùngTrần Thị Hương LanVũ Nam KhánhNguyễn Ngọc Sơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201472573310.52852/tcncyh.v201i4.4882Kết quả tối ưu hóa chi phí trong quản lý tăng huyết áp ngoại trú: Bằng chứng từ thực hành tuyến cơ sở
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4893
<p class="p1">Nghiên cứu hồi cứu trước–sau trên 140 bệnh nhân tăng huyết áp (THA) tại Trung tâm Y tế Quận 3 nhằm đánh giá sự thay đổi chi phí điều trị trước và sau can thiệp tối ưu hóa quản lý ngoại trú. Dữ liệu chi phí được trích xuất từ hồ sơ bệnh án và bảng kê thanh toán bảo hiểm y tế, phân tích bằng mô hình Generalized Estimating Equations (GEE) phân phối Gamma với phần mềm R 4.5.0. Sau can thiệp, tổng chi phí trực tiếp trung vị giảm từ 538.680 (348.110 – 721.197) đồng xuống 209.176 (166.224 – 421.332) đồng và chi phí trung bình/ngày giảm từ 17.958 (11.623 – 24.471) đồng trước can thiệp xuống 6.973 (5.541 – 14.044) đồng (p < 0,001). Chi phí do bảo hiểm y tế thanh toán giảm rõ rệt, trong khi phần người bệnh cùng chi trả không thay đổi đáng kể. Mô hình GEE cho thấy thời điểm sau can thiệp, mức chi phí thấp hơn 45 phần trăm so với trước can thiệp, BMI và uống rượu liên quan với chi phí cao hơn. Kết quả cung cấp bằng chứng thực tiễn cho quản lý chi phí THA tại tuyến cơ sở.</p>Trương Cẩm BìnhVũ Tiến DũngĐỗ Châu Minh Vĩnh Thọ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201473474210.52852/tcncyh.v201i4.4893Giá trị, độ tin cậy của bộ câu hỏi khảo sát kiến thức của người chăm sóc trẻ về hen phế quản
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4891
<p class="p1">Hen phế quản là bệnh mạn tính phổ biến ở trẻ em, nhưng hiện nay còn thiếu công cụ đo lường kiến thức về hen chuyên biệt dành cho người chăm sóc. Nghiên cứu nhằm phát triển và đánh giá tính giá trị, độ tin cậy của bộ câu hỏi khảo sát kiến thức hen phế quản tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Công cụ được phát triển dựa trên bộ câu hỏi gốc kết hợp các hướng dẫn chuyên môn, sau đó được thẩm định giá trị nội dung bởi hội đồng 6 chuyên gia thông qua các chỉ số I-CVI, S-CVI/Ave và S-CVI/UA và đánh giá độ tin cậy qua nghiên cứu thử nghiệm (n = 30) và nghiên cứu chính thức (n = 88) bằng hệ số KR-20 và Split-Half. Bộ câu hỏi chính thức gồm 30 mục dạng nhị phân, bao quát 5 lĩnh vực kiến thức. Kết quả cho thấy tính giá trị nội dung cao (I-CVI ≥ 0,83; S-CVI/Ave = 0,99; S-CVI/UA = 0,96) và độ tin cậy tốt (KR-20: 0,81 – 0,84; Split-Half: 0,78 – 0,84; p < 0,05). Công cụ có thể được tiếp tục hoàn thiện nhằm sử dụng trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng nhi khoa.</p>Đỗ Thị HàVũ Ngọc Thảo Vy
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201474375210.52852/tcncyh.v201i4.4891Các yếu tố liên quan đến hành vi tự sát ở người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực giai đoạn trầm cảm
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4960
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 108 người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực giai đoạn trầm cảm nhằm xác định các yếu tố liên quan đến hành vi tự sát. Kết quả cho thấy 39,8% người bệnh có hành vi tự sát, trong đó 24,1% có ý tưởng tự sát và 15,7% có toan tự sát. Hành vi tự sát thường gặp hơn ở nhóm người bệnh trẻ tuổi, có thời gian mắc bệnh ≤ 3 năm, không tuân thủ điều trị và có tiền sử có hành vi tự sát. Các triệu chứng trầm cảm như cảm giác bị tội, mất hứng thú và nhìn tương lai ảm đạm làm tăng đáng kể nguy cơ tự sát. Phân tích hồi quy logistic đa biến xác định ba yếu tố liên quan độc lập gồm thời gian mắc bệnh ngắn, tiền sử có hành vi tự sát và triệu chứng nhìn tương lai ảm đạm. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nhận diện sớm và can thiệp tích cực trong giai đoạn đầu của bệnh có vai trò quan trọng trong giảm nguy cơ tự sát ở người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực.</p>Lê Thị Thu HàPhùng Quang Việt
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201475376010.52852/tcncyh.v201i4.4960Thực trạng kiến thức và thực hành lối sống phòng, chống tăng huyết áp của người dân tại Thành phố Hà Nội
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4967
<p class="p1">Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành lối sống phòng, chống tăng huyết áp của người dân từ 18 - 69 tuổi tại Hà Nội năm 2023. Tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 516 người dân. Kết quả cho thấy 52,5% đối tượng có điểm kiến thức ở mức rất thấp, chỉ 3,3% đạt mức khá. Về thực hành, có 27,1% đối tượng đạt mức thực hành tốt. Nữ giới có khả năng thực hành tốt cao gấp 2,3 lần so với nam giới (95% CI: 1,5 – 3,6) và nhóm đối tượng có học vấn từ trung học phổ thông trở lên có khả năng thực hành tốt cao gấp 1,7 lần nhóm học vấn thấp (95% CI: 1,1 – 2,8). Kết quả nghiên cứu cho thấy cần đẩy mạnh các can thiệp truyền thông cá thể hóa, đặc biệt tập trung vào nam giới và nhóm người có trình độ học vấn thấp.</p>Nguyễn Kim TuyênNguyễn Phương HoaBùi Thị Minh Thái
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201476177010.52852/tcncyh.v201i4.4967Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến thời gian điều trị viêm tiểu phế quản cấp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4966
<p class="p1">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 170 bệnh nhân viêm tiểu phế quản cấp tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ từ 08/2023 đến 07/2025. Kết quả cho thấy tần suất nhập viện do viêm tiểu phế quản gia tăng vào mùa mưa, cao nhất là tháng 8 với 28 bệnh nhân chiếm 16,4%. Tỷ số nam:nữ là 1,42:1; nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (58,8%). Ho, khò khè, thở nhanh, rút lõm ngực, không sốt và bú kém là các triệu chứng thường gặp ở trẻ viêm tiểu phế quản. Xét nghiệm máu thấy hầu hết số lượng bạch cầu trong giới hạn bình thường và chụp X-quang phổi đa số có hình ảnh ứ khí đơn thuần. Mức độ bệnh nặng khi vào viện (PR = 3,20; KTC 95%: 1,00 - 8,99), suy dinh dưỡng (PR = 4,44; KTC 95%: 1,56 - 12,40) và điều trị corticoid (PR = 3,17; KTC 95%: 1,14 - 9,05) là các yếu tố liên quan đến thời gian điều trị nội trú kéo dài trên 10 ngày (p < 0,05).</p>Phạm Bảo ToànĐoàn Dương Chí ThiệnNguyễn Tấn Nhật Minh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201477177910.52852/tcncyh.v201i4.4966Báo cáo ca bệnh: Ngưng trưởng thành noãn hoàn toàn giai đoạn metaphase I
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4880
<p class="p1">Sự ngưng trưởng thành noãn (OMA – oocyte maturation arrest) có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn khác nhau của chu kì tế bào dẫn đến thất bại thụ tinh. Hiện tượng này khá hiếm gặp trong các chu kì hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp IUI (Intrauterine Insemination)/IVF(In vitro fertilization)/ICSI(Intra Cytoplasmic Sperm Injection). Một số biểu hiện hay gặp ở các bệnh nhân vô sinh do ngưng trưởng thành noãn: vô sinh nguyên phát, thời gian vô sinh kéo dài, tình trạng noãn ngưng trưởng thành lặp đi lặp (thường ≥ 2 chu kì), ít đáp ứng với các biện pháp trưởng thành noãn trong ống nghiệm (rescue-ICSI, IVM (In vitro maturation)). Giải trình tự gen WES (Whole exome sequencing) nên làm để tìm nguyên nhân di truyền, tư vấn và lựa chọn điều trị tiếp theo. Chúng tôi báo cáo ca bệnh đầu tiên quan sát được hiện tượng ngưng trưởng thành noãn kiểu hình ngưng MI hoàn toàn tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung ương với mục đích xác định kiểu hình noãn, mô tả đặc điểm lâm sàng gợi ý chẩn đoán OMA, các chẩn đoán loại trừ giống-OMA từ đó đưa ra lựa chọn tư vấn, điều trị tiếp theo.</p>Đặng Thu HằngHồ Thị HàKiều Mạnh HùngNgô Thị Hải YếnChu Thị Ly
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201478078810.52852/tcncyh.v201i4.4880Nấm móng chân do Scopulariopsis brevicaulis giảm nhạy cảm với nhóm azole: Báo cáo một trường hợp lâm sàng hiếm gặp
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4928
<p class="p1"><em><span class="s1">Scopulariopsis brevicaulis</span> </em>là một loài nấm mốc, không phải nấm sợi (dermatophyte) có thể gây nấm móng, thường khó chẩn đoán cũng như điều trị. Chúng tôi báo cáo một trường hợp nấm móng do <em>S. brevicaulis</em> ở móng ngón chân cái bên phải ở bệnh nhân nữ 25 tuổi đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội. Từ mẫu móng tổn thương, <em>S. brevicaulis</em> đã được phân lập với khuẩn lạc đặc trưng dạng bột màu nâu khi nuôi cấy trên môi trường Sabouraud dextrose và kết hợp định danh loài được xác nhận bằng giải trình tự vùng ITS (internal transcribed spacer). Quan sát dưới kính hiển vi quang học cho thấy các sợi nấm phân nhánh với chuỗi bào tử hình cầu, vách dày. Thử nghiệm độ nhạy kháng nấm in vitro cho thấy chủng nấm có nồng độ ức chế tối thiểu (minimum inhibitory concentrations, MICs) cao đối với nhiều thuốc nhóm azole. Trường hợp này nhấn mạnh vai trò gây bệnh và xu hướng giảm nhạy cảm với nhóm azole của <em>S. brevicaulis</em> trong nấm móng cũng như sự cần thiết kết hợp soi, nuôi cấy và sinh học phân tử để chẩn đoán chính xác và lựa chọn điều trị hiệu quả.</p>Nguyễn Minh QuangLê Đức MinhNguyễn Thế VỹPhạm Bích NgọcNguyễn Thị Thu ThuỷTrần Cẩm Vân
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201478979510.52852/tcncyh.v201i4.4928Điều trị vô sinh ở bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung giai đoạn sớm: Ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4950
<p class="p1">Bệnh nhân ung thư niêm mạc tử cung giai đoạn sớm có vô sinh là một trong những thách thức của ngành hỗ trợ sinh sản. Trong những năm gần đây, nhu cầu bảo tồn khả năng sinh sản ở những phụ nữ trẻ mắc ung thư niêm mạc tử cung giai đoạn sớm (giai đoạn IA) ngày càng gia tăng. Sự phát triển của y học hiện đại đã mở ra hướng đi mới thông qua các phác đồ điều trị nội khoa bằng progestin kết hợp với các kỹ thuật can thiệp ít xâm lấn. Điều trị thành công bệnh nhân vô sinh có ung thư niêm mạc tử cung giai đoạn sớm đã bảo tồn tử cung đã giúp cho bệnh nhân vừa chiến thắng bệnh tật vừa có cơ hội làm mẹ, cũng như giúp khẳng định chiến lược cá thể hoá điều trị bệnh trong hỗ trợ sinh sản là hiệu quả và an toàn, tăng tỷ lệ thai sinh sống.</p>Nguyễn Thị XuyếnNguyễn Ngọc Chiến Nguyễn Thị Cẩm VânLê Thị Như NguyệtPhạm Bá NhaLê Quang Vinh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201479680210.52852/tcncyh.v201i4.4950Báo cáo ca lâm sàng thoát vị thắt lưng hai bên không đối xứng và điểm lại y văn
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5076
<p class="p1">Thoát vị thắt lưng là bệnh lý hiếm gặp. Việc xuất hiện đồng thời thoát vị thắt lưng trên (Grynfeltt) và dưới (Petit) không đối xứng ở cùng một bệnh nhân là cực kỳ hy hữu. Chúng tôi báo cáo ca lâm sàng nữ, 68 tuổi, tiền sử viêm đa khớp, tăng huyết áp, đặt stent động mạch vành và Hội chứng cushing. Chụp cắt lớp vi tính xác định ngoài khối thoát vị thắt lưng trên bên trái còn phối hợp đồng thời thoát vị thắt lưng dưới bên phải. Bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật nội soi hoàn toàn ngoài phúc mạc (eTEP). Phẫu thuật diễn ra thuận lợi trong 75 phút. Lưới nhân tạo được đặt để che phủ toàn bộ lỗ thoát vị bên trái sau khi đã giải phóng tạng thoát vị và khâu kín cổ bao. Hậu phẫu ổn định, bệnh nhân ra viện sau 7 ngày và không tái phát sau 1 tháng. Kỹ thuật eTEP là giải pháp can thiệp ít xâm lấn, an toàn và hiệu quả, giúp phục hồi vững chắc thành bụng cho các trường hợp thoát vị thắt lưng phức tạp.</p>Trần Văn VinhĐỗ Thị Minh Hiền
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201480380910.52852/tcncyh.v201i4.5076Báo cáo chùm ca bệnh: Điều trị rituximab ở bệnh nhân tan máu tự miễn kháng trị
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5124
<p class="p1">Chúng tôi báo cáo kết quả điều trị Rituximab bước đầu ở 6 bệnh nhân tan máu tự miễn (autoimmune hemolytic anemia -AIHA) nguyên phát kháng trị tại Viện Huyết Học Truyền Máu TW giai đoạn 2023 - 2024. Với thời gian theo dõi sau điều trị trung bình 13,9 tháng, tỷ lệ đáp ứng chung là 66,7% (CR 50%, PR 16,7%). Các bệnh nhân cải thiện tốt chỉ số huyết sắc tố, giảm rõ rệt lượng máu truyền, ít gặp tác dụng phụ. Khuyến nghị áp dụng Rituximab trong điều trị AIHA kháng trị trên số lượng bệnh nhân lớn hơn và thời gian theo dõi lâu dài hơn để đánh giá đầy đủ hiệu quả của thuốc.</p>Nguyễn Thị ThảoPhan Quang HòaNguyễn Duy ChứcĐặng Sinh HuyLê Thị Thanh TâmTrần Thị Kiều My
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201481081610.52852/tcncyh.v201i4.5124Ứng dụng kết hợp CERAB – chimney tái tạo ngã ba động mạch chủ trong tắc mạn chủ – chậu sát động mạch thận: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4828
<p class="p1">Can thiệp nội mạch tái tạo ngã ba động mạch chủ bằng kỹ thuật tái tạo ngã ba động mạch chủ bằng stent có phủ (CERAB) kết hợp chimney là lựa chọn ít xâm lấn, cho phép tái thông và bảo tồn động mạch thận trong một số trường hợp tắc mạn tính động mạch chủ chậu TASC II nhóm D lan cao. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nữ 54 tuổi, nhập viện vì đau cách hồi nặng kèm đau khi nghỉ hai chi dưới, Rutherford độ 4. Chụp CT-angiography cho thấy tắc hoàn toàn mạn tính động mạch chủ bụng ngay dưới động mạch thận phải lan xuống động mạch chậu hai bên, kèm tắc động mạch thận trái và thận trái teo, chức năng thận suy giảm với eGFR 35 mL/phút/1,73 m². Bệnh nhân được can thiệp nội mạch bằng kỹ thuật CERAB kết hợp đặt stent chimney bảo tồn động mạch thận phải, đạt thành công kỹ thuật và huyết động, cải thiện rõ triệu chứng thiếu máu chi và chức năng thận với eGFR tăng lên 45 mL/phút/1,73 m² sau 1 tuần theo dõi. Kết quả cho thấy CERAB kết hợp chimney là phương pháp khả thi và hiệu quả trong điều trị tắc mạn tính động mạch chủ chậu phức tạp, đồng thời góp phần bảo tồn chức năng thận.</p>Nguyễn Duy TânLâm Thảo Cường
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201481782410.52852/tcncyh.v201i4.4828Báo cáo ca bệnh hiếm gặp áp dụng phẫu thuật nối ống ngực vào tĩnh mạch không dùng chỉ khâu điều trị tràn dịch dưỡng chấp ổ bụng do tắc ống ngực bẩm sinh
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4843
<p class="p1">Tràn dịch dưỡng chấp ổ bụng là tình trạng hiếm gặp do rò rỉ hoặc tắc nghẽn hệ bạch huyết, dẫn đến tụ dịch bạch huyết trong khoang phúc mạc. Tắc ống ngực bẩm sinh là nguyên nhân rất hiếm, biểu hiện bằng phù bạch huyết, tràn dịch dưỡng chấp và hội chứng mất protein qua ruột gây giảm albumin máu kéo dài. Chúng tôi báo cáo trường hợp trẻ nữ 20 tháng tuổi nhập viện vì tràn dịch dưỡng chấp, giảm albumin máu dai dẳng, nhiễm khuẩn tái diễn và suy dinh dưỡng nặng. Cộng hưởng từ và chụp hệ bạch mạch cho thấy ống ngực giãn lớn và tắc hoàn toàn tại vị trí đổ vào hợp lưu tĩnh mạch cảnh trong – dưới đòn phải. Sau khi thất bại với các biện pháp điều trị nội khoa tối ưu gồm chế độ ăn đặc hiệu, truyền octreotide, sirolimus, bệnh nhân được phẫu thuật nối ống ngực vào tĩnh mạch không dùng chỉ khâu mang lại hiệu quả giảm nhanh lượng dịch ổ bụng, phục hồi dần albumin máu và không có biến chứng cho thấy đây là lựa chọn khả thi và hiệu quả trong trường hợp này.</p>Vũ Hải YếnCao Việt TùngLê Đình CôngNguyễn Lý Thịnh TrườngĐặng Thúy HàNguyễn LợiNguyễn Thị Ngọc HồngĐỗ Thị Minh PhươngNguyễn Văn TìnhHoàng Ngọc ThạchNguyễn Ngọc CươngNguyễn Thị Thùy TrangNguyễn Thị Việt Hà
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201482583210.52852/tcncyh.v201i4.4843Điều trị chen chúc răng bằng khay trong suốt sản xuất tại phòng khám: Báo cáo ca lâm sàng
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/4860
<p class="p1">Chỉnh nha bằng khay trong suốt sản xuất tại phòng khám (in-house clear aligners) ngày càng được ứng dụng nhiều nhờ tính thẩm mỹ và khả năng chủ động trong kế hoạch điều trị. Bài báo cáo ca lâm sàng này tập trung vào hiệu quả của phương pháp niềng răng trong suốt in gián tiếp tại phòng khám trong trường hợp chen chúc răng mức độ trung bình. Bệnh nhân nữ 34 tuổi đến khám vì chen chúc vùng răng cửa. Khám lâm sàng cho thấy tương quan xương và răng hạng I, thiếu khoảng hàm trên 4mm, hàm dưới 6 mm. Bệnh nhân được điều trị bằng hệ thống khay trong suốt sản xuất tại phòng khám, sau 12 tháng điều trị, tình trạng chen chúc được cải thiện rõ rệt, tương quan khớp cắn và thẩm mỹ hài hòa hơn. Bài báo này cung cấp cho các bác sĩ một công cụ có giá trị để giải quyết hiệu quả các trường hợp chen chúc răng mức độ nhẹ đến trung bình và đáp ứng được nhu cầu về thẩm mỹ của bệnh nhân.</p>Phạm Minh ThảoLê Thị LoanĐỗ Thuý HằngPhạm Thanh Hải
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201483384310.52852/tcncyh.v201i4.4860Đặc điểm điện sinh lý và kết quả triệt đốt cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất bằng sóng có tần số radio tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025
https://tapchinghiencuuyhoc.vn/index.php/tcncyh/article/view/5231
<p class="p1">Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất (Paroxysmal Supraventricular Tachycardia - PSVT) là rối loạn nhịp tim thường gặp, gây nhiều triệu chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và có thể dẫn đến biến chứng tim mạch nếu kéo dài, trong đó nhịp nhanh vào lại nút nhĩ thất (AVNRT) và nhịp nhanh vào lại nhĩ thất (AVRT) là các cơ chế phổ biến nhất. Có 123 bệnh nhân được chẩn đoán cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, có chỉ định điều trị triệt đốt qua đường ống thông bằng năng lượng sóng có tần số radio theo khuyến cáo của Hội Nhịp tim châu Âu 2019, tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1 năm 2025 đến tháng 12 năm 2025, tiến hành nghiên cứu theo phương pháp mô tả có theo dõi dọc. Độ tuổi trung bình nhóm nghiên cứu: 50,67 ± 16,11 tuổi, nữ giới chiếm ưu thế và đa số không có bệnh tim mạch đồng mắc. AVNRT thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi, AVRT gặp nhiều ở người trẻ, trong khi tim nhanh nhĩ phân bố tuổi tương đối đồng đều; đường phụ bên trái gặp nhiều hơn và vị trí khởi phát tim nhanh nhĩ (AT) thường gặp nhất gần lỗ xoang vành. Tỷ lệ thành công của thủ thuật đạt 97,6%, các biến chứng chủ yếu nhẹ như tụ máu tại chỗ chọc mạch và cường phế vị, không ghi nhận biến chứng nặng.</p>Phan Đình PhongTrần Tuấn ViệtNguyễn Duy ThắngĐặng Việt PhongNguyễn Hoàng AnhLê Cao KhánhBùi Văn Nhơn
Copyright (c) 2026 Tạp chí Nghiên cứu Y học
2026-05-062026-05-06201484485410.52852/tcncyh.v201i4.5231