Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cộng hưởng từ của phổ bệnh viêm tủy thị thần kinh và bệnh lý liên quan tới kháng thể kháng MOG
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 42 trường hợp phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD) dương tính với AQP4-IgG và 8 trường hợp bệnh lý liên quan đến kháng thể MOG (MOGAD) dương tính với MOG-IgG tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, nhằm so sánh đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giữa hai nhóm. NMOSD có tỷ lệ nữ cao hơn (95,2% so với 62,5%) và tuổi khởi phát lớn hơn (44,9 so với 27,9 tuổi). Điểm EDSS (The Expanded Disability Status Scale – Thang điểm đánh giá mức độ tàn tật mở rộng) trung bình cao hơn ở nhóm NMOSD (3,6 so với 2,8). Viêm thần kinh thị hai mắt đồng thời gặp nhiều hơn ở MOGAD (50% so với 7,1%), trong khi hội chứng sàn não thất IV chỉ gặp ở NMOSD. Trên MRI, NMOSD có tỷ lệ tổn thương tủy sống lan rộng (Longitudinally Extensive Transverse Myelitis - LETM) cao hơn (58,5% so với 12,5%), kèm “bright spotty lesion” (ổ tăng tín hiệu dạng đốm sáng), tổn thương chất trắng quanh não thất và thân não. Ngược lại, MOGAD có xu hướng ưu thế tổn thương đoạn trước củathần kinh thị và bắt thuốc quanh bao (25% so với 2,4%). NMOSD và MOGAD có những khác biệt về đặc điểm lâm sàng và MRI, giúp định hướng chẩn đoán phân biệt trong thực hành.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
NMOSD, MOGAD, Aquaporin-4, Kháng thể MOG, MRI, viêm thị thần kinh
Tài liệu tham khảo
2. Wingerchuk DM, Hogancamp WF, O’Brien PC, Weinshenker BG. The clinical course of neuromyelitis optica (Devic’s syndrome). Neurology. 1999;53(5):1107-1107. doi:10.1212/WNL.53.5.1107
3. Moheb N, Chen JJ. The neuro-ophthalmological manifestations of NMOSD and MOGAD-a comprehensive review. Eye. 2023;37(12):2391-2398. doi:10.1038/s41433-023-02477-0
4. Kim HJ, Paul F, Lana-Peixoto MA, et al. MRI characteristics of neuromyelitis optica spectrum disorder: An international update. Neurology. 2015;84(11):1165-1173. doi:10.1212/WNL.0000000000001367
5. Hor JY, Asgari N, Nakashima I, et al. Epidemiology of Neuromyelitis Optica Spectrum Disorder and Its Prevalence and Incidence Worldwide. Front Neurol. 2020;11:501. doi:10.3389/fneur.2020.00501
6. Nguyễn Văn Tuận, Nguyễn Văn Sỹ. Đặc điểm lâm sàng của phổ bệnh viêm tủy thị thần kinh. Tạp chí Thần kinh học Việt Nam. 2022;520(1A). doi:10.51298/vmj.v520i1.3778
7. Wingerchuk DM. Neuromyelitis optica: Effect of gender. J Neurol Sci. 2009;286(1-2):18-23. doi:10.1016/j.jns.2009.08.045
8. Al-Ani A, Chen JJ, Costello F. Myelin oligodendrocyte glycoprotein antibody-associated disease (MOGAD): current understanding and challenges. J Neurol. 2023;270(8):4132-4150. doi:10.1007/s00415-023-11737-8
9. Uzawa A, Oertel FC, Mori M, Paul F, Kuwabara S. NMOSD and MOGAD: an evolving disease spectrum. Nat Rev Neurol. 2024;20(10):602-619. doi:10.1038/s41582-024-01014-1
10. Wingerchuk DM, Lennon VA, Lucchinetti CF, Pittock SJ, Weinshenker BG. The spectrum of neuromyelitis optica. The Lancet Neurology 6.9 (2007): 805-815.
11. Ciccarelli O, Cohen JA, Reingold SC, et al. Spinal cord involvement in multiple sclerosis and neuromyelitis optica spectrum disorders. Lancet Neurol. 2019;18(2):185-197. doi:10.1016/S1474-4422(18)30460-5
12. Wingerchuk DM, Banwell B, Bennett JL, et al. International consensus diagnostic criteria for neuromyelitis optica spectrum disorders. Neurology. 2015;85(2):177-189. doi:10.1212/WNL.0000000000001729
13. O’Riordan JI, Gallagher HL, Thompson AJ, et al. Clinical, CSF, and MRI findings in Devic’s neuromyelitis optica. J Neurol Neurosurg Psychiatry. 1996;60(4):382-387. doi:10.1136/jnnp.60.4.382