Tình trạng vận động, sinh hoạt hàng ngày và một số yếu tố liên quan ở người bệnh xẹp đốt sống có loãng xương
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 người bệnh xẹp đốt sống có loãng xương (T-score ≤ −2,5) tại Phòng khám Cột sống, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (01-08/2025), đánh giá bằng Barthel Index và Lawton IADL; hồi quy tuyến tính xác định yếu tố liên quan độc lập. Tuổi trung bình 69,97 ± 8,11 tuổi; nữ chiếm 92,0%. Barthel Index trung bình 82,63 ± 16,95; 80,5% phụ thuộc ở các mức độ khác nhau; dịch chuyển (77,5%), lên xuống cầu thang (66,5%) và di chuyển trên mặt bằng (52,0%) bị ảnh hưởng nhiều nhất. Lawton IADL trung bình 5,85 ± 2,07; 66,0% suy giảm; dọn dẹp nhà cửa (69,0%), đi lại (68,0%) và giặt giũ (67,5%) bị ảnh hưởng nhiều nhất. Tuổi, BMI và điểm VAS là yếu tố liên quan độc lập với Barthel Index (R² = 0,660); tuổi, điểm VAS và số đốt sống xẹp là yếu tố liên quan độc lập với Lawton IADL (R² = 0,548). Mức độ đau là yếu tố liên quan mạnh nhất với cả hai thang điểm; kiểm soát đau và đánh giá chức năng sớm cần ưu tiên trong thực hành điều dưỡng.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Xẹp đốt sống, loãng xương, Barthel Index, Lawton IADL, yếu tố liên quan
Tài liệu tham khảo
2. Silverman SL. The clinical consequences of vertebral compression fracture. Bone. 1992; 13(Suppl 2): S27-S31.
3. Mahoney FI, Barthel DW. Functional evaluation: the Barthel Index. Md State Med J. 1965;14:61-65.
4. Lawton MP, Brody EM. Assessment of older people: self-maintaining and instrumental activities of daily living. Gerontologist. 1969; 9(3): 179-186.
5. Hoàng Đình Doãn, Phạm Hồng Đức, Phạm Hữu Khuyên, và cs. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của tổn thương xẹp thân đốt sống lành tính do loãng xương. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108. 2024; 19(3): 46-52.
6. Trần Quang Vinh, Trần Lưu Tuấn, Trần Ngọc Đông, và cs. Khảo sát đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ 65 bệnh nhân xẹp đốt sống do loãng xương tại BV Quân y 110. Tạp chí Y học Quân sự. 2023; 366: 110-115.
7. Genant HK, Wu CY, van Kuijk C, Nevitt MC. Vertebral fracture assessment using a semiquantitative technique. J Bone Miner Res. 1993; 8(9): 1137-1148.
8. Green SB. How many subjects does it take to do a regression analysis? Multivariate Behav Res. 1991; 26(3): 499-510. doi:10.1207/s15327906mbr2603_7.
9. Trịnh Ngọc Anh, Trần Viết Lực, Nguyễn Ngọc Tâm, và cs. Các hội chứng lão khoa và bệnh đồng mắc ở người loãng xương cao tuổi. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023; 526(2): 88-93.
10. Hoyt BW, Pavey GJ, Doberstein ST, Barfield WR. Factors affecting activities of daily living in patients with vertebral compression fractures. Spine. 2018; 43(14): E826-E831.
11. Pinheiro MB, Oliveira J, Bauman A, et al. Evidence on physical activity and osteoporosis prevention for people aged 65+ years: a systematic review. Int J Behav Nutr Phys Act. 2020; 17(1): 150.
12. Al-Sari UA, Tobias JH, Clark EM. Self-reported everyday physical activities in older people with osteoporotic vertebral fractures: a systematic review and meta-analysis. Osteoporos Int. 2018; 29(1): 19-29.
13. Suzuki N, Ogikubo O, Hansson T. The prognosis for pain, disability, activities of daily living and quality of life after an acute osteoporotic vertebral body fracture. Eur Spine J. 2009; 18(1): 77-88.
14. Cashman KD. Diet, nutrition, and bone health. J Nutr. 2007; 137(11 Suppl): 2507S-2512S.
15. Funayama T, Tatsumura M, Fujii K, et al. Exploring factors affecting activities of daily living in patients with osteoporotic vertebral fractures managed conservatively. Asian Spine J. 2024; 18(4): 570-578.
16. Ikeda T, Suzuki T, Takagi M, et al. Effect of early rehabilitation treatment on activities of daily living in patients receiving conservative treatment for vertebral compression fracture. Prog Rehabil Med. 2021; 6: 20210049.